NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH NHIẾP ẢNH
CHƯƠNG I: TẠO HÌNH NGHỆ THUẬT
I. Một số khái niệm và thuật ngữ
1.1. Nghệ thuật, khái niệm về nghệ thuật
Nghệ thuật theo nghĩa rộng là để chỉ những hoạt động của con người đã
đạt đến trình độ điêu luyện, khéo léo, tinh xảo.
Ví dụ: Người ta có thể nói: “Một cú sút bóng rất nghệ thuật”, “Một
cách bày biện rất nghệ thuật” Như vậy, trong nghĩa này nghệ thuật đồng
nghĩa với một tài nghệ nào đó của con người.
Nghệ thuật với nghĩa thứ hai, hẹp hơn - dùng để chỉ một loại hoạt động
của con người nhằm sáng tạo ra những sản phẩm vừa có ý nghĩa thực dụng,
vừa có khả năng làm đẹp cho đời, nó đem lại những xúc cảm thẩm mỹ nhất
định. Đó là công việc sáng tạo của những người làm đồ thủ công mỹ nghệ,
công việc của người thiết kế thời trang Họ được coi là những “nghệ sỹ”
sáng tác theo nguyên tắc của cái đẹp.
Trong thẩm mỹ học và lý luận văn học, cụm từ nghệ thuật được dùng
để chỉ một hoạt động sáng tạo mang tính đặc thù. Đây là một lĩnh vực rất đa
dạng, được biểu hiện qua nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như Hội hoạ,
Đồ hoạ, Điêu khắc, Nghệ thuật sân khấu, Nghệ thuật múa, Điện ảnh, Âm nhạc
v.v Đó cũng là nghĩa hẹp nhất của cụm từ nghệ thuật.
1.2. Mỹ thuật
Mỹ thuật là cụm từ dùng để chỉ những loại hình nghệ thuật có quan hệ
đến sự thụ cảm bằng mắt, và sự tạo thành các hình tượng lấy từ thế giới vật
chất bên ngoài để đưa lên mặt phẳng gỗ, giấy, vải, trên tường hoặc trong
một môi trường không gian nào đấy như trong nhà, ngoài trời.
1
Bàn đến ngôn ngữ mỹ thuật, người ta thường quan tâm đến các yếu tố:
Đường nét, màu sắc, hình khối, sự sắp xếp bố cục, nhịp điệu Mỗi loại hình
đó đều có cách biểu hiện khác nhau - tuỳ thuộc vào đặc trưng ngôn ngữ của
mỗi loại hình đó.
Ví dụ: Hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc
ngôn ngữ như nhiều bộ môn nghệ thuật tạo hình khác. Đó là hình khối, đường
nét, màu sắc nhưng do đặc trưng riêng biệt của điêu khắc nên các yếu tố này
chỉ được khái thác ở những góc độ khác với hội hoạ và đồ hoạ (khối lồi, khối
lõm, khối cứng, khối mềm, khối đóng, khối mở, khối tĩnh, khối động ). Mỗi
cách sáng tạo khối đưa lại cảm giác khác nhau: Khối lõm, khối mềm, khối mở
gây cảm giác động và ngược lại, khối lồi, khối cứng và khối đóng gây cảm
giác tĩnh.
Trong điêu khắc, khối hình là có thực, nó tồn tại trong không gian ba
chiều: ta hoàn toàn có thể cảm nhận nó bằng súc giác, có thể đi xung quanh và
nhận ra sự biến động phong phú của nó qua mỗi hướng nhìn. Đây cũng là đặc
trưng cơ bản nhất của điêu khắc.
1.3. Khái niệm về tạo hình
1.3.1. Tạo hình nghệ thuật (nói chung)
Ngay từ thế kỷ XVIII, con người đã tìm ra các phương pháp dùng màu
sắc đậm nhạt, sáng tối hoặc bằng đường nét kết hợp với màu sắc để diễn tả
không gian ba chiều, không gian hình khối của đối tượng vật thể. Ngay trong
các lĩnh vực khoa học tự nhiên như toán học, muốn biểu hiện một vật thể trên
mặt phẳng, người ta cũng thường dùng các phép chiếu, tức tìm cách in vật thể
đó lên mặt phẳng bằng những hình chiếu của nó.
3
Như vậy, về thực chất, đó cũng là phương pháp tạo dựng lại hình ảnh
khi được xác định trước các thông số kỹ thuật làm điều kiện.
Trên góc độ nghệ thuật, phối cảnh ước lệ không phải là một ứng dụng
hình học đơn thuần, cũng không phải là một hình thức diễn đạt một cách thô
sơ không gian của nghệ thuật cổ, mà là, sự thể hiện cách nhìn, cách nghĩ riêng
của tác giả trước sự vật, hiện tượng diễn ra trong đời sống xã hội. Nếu trong
cách nhìn thông thường, các hình ảnh trước mắt biểu hiện mối quan hệ giữa
chủ thể và khách thể ở một điểm và một thời gian nhất định thì mối quan hệ
đó trong bối cảnh ước lệ được đặt trong những điều kiện không gian và thời
gian rộng rãi hơn.
lại hiện thực cuộc sống, sinh hoạt của một
tầng lớp người, một chế độ xã hội nhất định.
Dù mỗi loại hình nghệ thuật đều có tiếng
nói riêng, nhưng giữa chúng vẫn có điểm
giống nhau là các tác giả đều có thể hư cấu,
mô phỏng hoặc thêm bớt chi tiết. Nhưng tạo
hình nhiếp ảnh thì hoàn toàn khác, người
phóng viên, nghệ sỹ nhiếp ảnh không thể có được tác phẩm nếu không trực
tiếp quan sát, chứng kiến sự kiện hiện tượng. Nói cách khác nhiếp ảnh không
thể tạo hình bằng cách góp nhặt, tập hợp lại các tính cách, những thuộc tính
riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng để xây dựng thành một chỉnh thể “bức
tranh” mang tính khái quát, mà nhiếp ảnh phải tạo hình từ chính cuộc sống
thực, vạn vật thực đang diễn ra trước mắt tác giả, và những con người cụ thể,
sự việc cụ thể, xảy ra trong những hoàn cảnh không gian, thời gian xác định,
bằng phương pháp chọn lựa từ những khía cạnh bản chất, những đặc trưng
điển hình, những hoạt động tiêu biểu trong khoảnh khắc chân thực nhất của
đối tượng sự kiện.
5
Ví dụ: Để ca ngợi thành tích một đơn vị, một cá nhân nào đó, sau khi đã
xác định rõ chủ đề cần phản ánh, người phóng viên cần lựa chọn hình ảnh đưa
lên báo là hình ảnh gì, ai là người cần giới thiệu, chụp vào “pha” hoạt động
nào của sự kiện, thời điểm bấm máy ra sao “để lột tả” đúng bản chất, đúng
đặc trưng của công việc? Vì thế, người phóng viên phải thường xuyên theo
dõi, bám sát đối tượng để ghi hình.
Tuy nhiên, để có
được những hình ảnh sinh
động, người làm báo cần
tránh cả hai khuynh hướng
“chủ nghĩa tự nhiên” và
“chủ nghĩa hình thức”.
ảnh vẫn gây ấn tượng chứ không
có dấu hiệu nào chứng tỏ là phi
lý, phi nghệ thuật.
Việc “khắc phục” tính hiện thực tài liệu trong nhiếp ảnh để trở thành
nghệ thuật là một điều hết sức khó khăn. Nghệ sỹ nào vượt qua được tính tài
liệu hiện thực thuần tuý của ảnh để trở thành tác phẩm nghệ thuật, đó mới
chính là giá trị đích thực của nghệ thuật nhiếp ảnh.
Xét về bản chất thì cái mạnh nhất và là điều cơ bản nhất làm cho nghệ
thuật nhiếp ảnh khác với hội hoạ, đồ hoạ và điêu khắc là sự phản ánh hiện
thực mang tính tài liệu nghệ thuật. Đây cũng chính là điều đầu tiên và cơ bản
làm cho nghệ thuật nhiếp ảnh có vị trí xứng đáng trong đội ngũ của ngành
nghệ thuật tạo hình. Trong đội ngũ này, nhiếp ảnh chiếm lấy khoảng trống
trong giai đoạn đầu của tiến trình lịch sử văn học nghệ thuật. Bởi lẽ, ý định
tạo hình cộng với sự tái hiện thế giới khách quan vừa chính xác về tài liệu vừa
mang tính nghệ thuật, mà điều này không thể thực hiện đối với các ngành tạo
7
hình hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc Vì vậy, nếu hội hoạ, điêu khắc đi theo
trường phái tả thực một cách trung thành tuyệt đối sẽ rơi vào chủ nghĩa tự
nhiên hay “chủ nghĩa nhiếp ảnh” trong hội hoạ.
Thẩm mỹ học khẳng định rằng, nghệ thuật tạo hình hội hoạ, điêu khắc
không đặt ra cho mình nhiệm vụ tái hiện thực tế khách quan vừa đạt tính tài
liệu, vừa đạt tính nghệ thuật. Bởi hội hoạ, điêu khắc không thể cùng một lúc
giải quyết được hai nhiệm vụ vừa nghệ thuật vừa hiện thực, kết cục nó sẽ làm
hỏng tác phẩm. Sự bay bổng của trí tượng tượng và sự mong muốn khái quát
hoá hình tượng hoàn toàn không thể dung hoà với việc ghi chép trung thành
cái cụ thể, cái ngẫu nhiên. Nghệ thuật nhiếp ảnh phát triển mở ra cho các
ngành nghệ thuật tạo hình phương hướng giải quyết nhiệm vụ này: Nhiệm vụ
phản ánh thực tế khách quan vừa có tính nghệ thuật vừa mang tính tài liệu, mà
điều đối với hội hoạ, điêu khắc là không thể thực hiện được.
Nghệ thuật nhiếp ảnh tồn tại được và có vị trí xứng đáng trong đại gia
tái tạo lại hiện thực và xây dựng
nên “bức tranh” khái quát về
hiện thực đó. Hay cho dù, người
nghệ sỹ có đứng trước đối tượng
thì khi tác nghiệp, họ vẫn chó
thể “biến đổi” màu sắc, sắp xếp
vị trí, thêm bớt chi tiết theo ý
thích, miễn sao tác phẩm của họ
tạo được cảm xúc và đạt hiệu quả nhất Với nhiếp ảnh thì khác, sự thật mà
người cầm máy ghi lại là sự thật “một trăm phần trăm”, không thêm bớt. Vì
ảnh chính là sự “sao chép”, nên khi tái hiện lại sự vật, nhà nhiếp ảnh phải có
mặt tại hiện trường, trong khoảng thời gian, không gian được xác định.
9
Ở đây, họ tập trung quan sát cặn kẽ từng chi tiết, từng diễn biến của
cuộc sống, đặc biệt là những biểu hiện về tư tưởng, tình cảm qua từng nhân
vật, từ đó đánh giá phân tích, lựa chọn thời khắc đặc trưng nhất, nổi bật nhất
để bấm máy. Hơn nữa nhà báo, nghệ sỹ nhiếp ảnh cũng không thể di chuyển
các thành phần của đối tượng, bắt chúng tập trung lại trong thị trường của ống
kính máy ảnh. Trường hợp nếu muốn thay đổi, nhà nhiếp ảnh chỉ có thể bằng
cách tự xê dịch vị trí đứng, góc chụp cho đến khi đối tượng “lọt vào” điểm
nhìn thích hợp trong khuôn hình. Và, khi nhà nhiếp ảnh ghi lại cái đang hiện
hữu trước mắt họ, thì họ cũng không thể loại bỏ ngay những chi tiết có cản trở
đến bố cục của bức ảnh. Ngược lại, với hội hoạ - ngành có nhiều nét tương
đồng với nhiếp ảnh - thì chức năng ghi nhớ, tưởng tượng lại là một ưu thế. Do
vậy, người hoạ sỹ không bị lệ thuộc vào đối tượng có đang tồn tại trước mắt
họ hay không? Ví dụ như vẽ cảnh hoàng hôn, bình minh, một chậu hoa hay
một góc cắt nào đó chẳng hạn. Thậm trí xa hơn nữa, họ có thể tái hiện lại sự
kiện đã xảy ra trong qúa khứ, hay mô phỏng những tình huống sẽ diễn tiến
trong tương lai, một cách rất dễ dàng.
Nếu đem so sánh nhiếp ảnh với văn học và các ngành nghệ thuật khác
chất khá dài mới đáp ứng yêu cầu
nhất định, thậm trí có những tác phẩm
phải làm đi làm lại nhiều lần và mất
hàng tháng, hằng năm mới hoàn thành
(Nụ cười mê hồn của Neonadvanci chẳng hạn). Thế nhưng, đối với nhiếp ảnh,
khả năng tạo hình nhanh, tạo hình trong một thời điểm, thực sự là một thế
mạnh tuyệt đối. Đặc biệt, trong thời đại khoa học kỹ thuật, khoa học công
nghệ phát triển, khi mà các nhà khoa học đã sáng chế ra những loại máy ảnh
có tốc độ cửa chập nhanh tới một phần một vài nghìn giây; phim ảnh, bộ thẻ
11
nhớ của máy ảnh KTS có độ nhạy rất cao; thì chỉ cần một khoảnh khắc cực
ngắn nhiếp ảnh có thể ghi lại một sự kiện trọng đại, một minh chứng sống của
lịch sử.
Vì, nhiếp ảnh có thế mạnh là tạo hình nhanh, tạo hình trong một thời
điểm, nên các nhà lý luận, các nghệ sỹ sáng tác cũng như những ai quý trọng
bộ môn nghệ thuật này đã gọi nó bằng cái tên rất hình ảnh và khái quát - nghệ
thuật “ngưng đọng thời gian”.
(Nội dung này sẽ được trình bày kỹ ở phần giây phút bấm máy).
2.3. Nhiếp ảnh tạo hình mang tính biên bản, tính tài liệu
Ngày nay, khi truyền hình đã phát triển mạnh mẽ bằng việc thông tin
những hình ảnh chuyển động, truyền hình có sức hấp dẫn lớn đối với người
xem. Song dù truyền hình có phát triển đến đâu, nhiếp ảnh vẫn là loại hình có
thế mạnh nhất định trong việc truyền tải thông tin với những hình ảnh chân
thực, sinh động, có sức hấp dẫn bạn đọc. Chính cái giây phút làm “ngưng
đọng cuộc sống” là đặc điểm và thế mạnh không gì so sánh được của nhiếp
ảnh. Với khả năng đó, nhiếp ảnh có thể thực hiện tốt chức năng thông tin và
tư liệu của báo chí.
12
Tính tư liệu của ảnh được xem xét trên hai khía cạnh: Về mặt kỹ thuật,
cơ sở của tính tư liệu chính là tính chất phản ánh hình ảnh cụ thể, trực tiếp và
Mọi vật thể trong vũ trụ, dù lớn hay nhỏ đến đâu cũng đều tồn tại dưới
dạng hình khối nhất định. Bởi thế, nếu như trong các ngành kiến trúc, điêu
khắc người ta có thể dùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại để đo lường và
tính toán khá chính xác thể tích của hính tượng vật thể trong tác phẩm, thì đó
là bởi các hình tượng nghệ thuật ấy cũng được tạo dựng thành những hình
khối có đủ ba chiều của nó - chiều cao, chiều ngang, chiều dày hay còn gọi là
chiều sâu.
Khác với các ngành nghệ thuật tạo hình nói trên, “hình tượng” trong tác
phẩm ảnh không thể cân, đo đối tượng với đủ ba chiều như bản thân sự vật
cần phản ánh, mà do những đặc trưng của nó, nhiếp ảnh hoàn toàn thể hiện rõ
không gian ba chiều - hình thù lập thể của đối tượng, sự vật trên một mặt
phẳng của phim và giấy ảnh. Nói cách khác, nghệ thuật ảnh có khả năng tạo
cảm giác chiều sâu của cảnh trường trong tác phẩm.
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, không phải tất cả các bức ảnh đều có
khả năng biểu hiện không gian hình khối, chiều sâu của cảnh vật như nhau,
mà nó còn tuỳ thuộc vào khả năng vận dụng các yếu tố kỹ thuật tạo hình của
14
mỗi tác giả. Nắm vững đặc trưng này sẽ giúp các nhà nhiếp ảnh sáng tạo được
những tác phẩm ảnh sinh động, đạt hiệu quả thẩm mỹ cao.
2.5. Nhiếp ảnh mang đặc trưng “ngôn ngữ đại chúng”
Trong văn học nghệ thuật không phải bất cứ ai cũng có thể hiểu được,
nắm bắt được nội dung mà tác phẩm cần chuyển tải ngay từ lần tiếp xúc đầu
tiên. Hay nói cách khác là, nó không thể đáp ứng được ngay nhu cầu của mọi
độc giả, mọi dân tộc, quốc gia trên hành tinh; đó là vì sự bất đồng về ngôn
ngữ nói và viết
Song, nhiếp ảnh ra đời, ngành nghệ
thuật non trẻ này đã mở ra cho con người
những chân trời mới. Tạo hình nhiếp ảnh,
với ngôn ngữ trực tiếp và trực giác là hình
ảnh - thông tin bằng thị giác, sau nữa mới
phẳng duy nhất. Ánh sáng chuyển động theo hình sin, khoảng cách từ đỉnh nọ
đến đỉnh kia được gọi là một bước sóng. Đơn vị bước sóng tính bằng nanomet
(viết tắt là n m). Một Nanomét bằng một phần triệu milimét.
Bước sóng của ánh sáng chênh lệch từ 400 - 700 nanomét. Nhỏ hơn
400 nanomét là tia tử ngoại (untraviolet) và lớn hơn 700 nanomét là tia hồng
ngoại (infrared).
16
Khoa học đã chứng minh mắt thường của chúng ta không nhìn thấy tia
hồng ngoại và tử ngoại, nhưng nó lại có thể tác động đến hoá chất của phim
ảnh. Những bước sóng khác nhau trong ánh sáng tạo ra những màu sắc khác
nhau dưới con mắt của chúng ta. Bước sóng ngắn nhất của ánh sáng tạo thành
màu tím (Violét); còn bước sóng dài nhất của ánh sáng tạo thành màu đỏ sẫm.
Các màu sắc còn lại nằm giữa hai màu này và tất cả màu sắc tập hợp thành
một dải quang phổ.
Khi mọi bước sóng của ánh sáng được hoà trộn với nhau theo một
cường độ đủ mạnh sẽ xuất hiện ánh sáng trắng. Khi những bước sóng hoà trộn
với cường độ yếu hơn sẽ có màu xám. Khi cường độ của các bước sóng quá
yếu đến mức mắt ta không thấy được, hoặc khi ánh sáng chiếu vào một bề
mặt và bị bề mặt ấy hấp thụ hoàn toàn sẽ thấy màu đen. Như vậy, trong quang
học đen và trắng không phải là màu mà chỉ là biểu thị của một ánh sáng mạnh
hoặc hoàn toàn không có ánh sáng mà thôi.
II. Nguồn sáng, các loại ánh sáng, tính chất chiếu sáng của ánh
sáng
2.1. Nguồn sáng
Trong nhiếp ảnh, người ta thường sử dụng hai nguồn và ba loại ánh
sáng cơ bản: Ánh sáng tự nhiên, ánh sáng nhân tạo, ánh sáng trực tiếp, ánh
sáng tản và ánh sáng phản chiếu (ánh sáng hắt lại).
2.1.1. Nguồn sáng tự nhiên
Nguồn sáng tự nhiên là nguồn sáng được phát ra từ mặt trời, mặt trăng
và các tia sáng phản xạ từ bầu trời, bầu khí quyển đến các đối tượng vật thể.
Ánh sáng trực tiếp tạo hiệu quả ảnh tương phản cao, gây cảm giác
mạnh mẽ, lạc quan, có khi dữ dội tuỳ vào hướng ánh sáng chiếu tới đối tượng
cần chụp.
Ánh sáng tản:
Ánh sáng tản là ánh sáng không có định hướng. Chẳng hạn bầu trời đầy
mây, trời râm mát, hoặc ánh đèn chiếu qua kính mờ, kính tản sáng
Nhìn chung, ánh sáng tản có cường độ yếu, độ sáng tối trên đối tượng,
vật thể ít chênh lệch, sự tương phản thấp. Chụp ảnh dưới ánh sáng tản màu
sắc của đối tượng và cảnh vật trong ảnh chủ yếu phụ thuộc vào màu sắc vốn
có đối tượng vật thể đó, hoặc của cảnh quan ngoài hiện trường; Tuy nhiên, nó
không thật chính xác.
Ánh sảng tản cho hình ảnh không có bóng; cảm giác lập thế và cảm
giác chiều sâu ảnh trường kém.
Ánh sáng phản chiếu:
Ánh sáng phản chiếu thực chất là ánh sáng từ một nguồn sáng nào đó
(mặt trời, đèn cao áp ) chiếu tới các vật thể có khả năng phát sáng mạnh (tấm
gương, cửa kính, mặt nước ) và từ đó phản xạ vào đối tượng chụp. Nhờ
nguồn sáng này mà người cầm máy ghi lại được đầy đủ và chính xác hình ảnh
của các vật thể. Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp, do người cầm máy mất
cảnh giác hoặc thiếu hiểu biết, mà chính ánh sáng phản chiếu lại làm hỏng
bức ảnh.
19
Ánh sáng phản chiếu còn được gọi là ánh sáng hắt lại. Ánh sáng phản
chiếu thường là ánh sáng phân kỳ; vì đa số trường hợp sau khi bị phản chiếu,
ánh sáng dội lại, toả ra theo nhiều phương hướng.
Về nguyên tắc, ánh sáng phản xạ từ các vật trước - vật đón nhận trực
tiếp nguồn sáng từ mặt trời - bao giờ cũng có hướng đi nhất định (có định
hướng), còn ánh sáng phản chiếu ở những vật sau - vật đón nhận các tia phản
xạ của phản xạ - thường không có hướng đi nhất định.
Ví dụ: Ánh sáng mặt trời chiếu xuống mặt hồ, hay một bức tường kính
những điểm sáng rọi ngược vào ống kính.
2.2. Các loại tia sáng và đặc tính của nó
Xuất phát từ nguồn sáng, ánh sáng toả ra bằng các tia sáng, mỗi tia
sáng lại có đặc tính và một ứng dụng đặc biệt trong nhiếp ảnh.
2.2.1. Tia sáng song song
Tia sáng mặt trời là một ví dụ điển hình về tia sáng song song.
Ở nguồn sánh nhân tạo, người ta tạo tia sáng song song bằng cái choá
đèn hoặc bằng kính Fresnel. Choá đèn được chế tạo lõm như lòng chảo, ánh
sáng lọt vào vùng “lòng chảo” đó rồi hắt ra phía trước tuỳ theo độ trũng nông
hay sâu để tạo ra tia sáng song song, hội tụ hay phân kỳ.
Có thể làm một cách khác, dùng miếng kính Fresnel - kính nổi gờ tạo
thành những vòng tròn đồng tâm - đặt phía trước nguồn sáng (ví dụ như đèn
chụp trong Studio), dời chuyển miếng kính này xa gần nguồn sáng ta cũng sẽ
tạo được tia sáng song song, hội tụ hay phân kỳ.
Tia sáng song song có đặc tính tạo bóng đổ sắc cạnh, ảnh tương phản
cao, hiện rõ các chi tiết, vân của vật thể rõ nét (nếu biết sử dụng hướng chiếu).
21
Do đó, muốn làm tăng chi tiết trên da mặt, khi chụp ảnh chân dung các cụ già
ta hướng mặt đối tượng (mặt chủ đề) ra phía các tia sáng song song.
Muốn thể hiện những chi tiết trên thân cây, vách núi, ta cũng dùng tia
sáng song song. Trái lại nếu muốn che dấu bớt các chi tiết, không muốn thấy
bóng đổ, ảnh quá tương phản ta nên tránh loại tia sáng này.
2.2.2. Tia sáng hội tụ
Tia sáng hội tụ là tia sáng phát ra từ nguồn sáng rồi quy tụ lại một vùng
nào đó tương đối nhỏ. Tia sáng hội tụ về cơ bản không có trong trạng thái tự
nhiên. Muốn có tia sáng hội tụ, ta phải dùng nguồn sáng nhân tạo phối hợp
với choá đèn hay kính Fresnel. Tia sáng hội tụ có đầy đủ các đặc tính của tia
sáng song song, nhưng bóng đổ mạnh hơn, ảnh tương phản cao hơn và làm
tăng chi tiết nhiều hơn.
2.2.3. Tia sáng phân kỳ
2.3. Cường độ của ánh sáng
Ánh sáng có thể mạnh, có thể yếu. Ánh sáng mạnh tạo tương phản lớn,
bóng đổ đậm và sắc cạnh. Ánh sáng dịu làm giảm sự tương phản, thể hiện chi
tiết nhẹ nhàng; trong nhiều trường hợp có thể phản ánh nhiều chi tiết thú vị
hơn ánh sáng mạnh.
Với ánh sáng nhân tạo, cường độ của ánh sáng thay đổi theo khoảng
cách. Từ nguồn sáng đến chủ đề đối tượng càng xa thì cường độ ánh sáng
càng yếu và ngược lại, khoảng cách chụp càng gần, cường độ phát sáng càng
mạnh.
Ví dụ: Ánh sáng phát ra từ một chiếc đèn Flash hướng tới một mặt
phẳng cách một mét, cường độ tia sáng sẽ rất lớn. Nhưng khi ta thay đổi
khoảng cách đó lên hai mét, thì cường độ tia sáng chỉ còn một phần tư, và
23
cách xa ba mét, cường độ tia sáng chỉ còn là một phần chín. Trong nhiếp ảnh
ta gọi hiện tượng này là luật nghịch đảo bình phương.
Trường hợp chụp ảnh dưới ánh sáng mặt trời, vì nguồn sáng ở quá xa
và cường độ của nó cũng quá mạnh, nên khi ta tăng, giảm khoảng cách từ
máy ảnh đến đối tượng chụp dù có đến trăm, ngàn mét trong cùng điều kiện,
thì cường độ ánh sáng vẫn không hề thay đổi.
Như vậy, cường độ ánh sáng càng cao thì sự tương phản càng lớn. Sự
khác biệt giữa bên được chiếu sáng và bên tối trên đối tượng vật thể sẽ càng
tăng.
Sự khác biệt được tính ra bằng cách đo khẩu độ bên sáng và bên tối để
tìm sự chênh lệch là bao nhiêu. Ví dụ, cùng một tốc độ chập, phía bên sáng có
chỉ số f/16 và phía bên tối có chỉ số là f/8, ta bảo sự khác biệt là hai nấc chế
quang; tỷ số tương phản sẽ là 4/1 (hai nấc chế quang hơn kém nhau bốn lần
lượng sáng).
Trên thực tế, phim và giấy ảnh chỉ có thể ghi nhận một chỉ số tương
phản nhất định. Đối với những loại phim thông dụng, phim đen trắng, tỷ số
tương phản khoảng 16/1; trong khi đó phim màu chỉ ghi nhận được tỷ số