Hoàn thiện phân tích tài chính tại Tổng công ty cổ phần xây dựng điện Việt Nam - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi DN là một tế bào kinh tế, là một đơn
vị hạch toán độc lập, tiến hành quá trình SXKD để tạo ra các sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội nhằm thực hiện các
mục tiêu về LN. Tối đa hoá LN là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của DN.
Muốn vậy, DN cần phải có những quyết sách, chiến lược phù hợp, kịp thời đối
với các hoạt động kinh tế của mình. Tuy nhiên, nền kinh tế thế giới đang hướng
đến toàn cầu hoá, sức nóng của nền kinh tế ngày càng mạnh, là cơ hội để các
DN mở rộng và khẳng định vị thế của mình trên thị trường trong nước cũng
như thị trường quốc tế. Bên cạnh những cơ hội đó, DN cũng phải đối mặt với
rất nhiều thách thức trong nền kinh tế thị trường phức tạp hiện nay. Vì vậy,
muốn tồn tại và phát triển bền vững DN cần phải có các hoạt động: nghiên cứu
nhu cầu thị trường, phân tích tình hình hiện tại của cả nền kinh tế, của chính
DN, từ đó, vạch ra các chiến lược phát triển ngắn hạn và dài hạn, nhằm mục
đích cuối cùng là tăng giá trị TS cho chủ sở hữu. Một trong những hoạt động
quan trong đó là PTTC và đánh giá hiệu quả tài chính, thông qua đó tìm các
giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính, cũng như nâng cao hiệu quả SXKD
trong tương lai của DN.
PTTC DN là công cụ hết sức quan trọng trong việc tạo ra giá trị khổng
lồ cho các nhà đầu tư, cung cấp các phần tích và đề xuất lời khuyên cho DN và
các nhà đầu tư. PTTC làm giảm bớt các nhận định chủ quan, dự đoán và những
trực giác trong kinh doanh, góp phần làm giảm bớt tính không chắc chắn cho
các hoạt động kinh doanh. PTTC cung cấp những cơ sở mang tính hệ thống và
hiệu quả trong phân tích các hoạt động kinh doanh. Điều này đã được khẳng
định rất rõ và chứng minh qua thực tế.
Ở nước ta PTTC chưa được quan tâm đúng mức; các ngành chưa xây
dựng được số liệu trung bình chung của ngành. Chính vì vậy, việc PTTC gặp
khá nhiều khó khăn. Các DN nói chung, cũng như các DN ngành điện nói riêng
Trang 1
chưa thực hiện một cách có cơ sở khoa học công tác PTTC. Do đó, thông tin tài

Trang 2
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động PTTC của DN
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác PTTC tại TCT cổ phân xây
dựng điện VN trong thời gian từ 2007-2009
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được hoàn thành dựa trên việc kết hợp hợp sử dụng các
phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp logic và lịch sử, phân tích và
tổng hợp, sử dụng các phương pháp của khoa học thống kê: khảo sát thực tế để
nghiên cứu.
5. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về PTTC DN
Chương 2: Thực trạng PTTC tại TCT cổ phần xây dựng điện VN
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện PTTC DN tại TCT cổ phần xây dựng điện VN
Trang 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm
TCDN là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một
phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá
tiền tệ
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất kỳ một DN nào cũng cần phải
có một lượng vốn tiền tệ tối thiểu nhất định. Quá trình hoạt động kinh doanh từ
góc độ tài chính cũng là quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ
tiền tệ của DN nhằm thực hiện các mục tiêu của hoạt động kinh doanh. Trong
quá trình đó luôn diễn ra sự vận động và chuyển hoá liên tục của các nguồn tài

đặt ra ở đây là DN sẽ huy động nguồn tài trợ với cớ cấu như thế nào cho phù
hợp và mang lại LN cao nhất? Liệu DN có nên sử dụng toàn bộ vốn chủ sở hữu
để đầu tư cho TS đó hay đi vay, đi thuê, tận dụng các khoản phải trả? Điều này
liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn và chi phí vốn của DN.
- Thứ ba: Nhà DN sẽ quản lý hoạt động tài chính hàng ngày như thế
nào? Chẳng hạn, việc thu tiền từ khách hàng và trả tiền cho nhà cung cấp? Đây
là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ tới quản lý
TSCĐ của DN.
Ba vấn đề trên không phải là tất cả mọi vấn đề về TCDN, nhưng đó là
các vấn đề lớn nhất và quan trọng nhất. Nghiên cứu TCDN thực chất là nghiên
cứu cách thức giải quyết ba vấn đề đó.
Nhà quản lý tài chính phải chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính và
dựa trên cơ sở các nghiệp vụ tài chính thường ngày để đưa ra các quyết định vì
lợi ích của DN và đều nhằm vào các mục tiêu tài chính: đó là sự tồn tại và phát
triển của DN, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng
cạnh tranh và chiếm được thị phần tối ưu trên thị trường, tối thiểu hoá chi phí,
tối đa hoá LN và không ngừng mở rộng quy mô doanh lợi một cách vững chắc.
DN chỉ có thể hoạt động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sở hữu khi các
quyết định của nhà quản lý tài chính đưa ra là đúng đắn. Muốn vậy, họ phải
thực hiện PTTC DN. Công việc này được gọi là PTTC nội bộ. Do có đầy đủ
Trang 5
các thông tin và hiểu rõ về DN, các nhà PTTC trong DN là những nguời có lợi
thế để PTTC một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác và khách quan
Trên cơ sở PTTC mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năng thanh toán,
khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản
lý tài chính có thể dự đoán được kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi
nói riêng của DN trong tương lai. Từ đó, họ có thể tham mưu cho Giám đốc,
Giám đốc tài chính cũng như Hội đồng quản trị (tuỳ từng loại hình DN) trong
các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia cổ tức cổ phần và lập kế hoạch báo cáo
tài chính. Cuối cùng PTTC còn là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý.

cung cấp tín dụng thương mại cho DN sử dụng nhằm đảm bảo về khả năng trả
nợ cho DN.
Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của DN được xem xét trên
2 khía cạnh ngắn hạn và dài hạn. Nếu những khoản cho vay là ngắn hạn, người
cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của DN, nghĩa là khả
năng ứng phó của DN đối với các món nợ ngắn hạn khi đến hạn trả. Nếu là
những khoản cho vay dài hạn, nguời cho vay phải tin chắc về khả năng hoàn trả
và khả năng sinh lời của DN mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ phụ thuộc vào khả
năng sinh lời này.
+ Đối với nguời hưởng lương trong DN
Bên cạnh các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ nợ DN, nguời hưởng lương
cũng rất quan tâm đến những thông tin tài chính của DN. Điều này cũng dễ
hiểu bởi kết quả hoạt động của DN có tác động trực tiếp đến tiền lương, khoản
thu nhập chính của nguời lao động. Ngoài ra, trong một số DN, nguời lao động
được tham gia góp vốn mua một số cổ phần nhất định. Như vậy, họ vừa là
nguời lao động vủa là nguời chủ DN nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với
DN.
+ Đối với cơ quan quản lý của Nhà nước
Dựa vào các báo cáo TCDN, các cơ quan quản lý của Nhà nước thực
hiện công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính
tiền tệ của DN có tuân thủ đúng chính sách, chế độ, quy trình nghiệp vụ, các
quy định có liên quan và luật pháp hiện hành hay không
Trang 7
1.2. QUY TRÌNH PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
Sơ đồ 1: Quy trình phân tích tài chính
Bước 1: Thu thập thông tin
Đây là bước đầu tiên của công tác PTTC DN. Các thông tin bao gồm:
thông tin trong DN và thông tin bên ngoài; những thông tin giá trị và thông tin
số lượng; thông tin kế toán và thông tin quản lý khác… Các nguồn thông tin
ngày phải có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính của

Bước 4: Tiến hành PTTC DN
Từ những mục tiêu định sẵn, nguời phân tích phải xây dựng hệ thống
các chỉ tiêu tài chính cần thiết. Từ đó áp dụng các phương pháp phân tích đã
lựa chọn để tính toán các chỉ số từ những thông tin đã thu thập và xử lý. Bước
này đòi hỏi hệ thống các chỉ tiêu phải phù hợp với mục tiêu PTTC và phù hợp
với những mục tiêu PTTC và phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuát kinh
doanh của DN.
Bước 5: Đánh giá và kết luận
Bước cuối cùng của công tác PTTC DN là đánh giá và kết luận. Trong
bước này, từ những kết quả thu được từ bước trên, người phân tích tiến hành
đánh giá và kết luận về tình hình tài chính của DN theo mục tiêu phân tích của
mình. Những đánh giá và kết luận này là cơ sở để những đối tượng quan tâm
đưa ra các quyết định quản lý kinh doanh phù hợp.
1.3. TÀI LIỆU, PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP
1.3.1 Tài liệu
1.3.1.1. Các báo cáo tài chính
Trang 9
Nguồn thông tin sử dụng trong PTTC bao gồm nguồn thông tin từ nội
bộ DN và thông tin từ bên ngoài DN. Trong đó, nguồn thông tin kế toán được
lấy từ các báo cáo tài chính trong DN là nguồn thông tin quan trọng bậc nhất.
Các báo cáo tài chính bao gồm:
Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính
của một DN tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là một báo cáo tài chính
có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ
kinh doanh và quan hệ quản lý với DN. Thông thường, bảng cân đối kế toán
được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư của các tài khoản kế toán: một
bên phản ánh TS và một bên phản ánh NV của DN.
Bên TS của bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ TS hiện có

thuế giá trị gia tăng hàng bán nội địa.
Những khoản mục được phản ánh trên phần 1 của báo cáo kết quả
SXKD bao gồm: DT từ hoạt động SXKD, DT từ hoạt động tài chính, DT từ
hoạt động khác và chi phí tương ứng với từng hoạt động đó.
Những loại thuế như VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, về bản chất, không
phải là DT và không phải là chi phí của DN nên không được phản ánh trên báo
cáo này. Toàn bộ các khoản thuế đối với DN và các khoản phải nộp khác được
phản ánh trong phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước.
Phần III của Báo cáo là Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn
lại, được giảm, thuế giá trị gia tăng hàng bán nội địa
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Để đánh giá một DN có đảm bảo được chi trả hay không, cần tìm hiểu
tình hình ngân quỹ DN. Ngân quỹ thường được xác định trong thời hạn ngắn
(thường là từng tháng)
Xác định dự báo dòng tiền thực nhập quỹ (thu ngân quỹ), bao gồm:
dòng tiền xuất quỹ thực hiện SXKD, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động
đầu tư, tài chính; dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động khác.
Trên cơ sở dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ, nhà phân tích thực
hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ
Trang 11
cuối kỳ. Từ đó có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho DN nhằm
mục tiêu đảm bảo chi trả.
Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về
tình hình sản xuất kinh doang chưa có trong hệ thống các báo cáo tài chính,
đồng thời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong báo cáo tài chính chưa được
trình bày, giải thích một cách rõ ràng và cụ thể.
Mẫu thuyết minh báo cáo tài chính có thể do nhà nước quy định, có thể
một phần do DN lập để tiện cho công tác quản lý và PTTC DN.
Một số báo cáo tài chính khác

đánh giá một tỷ số của DN hay một nhóm DN.
Thứ hai, Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và
thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số.
Thứ ba, Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác hiệu
quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi
thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
1.3.2.2. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được áp dụng để xác định xu
hướng biến đổi và mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích.
Xét về mặt nguyên tắc, với phương pháp tỷ số, cần xác định được các
ngưỡng, các tỷ số tham chiếu và để có thể đánh giá tình trạng tài chính của một
DN cần so sánh các tỷ số của DN với các tỷ số tham chiếu, từ đó rút ra kết
luận.
Như vậy, phương pháp so sánh luôn được sử dụng kết hợp với các
phương pháp PTTC khác. Khi phân tích, các nhà phân tích thường so sánh theo
thời gian (so sánh kỳ này với kỳ trước) để nhận biết xu hướng thay đổi tình
hình tài chính của DN, theo không gian (so sánh với mức trung bình ngành) để
đánh giá vị thế của DN trong ngành.
Tuy nhiên, để áp dụng được phương pháp so sánh này thì cần phải thoã
mãn một số điều kiện sau:
+ Các chỉ tiêu so sánh phải phản ánh cùng nội dung kinh tế.
+ Các chỉ tiêu này phải có cùng phương pháp tính toán.
Trang 13
+ Đơn vị tính toán của các chỉ tiêu này là như nhau.
+ Các chỉ tiêu này phải được quy đổi về cùng quy mô hoạt động với các
điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
1.3.2.3. Phương pháp DUPONT
Phương pháp Dupont là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác
động tương hỗ giữa các tỷ số tài chính, biến một chỉ tiêu tổng hợp thành một
hàm số của một loạt các biến số. Ví dụ: tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức

DT thuần
LN sau thuế
Tổng TS
DT thuần
Do những ưu điểm trên đây, ngày nay phương pháp Dupont (xuất xứ từ
công ty Dupont của Mỹ) được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Trang 15
1.3.2.4. Phương pháp đồ thị
Ngoài các phương pháp đã nêu trên, còn một phương pháp khác cũng
thường được sử dụng trong PTTC, đó là phương pháp đồ thị
Phương pháp đồ thị là phương pháp dùng các đồ thị để minh hoạ các kết quả
tài chính đã tính toán được trong quá trình phân tách bằng biểu đồ, sơ đồ…
Phương pháp này cho ta một cái nhìn trực quan, thể hiện rõ ràng mạch lạc diễn
biến của các đối tượng nghiên cứu qua từng thời kỳ và nhanh chóng phân tích
định tính các chỉ tiêu tài chính để tìm ra nguyên nhân của sự biến đổi các chỉ
tiêu đó.
1.4. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.4.1. Phân tích khái quát
1.4.1.1. Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn
Phân tích diễn biến NV và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự thay
đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên Bảng cân đối kế toán về NV và cách
thức sử dụng vốn của DN.
Một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính là biểu kê
NV và sử dụng vốn (Bảng tài trợ). Nó giúp nhà quản lý xác định rõ các nguồn
cung ứng vốn và việc sử dụng các NV đó.
Để lập được biểu này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục
trên Bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ. Mỗi sự thay đổi được phân
biệt ở hai cột: sử dụng vốn và NV theo nguyên tắc:
- Nếu các khoản mục bên TS tăng hoặc các khoản mục bên NV giảm thì
điều đó thể hiện việc sử dụng vốn

trợ cho TSCĐ mà phải dùng thêm một lượng vốn ngắn hạn để đầu tư vào TS
dài hạn. Như vậy, khi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán, DN sẽ phải
dùng TSCĐ để chi trả. Trong trường hợp này, DN cần phải giảm quy mô đầu
tư dài hạn hoặc tăng cường huy động vốn ngắn hạn, hoặc đồng thời sử dụng cả
hai phương pháp đó
- VLĐTX = 0 Trong tình huống này thì vốn dài hạn được dùng để tài trợ
vừa đru cho TSCĐ, đồng thời DN có đủ TSLĐ để thanh toán các khoản nợ
ngắn hạn. Điều này cho thấy tình hình tài chính của DN là lành mạnh.
Ngoài các chỉ tiêu VLĐTX, khi phân tích tình hình đảm bảo NV cho
SXKD, nguời ta còn sử dụng chỉ tiêu NCVLĐTX
Trang 17
NCVLĐTX = Tồn kho và các khoản phải thu - Nợ ngắn hạn
Khi NCVLĐTX >0 có nghĩa là việc sử dụng nguồn ngắn hạn của DN
lớn hơn NV ngắn hạn có được từ bên ngoài. DN phải dùng NV dài hạn để tài
trợ vào phần chênh lệch. Vì thế, DN phải nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho
và tăng cường thu nợ.
Khi NCVLĐTX <0 có nghĩa là các khoản nợ ngắn hạn đã dư thừa để tài
trợ cho các TS ngắn hạn. Chính vì vậy, DN không cần nhận vốn ngắn hạn để
tài trợ cho chu kỳ kinh doanh.
Vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu rất quan trọng. Chỉ tiêu này
cho biết DN có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, TSCĐ có được
tài trợ một cách vững chắc bằng NVdài hạn hay không?
1.4.1.3. Phân tích kết cấu Tài sản và Nguồn vốn trong Bảng cân đối kế
toán
Phân tích kết cấu TS và NV ngoài việc so sánh cuối kỳ với đầu kỳ về số
tuyệt đối và tỷ trọng, ta còn phải so sánh, đánh giá tỷ trọng từng loại TS và NV
chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng
Phân tích kết cấu TS và NV ngoài việc so sánh cuối kỳ với đầu kỳ về số
tuyệt đối và tỷ trọng, ta còn phải so sánh, đánh giá tỷ trọng từng loại TS và NV
chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng.

Nhà nước, các khoản phải trả khác.
Chỉ tiêu này cho biết khả năng sử dụng TSLĐ để thanh toán cho các
khoản nợ ngắn hạn của DN. Đây là chỉ tiêu được chủ nợ ngắn hạn quan tâm
nhất trong công tác PTTC vài nó cho biết mức độ các khoản nợ của họ được
trang trải bằng TS có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương
với thời hạn của các khoản nợ đó.
+ Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh được xác định theo công thức sau:
Hệ số khả năng

thanh toán nhanh
=
Tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng số nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán nhanh được đo bằng TS quay vòng nhanh so với
nợ ngắn hạn. TS quay vòng nhanh là những TS có thể nhanh chóng chuyển đổi
thành tiền, bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu. TS dự trữ
(tồn kho) là các TS khó chuyển thành tiền hơn trong tổng TSLĐ và dễ bị lỗ
nhất nếu được bán. Do vậy, tỷ số khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng
hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào biệc bán TS dự trũ (tồn
kho) và được xác định bằng cách lấy TSLĐ trừ đi phần dự trữ (tồn kho) chia
cho nợ ngắn hạn.
Trang 19
+ Chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời:
Hệ số thanh toán tức thời cho biết khả năng thanh toán ngay bằng nguồn
tiền hiện có của DN để trang trải cho các khoản nợ đến hạn thanh toán cho các
chủ nợ
Hệ số thanh toán tức thời được xác định bằng công thức sau:
Hệ số khả năng


chủ nợ trong việc góp vốn. Thông thường các chủ nợ thích tỷ số nợ trên tổng
TS vừa phải vì tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được bảo đảm trong
truờng hợp DN bị phá sản. Trong khi đó các DN ưa thích tỷ số này cao vì họ
muốn LN gia tăng nhanh. Song, nếu tỷ số nợ quá cao, DN dễ bị rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán.
Hệ số nợ vốn chủ sở hữu
Trang 20
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu được xác định theo công thức sau:
Hệ số nợ

trên VCSH
= Nợ phải trả
VCSH
Hệ số này cho biết tỷ trọng giữa NV bên ngoài và NV bên trong của DN. Nói
cách khác, hệ số này cho biết với một đồng vốn bỏ ra thì DN phải cần bao
nhiêu đồng vốn huy động từ các nguồn khác để tài trợ cho hoạt động SXKD
của mình.
Hệ số cơ cấu TS
Hệ số cơ cấu TS được dung để đánh giá sự phân chia vốn của DN có
hợp lý hay không? Hệ số cơ cấu TS cho biết trong tổng số vốn của DN thì có
bao nhiêu phần trăm được sử dụng để đầu tư vào TSCĐ và bao nhiêu phần
trăm đầu tư vào TSLĐ, hệ số này được xác định theo công thức sau:
Đối với mỗi loại hình kinh doanh khác nhau thì có một hệ số cơ cấu TS
khác nhau. Do đó, khi đánh giá mức độ hợp lý của cơ cấu TS thì phải dựa vào
mức trung bình của ngành để xem xét. Nếu việc bố trí cơ cấu vốn này không
hợp lý sẽ dẫn tới mất cân đối trong kinh doanh, ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng
vốn.
Cơ cấu từng loại TS được tính như sau:
Tỷ suất đầu tư
vào TSCĐ

Chỉ tiêu này còn được gọi là hệ số tự tài trợ, dung để phản ánh khả năng
tự chủ về mặt tài chính, từ đó cho thấy khản năng chủ động của DN trong hoạt
động SXKD của mình. Hệ số này càng cao thể hiện khả năng độc lập tài chính
càng cao, hay mức độ tài trợ của DN càng cao.
- Hệ số nợ:
Hệ số nợ = Nợ phải trả
Tổng NV
Hệ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ DN đối với chủ
nợ trong việc góp vốn. Thông thường các chủ nợ thích một hệ số nợ vừa phải
vì hệ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp DN
bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu DN lại ưa thích hệ số nợ cao vì họ
muốn LN gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát DN. Song nếu hệ số
nợ quá cao, DN rất dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
- Hệ số vốn chủ sở hữu:
Chỉ tiêu này còn được gọi là hệ số tự tài trợ, phản ánh khả năng tự chủ
về mặt tài chính, từ đó cho thấy khả năng chủ động của DN trong những hoạt
động của mình
Hệ số vốn chủ
sở hữu
= Vốn chủ sở hữu
Tổng NV
Trang 22
Hệ số càng cao thể hiện khả năng độc lập về mặt tài chính, hay mức độ
tự tài trợ của DN càng cao. NV chủ sở hữu tăng tức là tình hình TCDN biến
động theo xu hướng tốt, nó biểu hiện hiệu quả SXKD tăng, tích luỹ từ nội bộ
tăng thông qua việc bổ sung vốn từ LN và quỹ p hát triển kinh doanh, hoặc DN
mở rộng liên doanh liên kết.
1.4.3. Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động
Các tỷ số hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng TS của
DN. Vốn của DN được dùng để đầu tư cho các loại TS khác nhau như TS cố

khoản phải thu
= DT thuần
Số dư bình quân các
khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền
mặt của DN. Vòng quay các khoản phải thu càng lớn cho biết tốc độ thu hồi
các khoản phải thu càng nhanh, DN không bị đọng vốn nhiều ở các khoản phải
thu.
- Hiệu suất sử dụng TSLĐ
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức sau đây:
Hiệu suất sử

dụng TSLĐ
= DT thuần
TSLĐ trung bình năm
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng TSLĐ của DN. Nó cho biết với
một đồng TSLĐ DN bỏ ra trong một kỳ kinh doanh sẽ thu về được bao nhiêu
đồng DT.
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ
Hiệu suất sử

dụng TSCĐ
= DT thuần
TSCĐ trung bình năm
Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng DT
trong một năm. TSCĐ ở đây được xác định theo giá trị còn lại đến thời điểm
lập báo cáo
- Hiệu suất sử dụng tổng TS
Trang 24
Hiệu suất sử

Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia thu nhập sau thuế cho DT.
Chỉ tiêu này cho biết trong một trăm đồng DT tạo ra thì có bao nhiêu đồng LN
ròng. Chỉ tiêu này có giá trị càng cao chứng tỏ khả năng sinh lãi của DN càng
lớn.
- Hệ số sinh lợi TS ROA
Hệ số sinh lợi TS được xác định theo công thức sau:
Doanh lợi tiêu
thụ sản phẩm
= LN sau thuế
Tổng TS trung bình năm
hoặc
Trang 25

Trích đoạn Tình hình hoạt động kinh doanh của Tổng công ty giai đoạn 2007- Phương pháp phân tích tài chính Nội dung phân tích tài chính tại Tổng công ty cổ phần xây dựng điện Việt Nam Những hạn chế còn tồn tạ Nguyên nhân của những hạn chế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status