Những giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm - Pdf 26

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Như Quỳnh
Lớp : CĐ TCNH1-K5
Địa điểm thực tập : Số 5 Nguyễn Biểu – Hoàn Kiếm – Hà Nội
1.Tiến độ và thái độ thực tập của sinh viên:
- Mức độ liên hệ với giáo viên: …………………………………………
- Thời gian thực tập và quan hệ với cơ sở:
…………………………………………………………………………
- Tiến độ thực hiện: ……………………………………………………….
2. Nội dung báo cáo:
- Thực hiên các nội dung thực tập:
…………………………………………………………………………
- Thu thập và xử lý các số liệu thực tế:
…………………………………………………………………………
- Khả năng hiểu biết lý thuyết và thực tế:
…………………………………………………………………………
3. Hình thức trình bày:
…………………………………………………………………………
4. Một số ý kiến khác:
…………………………………………………………………………
5. Đánh giá của giáo viên hướng dẫn:
…………………………………………………………………………
- Chất lượng báo cáo: ……………………………………………………
Hà Nội, ngày… tháng….năm 2012
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN.

LỜI CẢM ƠN!
Sau khi hoàn thành thời gian học lý thuyết với sự nhiệt tình giảng dạy
của các thày cô giáo trong khoa tài chính - ngân hàng trường Cao Đẳng Công
Nghiệp Dệt May Thời Trang Hà Nội cùng đó là kiến thức bổ ích có được tại
chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm trong thời gian thực tập, em quyết định chọn đề

2.2.1.1. Điều kiện vay vốn đối với DNVVN 33
2.2.1.2. Tính đa dạng phương thức cho vay đối với DNVVN 35
2.2.1.3. Quy trình cho vay đối với DNNVV 37
3.1.2. Định hướng nâng cao hiệu quả cho vay đối với DNNVV
tại Chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm 50
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với DNNVV tại Chi nhánh
NHCT Hoàn Kiếm 51
3.2.1. Xây dựng quy trình cho vay chặt chẽ, đơn giản hóa thủ tục
51
3.2.2. Đa dạng hóa phương thức cho vay và tài sản đảm bảo. .52
3.2.3. Thực hiện tốt chiến lược Marketing, thu hút khách hàng.54
3.2.4. Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn đối với DNNVV 54
3.2.5. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát sau khi
cho vay 55
3.2.6. Đào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ quan hệ khách hàng
56

3.2.7. Gắn liền công tác cho vay và huy động vốn một cách hiệu
quả 58
3.3. Một số kiến nghị đề xuất 58
3.3.1. Đối với Nhà nước, các Bộ ngành 58
3.2.2. Đối với NHNN Việt Nam 59
3.3.3. Đối với Ngân hàng công thương Việt Nam 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

DANH MỤC VIẾT TẮT
NH : Ngân hàng
VN : Việt Nam
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHCT : Ngân hàng công thương

những sai sót, em rất mong nhận được ý kiến của Cô hướng dẫn thực tập Đỗ
Kim Dung để em có thể hoàn thành chuyên đề của mình.

1
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động cho vay đối với DNNVV của NHTM
1.1.1. Tổng quan về DNNVV trong nền kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm DNNVV
Khái niệm DNNVV đã được biết đến trên thế giới từ đầu những năm
đầu của thế kỷ XX và được quan tâm phát triển từ những năm 50 của thế kỷ
XX. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia khác nhau thì có một khái niệm khác nhau và
tiêu chuẩn khác nhau để phân loại một DNNVV.
Theo định nghĩa chung thì “DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh
doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô
doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu chí vốn, lao
động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định
của từng quốc gia”.
1.1.1.2. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa.
*Ưu thế của DN nhỏ và vừa :
DNNVV có những lợi thế rõ ràng. Với quy mô vừa và nhỏ của mình
DNNVV có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của
thị trường, có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các
DN lớn, sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa
và nhỏ trên thị trường mà các DN lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ
đặt ở các thị trường có khối lượng lớn. DNNVV còn có khả năng thoả mãn
nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử
dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp DNNVV

cuộc kinh doanh mạo hiểm.
- Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao
động.
Quy mô DN vừa và nhỏ tất nhiên là không lớn lắm. Số lượng lao động
trong một DN không nhiều, sự phân công lao động trong xí nghiệp chưa quá

3
mức rõ rệt. Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn
bó. Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp.
*Hạn chế của DN nhỏ và vừa
Các hạn chế của loại hình DN này đến từ hai nguồn. Các hạn chế khách
quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợi thế của DN
nhỏ và vừa.
- Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNNVV nằm trong chính đặc điểm
của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các DN này thường lâm vào tình trạng
thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi
mới, nâng cấp trang thiết bị.
- Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ DN, thiếu bí quyết và
trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư
cho nghiên cứu và phát triển, nói cách khác là không đủ năng lực sản xuất
để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu
quả kinh doanh.
- Thiếu trợ giúp về tài chính và tiếp cận thị trường khiến cho các
DNNVV thường bị động trong các quan hệ thị trường.
- Các DNNVV thường phụ thuộc vào DN mà nó cung cấp sản phẩm.
- Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt
là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động,
chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường.
- Do tính chất vừa và nhỏ của nó, các DNNVV gặp khó khăn trong thiết
lập và mở rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương

1.1.2. Hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNVV
1.1.2.1. Hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là một mặt hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt động
cho vay ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức
phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội để đáp
ứng nhu cầu về vốn cho phục vụ sản xuất kinh doanh.
Theo Điều 3 khoản 1 QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN về quy chế cho vay
của các TCTD với khách hàng thì cho vay được định nghĩa như sau: “cho vay
là một hình thức cấp tín dụng, trong đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng

5
một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa
thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”.
1.1.2.2. Chính sách cho vay đối với DNNVV.
Đối với mỗi khách hàng thì ngân hàng đều có chính sách cho vay riêng
biệt. Xuất phát từ những đặc điểm riêng có của doanh nghiệp nhỏ và vừa ngân
hàng có chính sách cho vay cụ thể dựa trên những tiêu chí cơ bản sau:
Đối tượng cho vay: là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Lãi suất cho vay: ngân hàng thương mại áp dụng lãi suất cho vay thả
nổi đối với từng món vay của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất vay thường
dựa vào lãi suất thi trường có điều chỉnh, tuy nhiên mỗi ngân hàng sẽ có cách
tính lãi khác nhau.
Thời hạn vay: tùy theo nhu cầu khách hàng, ngân hàng sẽ thực hiện cho
vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy nhiên các món vay ngắn hạn thường được ưu tiên hơn đối với nhóm
khách hàng này.
Phương thức cho vay: đối với khách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa
thông thường ngân hàng chủ yếu cho vay theo phương thức cho vay từng lần
và phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng.
Tài sản đảm bảo: hoạt động cho vay mang tính rủi ro cao nên ngân

Bước 8: Thanh lý hợp đồng tín dụng
1.2. Hiệu quả cho vay của ngân hàng thương mại đối với DNNVV
1.2.1. Ngân hàng thương mại - các hoạt động chủ yếu
1.2.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường
chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân
hàng. Hiện nay chức năng, vai trò, dịch vụ của các ngân hàng đang không
ngừng thay đổi và thêm mới.
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử của
nền sản xuất hàng hóa. So với tiền tệ, tín dụng thì hệ thống ngân hàng ra đời
muộn hơn nhiều. Lúc đầu chỉ là hoạt động đổi chác tiền đúc của các thương

7
nhân đã hình thành nên một nghề mới - nghề ngân hàng. Nghề ngân hàng
trong thời kỳ đầu chỉ bao gồm những nghiệp vụ đơn giản như: đổi tiền, nhận
tiền gửi, bảo quản tiền, thanh toán chuyển tiền và cho vay. Trong đó nghiệp
vụ cho vay mang tính chất cho vay nặng lãi, cho nên các ngân hàng thời kỳ
này được gọi là ngân hàng cho vay nặng lãi. Trong điều kiện lưu thông tiền
kim loại, các chủ cửa hàng vàng bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền
và cho vay nặng lãi. Họ là những người làm nghề kinh doanh tiền tệ hay còn
gọi là nhà buôn tiền. Đầu tiên những nhà buôn tiền đã sử dụng vốn tự có để
cho vay, nhưng điều đó không kéo dài. Từ hoạt động thực tiễn hộ nhận thấy
thường xuyên có người gửi tiền vào và có người lấy tiền ra, song tất cả người
gửi tiền không rút tiền cùng lúc, đã tạo số dư thường xuyên trong két. Do tính
chất vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dung tạm thời một phần tiền
gửi của khách hàng để cho vay. Hoạt động này làm thay đổi hoạt động cơ bản
của nhà buôn tiền - kẻ cho vay nặng lãi thành nhà buôn tiền - ngân hàng.
Khi mới ra đời, ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu là cho vay

khách hàng và ngân hàng. Đây là nguồn vốn lớn và ổn định phù hợp với cho
vay có kỳ hạn của ngân hàng thương mại.
- Vay vốn của các ngân hàng
+ Vay vốn của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng được thực
hiện qua thị trường liên ngân hàng.
+ Vay vốn của ngân hàng Trung ương được thực hiện thông qua hình thức tái
cấp vốn, vay bổ sung vốn thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thương mại và
vay khi ngân hàng mất khả năng thanh toán.
- Huy động vốn trong thanh toán và vốn khác:
+ Trong quá trình thực hiện chức năng trung gian thanh toán ngân hàng không
dùng tiền mặt theo lệnh của khách hàng, như vậy ngân hàng đã huy động
được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức: tiền ký quỹ vào tài khoản
tiền gửi thanh toán, tiền chu chuyển trong thanh toán.
+ Khi thực hiện các dịch vụ ngân hàng huy động được vốn ủy thác đầu tư, tài
trợ của Chính phủ hoặc bên nước ngoài. Trong thời gian chờ giải ngân, ngân
hàng thương mại có thể huy động làm nguồn vốn kinh doanh.

9
1.2.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn.
Sử dụng vốn là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sử dụng vốn
ngày càng đa dạng và được thực hiện dưới nhiều hình thức:
- Ngân hàng thương mại cho vay đối với khách hàng:
+ Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng. Nó là loại cho
vay phổ biến của ngân hàng thương mại nhằm bổ sung vốn lưu động cho
khách hàng.
+ Cho vay trung và dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng. Loại cho
vay này để khách hàng thực hiện các chương trình, dự án phát triển kinh tế.
Mặt khác loại cho vay này cũng phù hợp với khả năng huy động vốn theo
chiều hướng gia tăng của ngân hàng thương mại và nhu cầu đa dạng của đối

1.2.2. Quan niệm hiệu quả cho vay
Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được so
với hao phí lao động, vật tư, tài chính. Đây là chỉ tiêu phản ánh trình độ và
chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất, kinh doanh, nhằm đạt được kết
quả tối đa so với chi phí tối thiểu.
Thu nhập từ lãi vay chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập của
NHTM. Tuy nhiên, với mỗi đồng vốn bỏ ra thì hiệu quả không chỉ đánh giá
dựa trên lợi ích của ngân hàng mà còn được xem xét từ góc độ tiện ích mà
khách hàng nhận được khi sử dụng sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp.
Như vậy, hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM được hiểu là việc đáp
ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
xã hội của đất nước, phù hợp với chiến lược, phát triển của ngân hàng và
mang lại hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trên
cơ sở đảm bảo an toàn và sinh lợi cho ngân hàng.
Hiệu quả cho vay là sự thống nhất lợi ích giữa khách hàng, ngân hàng
và nền kinh tế quốc dân. Điều này biểu hiện ở:
- Đối với khách hàng thì hiệu quả cho vay là việc sử dụng vốn có hiệu
quả trong sản xuất kinh doanh, trong mục đích vay vốn

11
- Đối với ngân hàng thì hiệu quả cho vay là việc thu nợ đúng hạn, giảm
thiểu tối đa rủi ro tín dụng, hoạt động cho vay đạt được các tiêu chuẩn về hiệu
quả đặt ra và phù hợp với mục tiêu phát triển của ngân hàng.
- Đối với nền kinh tế quốc dân thì hiệu quả cho vay phải gắn liền với
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Do vậy, hiệu quả cho vay đối với DNNVV của NHTM là việc ngân
hàng đáp ứng được nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp một cách phù hợp với
khả năng của ngân hàng và đảm bảo cho sự phát triển của ngân hàng. Điều
này thể hiện ở mức độ an toàn của các khoản vay, mức độ hài lòng của doanh
nghiệp. Hiệu quả cho vay được đảm bảo trên nguyên tắc khoản vay được

Dư nợ đối với DNNVV kỳ này
Tốc độ tăng dư nợ (T) =
Dư nợ đối với DNNVV kỳ trước
Trong đó: T>1 thể hiện sự tăng trưởng cho vay ngắn hạn với DNNVV
so với kỳ trước . Nếu T≤ 1 chứng tỏ hoạt động cho vay DNNVV của ngân
hàng chưa hiệu quả. Việc không cho phép tăng trưởng quá nóng trong hoạt
động cho vay để tập trung phân tích và đánh giá, sang lọc doanh nghiệp đòi
hỏi các NHTM phải duy trì T>1 và ổn định.
Thứ ba, hệ số sử dụng vốn vay
Hệ số này phản ánh kết quả sử dụng vốn của NHTM, được tính như sau:
Tổng dư nợ đối với DNNVV
Hệ số sử dụng vốn vay DNNVV =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này nhằm đánh giá tỷ trọng cho vay đối với DNNVV đã phù
hợp với khả năng đáp ứng của ngân hàng cũng như đòi hỏi về vốn vay của
nền kinh tế hay chưa.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô cho vay cho thấy khả năng của ngân
hàng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn vay của DNNVV, thể hiện khả năng
cạnh tranh cũng như thu hút khách hàng của ngân hàng, từ đó tăng lợi nhuận
từ hoạt động cho vay. Điều này thể hiện phần nào hiệu quả hoạt động cho vay

13
đối với DNNVV của ngân hàng. Tuy nhiên, khi đánh giá các chỉ tiêu trong
nhóm này không thể xem xét trong một thời kì riêng rẽ mà phải đặt trong một
quá trình liên tục để có được sự đánh giá chính xác nhất. Tổng dư nợ cao
chưa chắc hiệu quả cho vay đã cao. Vì thế, để đánh giá hiệu quả không thể chỉ
dựa vào tăng trưởng các khoản cho vay mà cần phải xem xét đến khả năng
sinh lời và an toàn của các món vay.
Thứ tư, nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn của DNNVV
- Nợ quá hạn là khoản nợ mà người vay không trả được khi đến hạn mà

NHTM
1.3.1. Các nhân tố chủ quan:
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng, các
ngân tố này hoàn toàn có thể điều chỉnh và khắc phục được. Các nhân tố chủ
quan bao gồm những nhân tố sau:
Thứ nhất, chính sách cho vay đối với DNNVV: Chính sách cho vay
đối với DNNVV là một thiết chế đồng nhất bằng văn bản, nhằm xác định
phương hướng sử dụng vốn, phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng.
Chính sách cho vay là một bản hướng dẫn chung cho các cán bộ tín dụng và
các nhân viên trong ngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích
các khoản cho vay để tạo sự thống nhất chung trong hoạt động cho vay. Một
chính sách cho vay bao gồm: chính sách khách hàng, chính sách về giới hạn
và quy mô tín dụng, chính sách về lãi suất và phí suất tín dụng, chính sách về
kì hạn nợ và thời hạn cho vay, chính sách về các khoản đảm bảo và chính
sách đối với các khoản cho vay có vấn đề.
Chính sách cho vay tác động lớn tới hiệu quả cho vay đối với DNNVV
của ngân hàng. Nếu chính sách cho vay phù hợp, sẽ giúp ngân hàng mở rộng
các khoản cho vay khi tình hình thuận lợi để tăng lợi nhuận và thu hẹp các
khoản cho vay khi tình hình bất lợi nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro ngân hàng.
Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng như hiện nay,
các ngân hàng thường đưa ra nhiều chính sách để thu hút khách hàng đến với
mình. Đối tượng mục tiêu, tiềm năng mà các ngân hàng hướng đến là khác
nhau, phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh và khả năng của các ngân hàng.

15
Các DNNVV tuy có quy mô không lớn, quy mô các khoản vay thường không
lớn bằng các doanh nghiệp lớn, tuy nhiên tổng số lượng DNNVV lại là rất
lớn. Vì thế, nhiều ngân hàng đã hướng tới đối tượng này và đặt ra nhiều chính
sách ưu tiên cho các DNNVV. Việc này làm cho các DNNVV dễ dàng tiếp
cận với nguồn vốn của ngân hàng hơn cũng từ đó qui mô cho vay đối với

là quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong
hoạt động cho vay của ngân hàng mặc dù số vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ.
Quy mô vốn chủ sở hữu là căn cứ để xác định tỷ lệ đảm bảo an toàn trong
hoạt động ngân hàng và quyết định giới hạn của khoản vay.
Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động cũng đóng vai trò quan trọng không
kém, có ảnh hưởng trực tiếp đến kết cấu của khoản mục cho vay. Quy mô của
nguồn này lớn sẽ làm cho các ngân hàng có khả năng cho vay tăng lên, đặc
biệt là các khoản cho vay đối với DNNVV. Thời hạn, cơ cấu, lãi suất của
nguồn vốn huy động cũng quyết định phần nào đến thời hạn, cơ cấu, lãi suất
của các khoản cho vay.
Thứ tư, hoạt động quản lý rủi ro đối với các khoản cho vay: Hoạt
động quản lý rủi ro đối với các khoản cho vay là một hoạt động ẩn chứa nhiều
rủi ro, vì thế việc quản lý rủi ro cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả cho
vay của ngân hàng. Mỗi một ngân hàng khác nhau sẽ có những cách quản lý
rủi ro cho các khoản vay của mình khác nhau.
Có ngân hàng cho rằng, việc sử dụng tài sản đảm bảo cho món vay của
khách hàng là quan trọng nhất vì khi người đi vay không có khả năng trả nợ
thì ngân hàng có thể siết nợ từ chính tài sản đó. Trong điều kiện các ngân
hàng đang tăng mạnh về số lượng như hiện nay thì cách này được xem như là
không hữu hiệu trong việc tăng hiệu quả cho vay. Có thể vì một lý do nào đó
mà doanh nghiệp gặp khó khăn, không đủ trả nợ cho ngân hàng đúng hạn và
nếu ngân hàng lập tức siết nợ tài sản đảm bảo của khách hàng thì chỉ làm cho
tình hình sẽ trở nên xấu hơn và khả năng mối quan hệ giữa ngân hàng và
doanh nghiệp sẽ bị phá bỏ. Điều này đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ mất đi
nguồn khách hàng của mình, ngoài ra việc này sẽ còn kéo theo sự dè chừng,
cân nhắc thận trọng của các doanh nghiệp khác khi muốn đặt quan hệ vay
mượn tại ngân hàng. Do đó, việc quản lý rủi ro như thế nào cũng sẽ ảnh

17
hưởng không nhỏ đến hiệu quả cho vay nói chung và với đối tượng là

tăng khả năng phòng ngừa rủi ro, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động
cho vay đối với doanh nghiệp.
1.3.2. Các nhân tố khách quan:
1.3.2.1. Các nhân tố xuất phát từ DNNVV:
Hiệu quả của hoạt động cho vay đối với DNNVV không chỉ phụ thuộc
vào các nhân tố xuất phát từ chủ quan của ngân hàng mà còn chịu ảnh hưởng
trực tiếp từ DNNVV.
- Năng lực tài chính của DNNVV: Năng lực tài chính của DNNVV là
một nhân tố quan trọng đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp, thể hiện qui mô vốn chủ sở hữu và tỷ trọng vốn chủ sở hữu
trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Một doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu quá
nhỏ sẽ ít có khả năng chống chọi với những hoàn cảnh bất lợi. Thông qua việc
ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó sẽ
tác động lên hiệu quả cho vay đối với những doanh nghiệp đó của ngân hàng.
Nguồn tài chính hạn bị hạn chế, sẽ làm giảm khả năng vay vốn của doanh
nghiệp. Để đảm bảo an toàn cho mình, ngân hàng luôn yêu cầu một tỷ lệ vốn
tự có nhất định trong tổng vốn hoạt động hay trong tổng nhu cầu vốn của
phương án sử dụng vốn vay. Ngoài ra, năng lực tài chính còn thể hiện ở khả
năng thanh toán của doanh nghiệp, tính thanh khoản của tài sản doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt, vốn chủ sở hữu thích hợp thì hạn
mức cho vay sẽ lớn hơn, sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu tài trợ của chính bản thân
doanh nghiệp.
- Triển vọng kinh doanh của DNNVV: Khi đưa ra quyết định cho vay,
ngân hàng không chỉ đánh giá các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp mà còn
chú trọng đánh giá các chỉ tiêu phi tài chính như uy tín, năng lực quản lý, triển
vọng phát triển của doanh nghiệp. Khi một mối quan hệ tín dụng được hình
thành, thì lợi ích của ngân hàng sẽ gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp nào hoạt động trong ngành, lĩnh vực được ưu tiên,
khuyến khích phát triển sẽ có nhiều cơ hội kinh doanh và phát triển, như thế
ngân hàng có nhiều đảm bảo để ra quyết định cho vay. Nếu ngân hàng cho

hội có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay đối với DNNVV của ngân
hàng thương mại. Một khu vực có nền chính trị ổn định, kinh tế đang trên đà

20

Trích đoạn Xây dựng quy trình cho vay chặt chẽ, đơn giản hóa thủ tục Đối với NHNN Việt Nam Đối với Ngân hàng công thương Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status