TRƯỜNG CÁN BỘ THANH TRA
LỚP ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ THANH TRA
VIÊN CHÍNH K 37-2010
TIỀU LUẬN
Đề tài:
XÂY DỰNG QUY TRÌNH THANH TRA, GIÁM SÁT TRÊN CƠ SỞ
RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM
Họ và tên : ĐÀO QUỐC TÍNH
Chức vụ : Phó chánh thanh tra, giám sát
kiêm Cục trưởng Cục phòng
chống rửa tiền.
Cơ quan : Cơ quan thanh tra, giám sát
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nghệ An, ngày 20 tháng 10 năm 2010
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Có thể nói, điểm khác biệt nổi bật quy trình thanh tra, giám sát trên cơ sở
rủi ro với quy trình thanh tra, giám sát tuân thủ là việc ưu tiên các mối quan
tâm thanh tra và điều chỉnh các hoạt động thanh tra giám sát hướng vào các tổ
chức tín dụng có rủi ro tổng thể lớn nhất trong toàn bộ hệ thống tổ chức tín
dụng một cách kịp thời và hiệu quả. Ở mức độ từng tổ chức tín dụng, thanh
tra trên cơ sở rủi ro cho phép các thanh tra viên hướng các hoạt động thanh tra
tại chỗ vào các lĩnh vực có rủi ro lớn nhất của mỗi tổ chức tín dụng. Cơ quan
thanh tra giám sát ngân hàng nhờ đó sẽ sử dụng các nguồn lực có hạn của
mình một cách có hiệu quả hơn. Tổ chức tín dụng được hiểu bao gồm các
ngân hàng và tổ chức phi ngân hàng.
Để thực hiện thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro, trước hết cần hiểu thế
nào là rủi ro, hệ thống quản lý rủi ro tại các tổ chức tín dụng hoạt động như
thế nào.Các khái niệm rủi ro được trình bày trên cơ sở nghiên cứu thông lệ
quốc tế và thực trạng của Việt Nam. Có nhiều cách phân loại các loại rủi ro
trong hoạt động ngân hàng, thực tế hoạt động của các tổ chức tín dụng Việt
liên quan đến rủi ro đó.
Khi kết hợp kết quả của việc kiểm tra giao dịch, xem xét kết quả hoạt
động của tổ chức tín dụng (các chỉ tiêu về tài chính, các chỉ số an toàn) và kết
quả đánh giá bốn quy trình quản lý rủi ro, chúng ta sẽ có thể có được kết luận
về mức độ rủi ro của các loại rủi ro mà ta đang xem xét, xu hướng của loại rủi
2
ro đó, từ đó rút ra được trạng thái rủi ro ròng của loại rủi ro đó. Phương pháp
để có được kết luận này được hướng dẫn tại Ma trận rủi ro
Các thanh tra viên cũng sẽ tìm thấy các câu hỏi sau đây "có phù hợp hay
không", " có đầy đủ hay không" xuất hiện. Trả lời câu hỏi đó không đơn
giản, bởi đó là các câu hỏi định tính, phụ thuộc vào quan điểm, cách đánh giá
của mỗi thanh tra viên.
Đó cũng chính là một trong những điểm khó nhất của thanh tra trên cơ sở
rủi ro, vì chúng ta phải kết hợp các đánh giá định lượng với các đáng giá định
tính, mà đánh giá định tính đòi hỏi thanh tra viên phải có kiến thức và kỹ năng
thật tốt.
Công việc của mỗi thanh tra viên được chuẩn hoá, rủi ro của các tổ chức
tín dụng và của toàn hệ thống sẽ được thanh tra, giám sát hiệu quả hơn.
I. Mô tả tình huống:
1. Khái niệm thanh tra giám sát tuân thủ trong hoạt động thanh tra,
giám sát các tổ chức tín dụng
Thanh tra, giám sát tuân thủ là một loại thanh tra, giám sát truyền thống.
Ở loại thanh tra, giám sát này được dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật,
các quy định của nội bộ để thực hiện thanh tra, giám sát. Thanh tra giám sát
tuân thủ các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào so sánh
giữa hoạt động diễn ra thực tế và các quy định hiện hành. Các căn cứ để thực
hiện thanh tra, giám sát tuân thủ là Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật
các tổ chức tín dụng, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, các quy
định nội bộ của các tổ chức tín dụng.
Như vậy có thể hiểu thanh tra, giám sát tuân thủ các tổ chức tín dụng là
Rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng có nghĩa là xác định, đánh giá lượng hoá
các rủi ro đã được nhận dạng.
Các phương pháp đo lường rủi ro bao gồm đo lường giá trị danh nghĩa;
tính theo phần trăm của tổng (vốn, tải sản có, tiền gửi ) theo độ biến động;
khả năng tổn thất, hoặc kết hợp các yếu tố này.
Đo lường và đánh giá rủi ro cho phép Hội đồng quản trị thiết lập chính
sách đối với các hoạt động có rủi ro của tổ chức tín dụng, từ đó ban hành các
quy trình quản lý rủi ro thống nhất trong toàn hệ thống.
* Giám sát và báo cáo rủi ro
Các rủi ro phải được đo lường, đánh giá và xem xét định kỳ để hiểu một
cách thấu đáo về cách nhận biết rủi ro đang được sử dụng và để có được dự
đoán tốt hơn về số tiền và hậu quả của các hoạt động và các trạng thái rủi ro
trong tương lai.
Hệ thống thông tin quản lý bao gồm tất cả các báo cáo được lập và được
tổ chức tín dụng sử dụng. Nhiệm vụ giám sát yêu cầu Hội đồng quản trị và
Ban điều hành phải xem xét hệ thống thông tin quản lý ở cấp tổng quát nhất
để xác định xem các chính sách và chiến lược có được tuân thủ hay không.
* Kiểm soát và giảm thiểu rủi ro
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng được kiểm soát dựa trên việc sử dụng
một cách thận trọng 3 yếu tố đầu tiên (nhận dạng rủi ro; đo lường và đánh giá
rui ro; giám sát và báo cáo rủi ro).
Hội đồng quản trị và Ban điều hành tiến hành từng bước để giảm thiểu
các ảnh hưởng bất lợi có thể có của các loại rủi ro mà tổ chức tín dụng gặp
phải. Việc này được tiến hành thông qua quan điểm chỉ đạo và xem xét định
kỳ các chiến lược, chính sách, các giới hạn, các quá trình, thủ tục đã được
5
thiết lập đầy đủ tại các cấp trong hệ thống tổ chức; sử dụng các chuyên gia khi
cần thiết; Giám sát thường xuyên hệ thống thông tin quản lý; và thực hiện một
hệ thống kiểm soát nội bộ toàn diện.
Hệ thống kiểm soát nội bộ được Ban điều hành thiết lập thông qua các
đó, đã không phát hiện được rủi ro trong hoạt động của từng tổ tổ chức tín
dụng và rủi ro của cả hệ thống tín dụng.
Từ thực tiễn và những khái niệm truyền thống về thanh tra, giám sát ngân
hàng đặt ra trong công tác thanh tra, giám sát, hiện nay phải kết hợp giữa
thanh tra, giám sát tuân thủ (chấp hành pháp luật, quy định nội bộ) với thanh
tra, giám sát các tổ chức tín dụng trên cơ sở rủi ro.
II. Phân tích tình huống
Quá trình thanh tra trên cơ sở rủi ro của Cơ quan Thanh tra, giám sát
ngân hàng bao gồm các phần cụ thể được thiết kế tập trung vào các nguyên
tắc cơ bản và đảm bảo giám sát là một quy trình liên tục tập trung vào rủi ro
tại mỗi tổ chức tín dụng và trong toàn bộ hệ thống tín dụng.
Quy trình thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là một quy trình liên tục
tập trung đồng thời vào một chủ đề:
Ở cấp độ hệ thống: so sánh độ rủi ro và hoạt động của tổ chức tín
dụng này với tổ chức tín dụng khác, lập thứ tự ưu tiên các tổ chức
tín dụng cần được thanh tra tại chỗ.
Ở cấp độ tổ chức tín dụng: xem xét các hoạt động của mỗi tổ chức
tín dụng và tính đầy đủ của quy trình quản lý rủi ro của tổ chức tín
dụng; xác định tổ chức tín dụng nào cần quan tâm, cần làm gì và
khi nào;
7
Ở cấp độ lập kế hoạch thanh tra tại chỗ: đánh giá các rủi ro tiềm ẩn
trong các hoạt động; tính đầy đủ của quy trình quản lý rủi ro của tổ
chức tín dụng; xác định lĩnh vực cần được kiểm tra; xác định nhu
cầu về thời gian; các yêu cầu về nhân lực thanh tra tại chỗ và đề ra
yêu cầu cho mỗi loại báo cáo cụ thể;
Ở cấp độ báo cáo, kết luận thanh tra: báo cáo, kết luận về hoạt
động thanh tra tại chỗ, chỉ rõ các phát hiện, các yêu cầu đối với
ban lãnh đạo tổ chức tín dụng.
Cấp độ sửa chữa sai lầm: Buộc Ban điều hành và thành viên Hội
Tình hình rủi ro của các tổ chức tín dụng có thay đổi như thế nào? Có
rủi ro mới nào không? Khi nào thì tổ chức tín dụng cần được thanh tra tại chỗ
tiếp theo? Tóm tắt tình hình rủi ro.
Tiếp sau phần giới thiệu về các cấp độ quan tâm khác nhau có xem xét
đến các câu hỏi và các công cụ được sử dụng là phần giới thiệu về Quy trình
thanh tra, giám sát.
Quy trình thanh tra, giám sát bao gồm các bước sau:
1. Tìm hiểu và đánh giá rủi ro của tổ chức tín dụng.
2. Lập kế hoạch thanh tra
3. Thành lập đoàn thanh tra và công tác chuẩn bị của đoàn
4. Hoạt động thanh tra tại chỗ
5. Báo cáo kết quả thanh tra và ban hành Kết luận thanh tra
6. Giám sát liên tục đối với các tổ chức tín dụng
Bước 1,2,6 liên quan đến việc lập kế hoạch, dành ưu tiên và giám sát;
những bước này thường được hoàn thành tại Ngân hàng Nhà nước bởi bộ
9
phận giám sát từ xa, bộ phận phân tích, Ban lãnh đạo Cơ quan Thanh tra,
giám sát ngân hàng, và bởi thanh tra viên tại chỗ được giao nhiệm vụ giám sát
và báo cáo về tổ chức tín dụng giữa các kỳ thanh tra.
Bước 3,4 và 5 liên quan đến việc xác định, thực hiện báo cáo và ra Kết
luận Thanh tra; Những bước này được hoàn thiện bởi đoàn thanh tra tại chỗ
với kết luận và các biện pháp sửa chữa do Chánh Thanh tra, giám sát ngân
hàng đưa ra.
Vì hoạt động giám sát trên cơ sở rủi ro nhằm mục đích kiểm soát rủi ro
liên tục, việc hiểu biết về mỗi tổ chức tín dụng là điểm bắt đầu tốt nhất. Các
thanh tra viên nên có quy trình phù hợp để phát triển và duy trì việc hiểu biết
toàn diện về tình hình rủi ro của mỗi tổ chức tín dụng là (BƯỚC 1).
Khi rủi ro của mỗi tín dụng đã rõ ràng thì thanh tra, giám sát viên có thể
đánh giá các rủi ro đó trong hệ thống tổ chức tín dụng và đặt ra thứ tự ưu tiên
cho các nhiệm vụ thanh tra cần thực hiện. Phải có sự ưu tiên này trong toàn hệ
ghi chép lại các hoạt động và các phát hiện trong mỗi cuộc thanh tra. Hồ sơ
thanh tra được thảo luận với Trưởng đoàn và nộp cho Trưởng đoàn Tiến
hành hoạt động thanh tra là (BƯỚC 4).
Trưởng đoàn là người viết báo cáo thanh tra, báo cáo thanh tra là báo cáo
chính thức về những phát hiện của đoàn thanh tra. Chánh Thanh tra, giám sát
ngân hàng đánh giá về những phát hiện và đánh giá về quản lý rủi ro của đoàn
thanh tra và xem xét liệu có cần thiết phải áp dụng hình thức xử phạt hoặc
biện pháp chỉnh sửa nào không. Các biện pháp chỉnh sửa tương ứng với mức
độ sai phạm của từng tổ chức tín dụng. Kết luận và các biện pháp sửa chữa là
sản phẩm chính của (BƯỚC 5).
11
Nếu Chánh Thanh Tra, giám sát ngân hàng yêu cầu áp dụng các biện
pháp sửa chữa, Ngân hàng Nhà nước giám sát tiến trình tổ chức tín dụng đáp
ứng các yêu cầu do Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng đưa ra. Các báo cáo
định kỳ của tổ chức tín dụng cung cấp cho cơ quan thanh tra, giám sát những
thông tin cần thiết để quyết định mức độ đầy đủ tất cả các yêu cầu, Chánh
Thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ chấp thuận việc thực hiện của tổ chức tín
dụng. Đây là một phần quan trọng trong bước 6, bởi vì nó áp dụng đối với tất
cả các tổ chức tín dụng mà Chánh thanh tra, giám sát ngân hàng yêu cầu áp
dụng các hình thức xử phạt hoặc biện pháp chỉnh sửa.
Việc giám sát liên tục được áp dụng cho tất cả các tổ chức tín dụng, bất
kể các biện pháp chỉnh sửa có được áp dụng hay không. Các thanh tra viên
được chỉ định từ mỗi phòng/ban thanh tra của Ngân hàng Nhà nước làm việc
với các dữ liệu giám sát từ xa (các báo cáo định kỳ từ mỗi tổ chức tín dụng,
phân tích về hệ thống tổ chức tín dụng, phân tích an toàn vi mô, ) và từ chính
sách các tổ chức tín dụng để có thể giám sát liên tục. Các thanh tra viên này
lập một báo cáo tổng quan về rủi ro của từng tổ chức tín dụng ít nhất là theo
từng quý hoặc bất kỳ khi nào mà trạng thái rủi ro của các tổ chức tín dụng
thay đổi. Giám sát liên tục là (BƯỚC 6).
III. Phương án giải quyết
hiện các hoạt động mới, mở chi nhánh mới, hoặc thay đổi về sở hữu. Dự kiến
xảy ra là lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước biết sẽ có những thay đổi này qua tiếp
xúc với tổ chức tín dụng. Người lập phải sử dụng thông tin thu nhập được để
13
hoàn thành mục "Thông tin và Cơ cấu cơ bản" của bản tình hình tổ chức tín
dụng và chiến lược thanh tra.
Nếu không có báo cáo thanh tra tại chỗ hợp nhất được lập trong 2 năm
trước thì người lập phải tập trung vào báo cáo thanh tra của từ 3 đến 5 chi
nhánh lớn nhất. Qua việc xem xét các báo cáo này, người lập có thể xác định
được các nội dung chính và xu hướng nêu trong cuộc thanh tra trước. Kết luận
của cuộc thanh tra trước, số lượng và bản chất của các trường hợp ngoại lệ và
vi phạm luật pháp, phản hồi của Ban điều hành, các biện pháp chỉnh sửa của
Ngân hàng Thương mại, tất cả những nội dung này cần được tóm lược trong
mục "Kết quả của cuộc thanh tra trước".
Báo cáo kiểm toán cuối năm trước: Lấy từ hồ sơ của Ngân hàng Nhà
nước một bản copy báo cáo của kiểm toán độc lập về tổ chức tín dụng năm
gần nhất. Tóm lược các phát hiện và kết luận trong mục "tóm tắt tình hình
hiện tại". Phần này chỉ nên gồm một số đoạn văn và chỉ nêu các phát hiện và
kết luận ở mức cao nhất của báo cáo kiểm toán. Nhận xét về những khiếm
khuyết của hệ thống quản lỷ rủi ro của tổ chức tín dụng nếu có cần được đưa
vào phần tóm tắt này.
Báo cáo quý hiện tại (bảng cân đối, báo cáo thu nhập chi phí và các bảng
biểu hỗ trợ): Các tài liệu này có được thông qua giám sát từ xa. Cầm xem số
liệu cuối năm của hai năm gần nhất và cuối quý gần nhất. Dữ liệu của các tài
liệu này sẽ được sử dụng trong suốt quá trình lập kế hoạch cũng như trong
cuộc thanh tra để thiết lập các mức và xu hướng dữ liệu cần được rà soát. Đa
số các dữ liệu đều được đưa vào mục "Tóm tắt tình hình hiện tại". Chú ý rằng
các thông tin của bảng cân đối được thể hiện bằng số phần trăm so với tổng
tài sản. Điều này cho phép xem xét nhanh các hoạt động có rủi ro và mức độ
của chúng đối với tổ chức tín dụng. Không dùng số tuyệt đối trong mục này.
chú ý:
Chiến lược phải phản ánh tình hình tài chính của tổ chức tín dụng, thông
tin về mặt mạnh, mặt yếu của tổ chức tín dụng, các lĩnh vực rủi ro chủ yếu
dựa trên tình hình và kết quả hoạt động, các vấn đề cần lưu tâm của kiểm toán
viên, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước, giám sát từ xa hay của thanh tra viên.
Chính sách phải nêu rõ và ngắn gọn các lĩnh vực rủi ro cần được kiểm tra
(cái gì) và thời gian cần tiến hành thanh tra (khi nào).
Mặc dù chiến lược thanh tra được đề xuất là nội dung chủ yếu, việc đưa
ra khuyến nghị này trong chu kỳ giám sát đầu tiên có thể là rất khó khăn.
Chiến lược được đề xuất là những ước tính tốt nhất của thanh tra viên về
những lĩnh vực rủi ro cần xem xét. Nó được dựa trên mức độ và xu hướng của
các rủi ro cố hữu trong và ngoại bảng cân đối, sự hiểu biết về kế hoạch kinh
doanh và quy trình quản lý của tổ chức tín dụng, và những hiểu biết của thanh
tra viên về cách thức mà những nội dung này kết hợp với nhau để dẫn tới
trạng thái rủi ro ròng của tổ chức tín dụng trong hệ thống tổ chức tín dụng
Việt Nam.
Tài liệu này phải được người lập hoàn thiện, được Vụ trưởng giám sát,
Vụ trưởng Thanh tra tại chỗ đồng ý và trình ban lãnh đạo Cơ quan Thanh tra,
giám sát ngân hàng để phê duyệt. Việc cần phê duyệt đối với tài liệu này phản
ánh bản chất chiến lược của nó. Khi được phê duyệt, bản tình hình và chiến
lược sẽ hướng dẫn phương pháp thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
đối với từng tổ chức tín dụng.
Tiếp theo là các bước lập ma trận rủi ro, đánh giá quy trình quản lý rủi
ro, hệ thống quản lý, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ,
16
lập kế hoạch thanh tra, xác định các hoạt động thanh tra, quyết định thanh tra,
phạm vi thanh tra, soạn thư yêu cầu đến tổ chức tín dụng, các cuộc thanh tra
tại chỗ và báo cáo kết quả thanh tra và các bước giám sát thường xuyên tổ
chức tín dụng.
17