QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG - Pdf 23

Luật kinh tế
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Phan Khắc Minh, Phạm Lê Phương Thảo,
Đỗ Thị Kim Cương.
Sự phát triển của kinh tế đã làm cho nhu cầu vốn của những nhà đầu tư không
ngừng tăng lên. Hơn bao giờ hết vai trò của các tổ chức tín dụng càng được khẳng
định. Nhưng trong xu thế kinh tế thế giới hiện nay có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng làm
biến động thị trường tài chính gây ra những rủi ro trong vấn đề tín dụng từ đó, làm
lung chuyển hệ thống tài chính – huyết mạch của nền kinh tế, do đó buộc nhà nước
của mỗi quốc gia phải đưa ra những quy định cũng như quy chế để quản lý những
rủi ro này.
Xuất phát từ cơ sở trên cũng như tính quan trọng của vấn đề nên trọng tâm bài viết này sẽ
nhằm vào bốn vấn đề chính: thứ nhất, các rủi ro trong trong vấn đề thực hiện tín dụng của
các tổ chức tín dụng. Với phần một này chúng tôi sẽ tập trung trả lời câu hỏi cơ sở nào mà
những quy chế rủi ro đối với các tổ chức tín dụng? thứ hai, đó là hạn chế trong quy chế
quản lý rủi ro đối với các tổ chức tín dụng theo luật Việt Nam. Phần này trên cơ sở phân
tích các cơ chế quản lý chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi những mặt mạnh cũng như hạn chế
của luật tín dụng Việt Nam như thế nào? Thứ ba, các đề nghị để bổ sung cho luật tín
dụng 2010. Trong phần này trên cơ sở phân tích các quy chế quản lý rủi ro đối với các tổ
chức tín dụng theo luật của Việt Nam và những rủi ro của tín dụng nhóm chúng tôi sẽ tập
trung trả lời câu hỏi với những vấn đề đang phát sinh như phần một và hai đã phân
tích thì đâu là giải pháp tốt nhất cho luật Việt Nam?. Và phần cuối cùng là kết quả
nghiên cứu. Bài viết được viết trên phương pháp lập luận, dẫn chứng số liệu, so sánh.
Nguồn số liệu sử dụng trong bài viết là nguồn thứ cấp – số liệu thống kê từ cezarysalad,
Vnexpress,…Giới hạn nghiên cứu trong phạm vi từ năm 2006 đến 2010 Giả thiết bài viết
những người đi vay là những người đầu tư. Đối tượng phân tích chính là vấn đề tín dụng
đối với ngân hàng thương mại.
1. Các rủi ro trong vấn đề thực hiện tín dụng của tổ chức tín dụng ở
Việt Nam.
Tổ chức tín dụng.
Theo luật tổ chức tín dụng năm 2010 (luật số: 47/2010/QH12) thì:

cho người sử dụng trong một thời gian nhất định và với một khoảng chi phí nhất định. Với
mối quan hệ như trên nhưng không có yếu tố chịu chi phí thì đó không phải là tín dụng.
Như ở trên đã nói trong bài viết này tập trung nghiên cứu về đối tượng ngân hàng thương
mại để đại diện cho tổ chức tín dụng, vì rằng suy cho cùng ngân hàng thương mại là cơ sở
để hình thành các tổ chức khác nên nó có những ảnh hưởng nhất định đến hệ thống tín
dụng. Chính vì vậy nhóm chúng tôi sẽ tập trung phân tích những rủi ro tín dụng đối với đối
tượng này để làm cơ sở cho phần phân tích tiếp theo.
Vậy là trong quan hệ tín dụng thì gồm có hai đối tượng chủ yếu là người cho vay mà ở đây
là các ngân hàng thương mại và người đi vay là những người đầu tư. Những nhà đầu tư
này sẽ dùng số tiền vay được đó để đầu tư vào sản xuất, hoạt động tài chính,… sau đó
dùng tiền thu được để trả nợ gốc lẫn lãi cho ngân hàng và phần còn dư lại thì tích lũy tái
sản xuất. Như vậy điều gì sẽ xãy ra nếu như quá trình đầu tư đó không thuận lợi, nhà đầu
tư không thu được vốn và ngân hàng không thu được nợ. Dĩ nhiên ở đây chúng ta không
nói một vài cá nhân đi vay mà nói là một tập thể những người đi vay. Điều này sẽ làm cho
Trang 2
Luật kinh tế
hoạt động của ngân hàng bị đình trệ, chậm cung vốn lại từ đó làm nền kinh tế bị ngưng
động. Vậy xuất phát từ những nguyên nhân nào?
Vâng tất nhiên là phải kể đến sự biến động không thể ngờ của nền kinh tế thế giới cũng
như thị trường tài chính thế giới. Ví dụ như vào năm 2007 khi mà thị trường bất động sản
ở Mỹ đang ở đỉnh cao chính điều này cũng có tác động đến thị trường bất động sản Việt
Nam. Phải nói vào thời gian này thì hoạt động thị trường bất động sản Việt Nam vô cùng
sôi động. Việc nhà đầu tư vay tiền và thanh toán cho ngân hàng thương mại diễn ra liên
tục. Nhưng sau khi bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ tan thì không những nó đóng băng thị
trường bất động sản Mỹ mà nó còn tỏa hơi lạnh đóng băng luôn thị trường bất động sản
Việt Nam. Làm cho quá trình thu nợ của các ngân hàng bị chậm trễ gây ra những khoảng
tổn thất cho các ngân hàng thương mại. Như vậy có thể nói thì môi trường kinh tế biến
động là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng nhưng nó khó có thể mà đoán
được.
Một nguyên nhân khác nữa mà nhóm chúng tôi muốn nói đến là khả năng kinh doanh kém

Mỹ suýt nữa đóng băng nếu không có những nổ lực từ phía chính phủ Mỹ cũng như FED
(cục dự trữ Liên Bang Mỹ). Bây giờ chúng ta hãy tưởng tượng nếu sự kiện đó ở Việt Nam
thì hậu quả sẽ như thế nào rất có thể hệ thống tài chính Việt Nam sẽ sụp đổ hoàn toàn do
kiến thức của người dân về tín dụng vẫn chưa thật cao về tín dụng từ đó gây ra hiện tượng
lan truyền tâm lý. Vì dù rằng bạn là những người thật am hiểu về tín dụng, nhưng ta có thể
đứng nhìn khi nhiều người cùng rút tiền mà ngân hàng không thanh toán kịp? Quay lại vấn
đề ngoài nguyên nhân chính do lợi nhuận thu hút, thì vẫn còn nhiều nhân tố khác làm cho
các ngân hàng cho vay tùy tiện đó là sự bố trí người không đúng với nghiệp vụ gây ra
những hậu quả nghiệm trọng trong việc thẩm định tài sản thế chấp,…lỏng lẻo trong công
tác quản lý sau khi cho vay, thật ra nhân tố này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc gây ra
rủi ro tín dụng vì ngân hàng không thể kiểm soát được số tiền này có dùng đúng vào mục
đích hay không? Tuy nhiên về nguyên tắc thì không cho phép ngân hàng xen vào hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp hay người đi vay. Xuất phát từ những cơ sở như trên
đặt ra yêu cầu cho những nhà làm luật quản lý rủi ro đối với các tổ chức tín dụng phải có
những cơ chế cũng như sự giám sát nào nhằm xóa bỏ nguyên nhân này?
Và nguyên nhân chính cuối cùng mà nhóm chúng tôi sẽ trình bày ngay sau đây sẽ là các
bất cập trong công tác thi hành luật tổ chức tín dụng vào trong thực tiễn. Mặc dù luật có
quy định ngân hàng được bồi hoàn bằng tài sản thế chấp nếu như người đi vay không trả
được khoản tiền đã vay. Tuy nhiên suy cho cùng thì ngân hàng thương mại vẫn là các tổ
chức kinh tế chứ không phải tổ chức chính trị do đó nó không có quyền cưỡng chế hay ép
buộc. Nếu trong trường hợp này nhờ đến tòa án thì đợi đến khi tòa án giải quyết thì ngân
hàng đã phải mất đi những lợi ích đúng ra sẽ nhận được từ khoản tiền đó trong thời gian
kiện tụng. Hay nói khác hơn là ngân hàng mất đi chi phí cơ hội của khoản tiền đó trong
thời gian chờ giải quyết. Và đây cũng là nhân tố nan giải cho những người làm luật, vì
rằng vừa phải tính toán như thế nào sao cho lợi ích của những người đi vay không bị xâm
phạm cũng như bảo vệ lợi ích cho ngân hàng? Về vấn đề này nhóm chúng tôi sẽ đề cập ở
phần sau của bài viết.
Dựa trên những nguyên nhân đã phân tích ở trên ta có thể chia rủi ro tín dụng thành hai
loại: rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan và rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ
quan. Rủi do tín dụng do nguyên nhân khách quan gồm rủi ro do môi trường kinh tế không

hàng nhà nước, các cơ quan có liên quan trong việc khắc phục hậu quả và tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho ngành ngân hàng phát triển.
Tuy nhiên bên cạnh đó còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trong luật tín dụng Việt Nam.
Theo chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu thì:
Theo điểm 5 điều 38. Quyền, nghĩa vụ của người quản lý, người điều hành tổ chức tín
dụng: Am hiểu về các loại rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Các biện pháp
phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện
pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản
thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát triển ở VN. Rủi ro tín
dụng do nguyên nhân chủ quan thì dễ phòng ngừa và có thể đoán trước được, còn rủi ro tín
dụng do nguyên nhân khách quan như rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định (Sự biến
động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới, rủi ro tất yếu của quá trình
tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế, sự tấn công của hàng nhập lậu, thiếu sự quy hoạch,
phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số
ngành) thì khó phòng ngừa, khó đoán trước mà chỉ có thể chuẩn bị đối phó ở một mức độ
nào đó chứ không thể lường trước được.
Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ
tồn tại trên hình thức, công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng rất lỏng lẻo. Mà thực tế cho
thấy kiểm tra nội bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe
càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho
cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi
tới. Như vậy điều 40. Hệ thống kiểm soát nội bộ: các quy định về kiểm tra nội bộ các
Trang 5
Luật kinh tế
ngân hàng vẫn quy định chưa rõ ràng, cụ thể từng khoản mục về cơ chế, chính sách, quy
trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng cũng như thời gian kiểm tra
định kì là bao lâu.
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể,
khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để
chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề,

lý, người điều hành tổ chức tín dụng: Trung thành với tổ chức tín dụng; không sử dụng
thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của tổ chức tín dụng, lạm dụng địa vị, chức vụ và tài
sản của tổ chức tín dụng để thu lợi cá nhân hoặc để phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân
khác làm tổn hại tới lợi ích của tổ chức tín dụng, cổ đông, thành viên góp vốn và chủ sở
hữu tổ chức tín dụng. Vấn đề này mang tính chủ quan vì đạo đức của cán bộ thì không thể
Trang 6
Luật kinh tế
đoán được, nên việc chọn được cán bộ giỏi thì dễ nhưng việc chọn cán bộ đạo đức tốt thì
khó vì thuộc phạm trù định tính nên rất khó xác định.
Tóm lại ta thấy còn rất nhiều bất cập, hạn chế trong Luật tín dụng cũng như quá trình thi
hanh luật của các ngân hàng thương mại. Những rủi ro tín dụng xảy ra cho dù có xuất phát
từ những nguyên nhân khách quan hay chủ quan đều phản ánh rõ nét những yếu kém trong
công tác quản lý rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại. Những biện pháp nhằm
ngăn ngừa, quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng chưa được các ngân hàng đưa ra và
thực hiện một cách đầy đủ, triệt để, đặc biệt là các biện pháp liên quan đến yếu tố con
người.
Đó là những vấn đề tín dụng trong nước mà luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quản lý.
Trước xu thế hội nhập, mở cửa khi mà hoạt động tài chính tín dụng không còn gói gém
trong phạm vi một quốc gia thì bao giờ nó buộc nhà làm luật cũng phải phân tích, kiểm tra,
phán đoán để từ đó đề ra những chính sách cũng như điều luật cho thích hợp. Nhưng cũng
như đã nói ở trên thì phạm vi bài viết này chỉ phân tích những vấn đề thiếu xót cũng như
hạn chế về quản lý tín dụng giới hạn trong nước trên nền tảng luật các tổ chức tín dụng
2010.
3. Các đề nghị để bổ sung cho luật các tổ chức tín dụng 2010.
Trong phần này trên cơ sở những phân tích ở trên tức là kết hợp nguyên nhân gây
nên rủi ro tín dụng cộng với những điểm còn thiếu trong luật tổ chức tín dụng 2010 nhóm
chúng tôi xin đề cử một số giải pháp mà theo nhóm chúng tôi đánh giá là quan trọng.
Thứ nhất là vấn đề chủ quan, như đã phân tích các ngân hàng thương mại suy cho
cùng cũng là những doanh nghiệp. Do vậy nó luôn mang một ham muốn mà như các
doanh nghiệp khác luôn khát khao là tìm kiếm giá trị thặng dư hay nói khác hơn là lợi

các tổ chức tín dụng 2010 như sau: Ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại
Ngân hàng Nhà nước và duy trì trên tài khoản tiền gửi này số dư bình quân không thấp
hơn mức dự trữ bắt buộc là 10% chẳng hạn hay một con số cụ thể do Ngân hàng nhà nước
quy định và con số này sẽ cố định trong suốt thời kỳ luật này còn giá trị hiệu lực. Để làm
ổn định những nhà đầu tư tín dụng vừa đảm bảo khả năng sinh lợi, vừa đảm bảo khả năng
ngân hàng nhà nước biết được khả năng của ngân hàng thương mại. Còn chính sách tiền tệ
có thể sử dụng hai công cụ còn lại là lãi suất tái chiết khấu hoặc nghiệp vụ thị trường mở.
Vì đây là những công cụ chủ lực của chính sách tiền tệ. Đồng thời với giải pháp này nhóm
chúng tôi nghỉ sẽ khắc phục được những nguyên nhân chủ quan gây ra rủi ro tín dụng.
Thứ hai là các vấn đề khách quan, như ta biết đối với những nhân tố khách quan thì khó
mà đoán được hay dự đoán chính xác được. Nhưng theo quy luật thông thường có thể thấy
dòng máu tài chính sẽ là cội nguồn của sự khủng hoảng. Bởi hai cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới mở đầu cho hai cuộc chiến tranh thế giới đặc biệt cuộc khủng hoảng 1929- 1933
và có thể thấy rõ nhất gần đây là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đều bắt nguồn từ
khủng hoảng, biến động tài chính. Nhưng có thể nhìn ra một điều rằng, các cuộc khủng
hoảng tài chính tất yếu sẽ làm cho một số ngân hàng bị sụp đổ. Như năm 2008 vừa qua ở
Mỹ cho đến thời điểm tháng 01/2010 Mỹ đã có 174 ngân hàng bị đóng cửa (Nguồn
http://www.dantri.com.vn/ ) Do vậy hơn bao giờ hết có lẻ để chống lại yếu tố này có thể so
sánh như những cơn bảo lớn bất chợt thì đòi hỏi các ngân hàng thương mại cũng như các
tổ chức tín dụng khác liên kết với nhau. Nhưng có thể nói trong lúc như vậy thì các ngân
hàng phải tự lo cho mình vì lạm phát tăng cao, khách hàng tới rút tiền nhiều để chuyển tiền
sang hình thức cất trữ khác, nhưng quỹ tiền mặt thì có hạn do vậy đồng loạt các ngân hàng
nào không thể chi trả và không nhận được trợ giúp từ ngân hàng trung ương thì phải tuyên
bố phá sản. Và đây có thể lý giải cho tình hình các nước phát triển với quá nhiều ngân
hàng thì việc giải cứu hết thực sự là khó khăn với ngân hàng trung ương. Do vậy trong
những lúc như thế này thì vấn đề đặt ra là nên có một chiếc thuyền thật lớn để chứa hết
những người mắt nạn thay vì để một chiếc thuyền to với vận tốc chậm chạp ra khơi trợ
giúp. Chính vì như thế thiết nghỉ trong điều luật các tổ chức tín dụng nên bổ sung thêm
một điều khoản trong đó quy định về việc liên kết các ngân hàng với nhau. Nhưng liên kết
bằng cách nào? Chúng tôi đề nghị liên kết bằng một tổ chức. Tức là quy định bắt buộc các

Luật kinh tế
Và đây cũng làm một trong những nguyên nhân giải thích tại sao nước Mỹ mặc dù
kinh tế khủng hoảng trầm trọng, lạm phát tăng cao trong năm 2008 (minh họa theo biểu
đồ) thì tại Mỹ, FED (Cục dự trữ liện bang Mỹ - Federal Reserve System) và Quốc hội Mỹ
đã có những hoạt động chính như sau:
Ở đây nhóm chúng tôi không lấy ví dụ về Việt Nam vì thực chất một điều tại Việt
Nam từ khi mở cửa đến nay (1986) vẫn chưa có ngân hàng thương mại nào phá sản trừ
những vụ trốn nợ làm người dân mất lòng tin vào tín dụng như hợp tác xã Thanh Hương
(năm 2005). Quay lại với vấn đề chính là chủ trương thành lập tổ chức quản lý tín dụng
mặc dù có nét giống với trường hợp ngân hàng tham gia bảo hiểm cho tiền gởi. Nhưng
cũng như đã phân tích khi tham gia bảo hiểm thì ngân hàng sẽ chịu chi phí do đó làm giảm
lợi nhuận do vậy khách hàng khó mà biết được ngân hàng có hoàn thành nghĩa vụ bảo
hiểm với khoản tiền gởi mình không?
Nói chung lại với hai bổ sung chính là bổ sung thêm vào điều 101 khoản 1 luật các
tổ chức tín dụng năm 2010 là quy định cụ thể mức tỷ lệ dự trữ bắt buộc và thêm một điều
bổ sung vào luật các tổ chức tín dụng 2010 là buộc các ngân hàng thương mại phải trở
thành thành viên của tổ chức quản lý tín dụng. Với mục đích chính tạo lòng tin cho người
dân tránh dao động khi có khủng hoảng và hạn chế được những nguyên nhân chủ quan gây
rủi ro tín dụng. Bằng cách từ ý thức tự nguyện chấp hành của các tổ chức tín dụng là
chính.
4. Kết quả nghiên cứu.
Thông qua việc phân tích các rủi ro trong vấn đề tín dụng ở Việt Nam hiện nay kết
hợp với sự phân tích những điều còn hạn chế của luật các tổ chức tín dụng năm 2010,
nhóm chúng tôi thấy rằng quả thật với sự biến đổi một cách liên tục và khó dự báo trước
được của môi trường xung quanh và các hoạt động con người thì luật đặt ra luôn có những
bất cập mà đây là vấn đề hiển nhiên. Như vậy vấn đề đặt ra là những nhà làm luật nên quy
định như thế nào để hạn chế những lỗ hỗng này? Theo nhóm chúng tôi biện pháp tốt nhất
là khắc phục bằng cách là quy định những vấn đề theo cách nó sẽ góp phần hạn chế từ ý
thức tự nguyện của đối tượng bị quản lý hơn là cưỡng chế. Dĩ nhiên là không phải thuyết
phục mà là theo cách sẽ cưỡng chế khi vi phạm theo đúng tính chất pháp luật nhưng nó sẽ

2.Những hạn chế trong quy chế quản lý rủi ro đối với các tổ chức tín dụng theo luật Việt Nam
(luật các tổ chức tín dụng 2010) 5
3.Các đề nghị để bổ sung cho luật các tổ chức tín dụng 2010 7
4.Kết quả nghiên cứu 10
MỤC LỤC 12
Tài liệu tham khảo 12
Tài liệu tham khảo 15
Tài liệu tham khảo
1. TS. Lê Văn Hưng (chủ biên) (2006), Giáo trình luật kinh tế, NXB Đại học Quốc gia
TP. HCM.
2. Khoa luật kinh tế, trường ĐH Kinh tế TP. HCM (2010), Văn bản pháp luật dành
cho học phần Luật kinh tế, NXB Phương Đông.
3. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số 47 – 2010 – QH12).
4. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.
Trang 12
Luật kinh tế
Bổ sung
3. Các đề nghị bổ sung luật tín dụng 2010.
Thứ ba, theo quy định tại điều 16, luật tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “Nhà
đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam” đồng thời Chính phủ
quy định tổng mức sở hữu cổ phần tối đa của các nhà đầu tư nước ngoài. Nếu theo quy
định này thì tùy theo quyết định của Chính Phủ mà nhà đầu tư nước ngoài sẽ được sở hữu
bao nhiêu phần trăm vốn cổ phần tại một ngân hàng Việt Nam. Vậy điều gì sẽ xãy ra nếu
quy định của chính phủ về tổng mức cổ phần tối đa của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam giảm xuống. Chẳng hạn theo Nghị định số 69/2007/NĐ-CP quy định tổng mức sở
hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của Ngân hàng
Việt Nam, nhưng vì một lý do nào đó chẳng hạn do Chính phủ không muốn các ngân hàng
Việt Nam có nhiều nhà đầu tư nước ngoài can thiệp vào do đó đã giảm tỷ lệ này xuống còn
25% chẳng hạn. Trong trường hợp này nếu ngân hàng kinh doanh có hiệu quả thì khi này
lượng cổ phiếu do nhà đầu tư nước ngoài bán ra sẽ có nhiều người mua và dĩ nhiên là hoạt

quả thì tất yếu sẽ bị phá sản. Do đó thay vì chúng ta cứ tập trung quy định những hình thức
như sáp nhập, thay thế chủ sở hữu ngân hàng, tại sao ta không tập trung quy định những
vấn đề xoay quanh việc phá sản các tổ chức tín dụng. Thực chất đây là một trong những
chính sách vượt ra khỏi luật các tổ chức tín dụng năm 2010, vấn đề chính mà nhóm chúng
tôi muốn nói ở đây là việc phá sản một tổ chức tín dụng có khi lại là một trong những nhân
tố làm giảm rủi ro tín dụng, tại sao vậy? một điều là nếu nó kinh doanh không hiệu quả thì
nó nên bị đào thải để cuối cùng trên thị trường chỉ còn những kẻ nào chinh phục được. Thị
trường tài chính ta hiện nay cũng có cạnh tranh nhưng cạnh tranh chưa gay gắt, do vậy
việc cho phép tổ chức tín dụng phá sản sẽ là một trong những bước tiến đẩy thị trường tài
chính chúng ta tiến lên một bước mới. Nhưng vấn đề chính là làm sao có thể ổn định lòng
của người dân khi một ngân hàng hay một tổ chức tín dụng phá sản? điều này sẽ được lý
giải bằng chính sách thứ hai mà chúng tôi vừa nêu bên trên, chỉ cần cho người dân thấy
rằng họ có thể rút tiền của họ được, họ hoàn toàn có nơi dự bị để xóa bỏ rủi ro cho số tiền
của họ, thì khi đó việc một ngân hàng hay một tổ chức tín dụng phá sản cũng là điều không
quan trọng. Tuy nhiên cũng như đã phân tích ở trên thì việc thực hiện cho người dân rút
tiền tại tổ chức quản lý tín dụng sẽ gây ra lạm phát nếu người dân không tin hệ thống tài
chính và như vậy sẽ làm cho nền kinh tế tồi tệ hơn. Tuy nhiên cũng cần nhìn nhận một
điều rằng nếu không chấp nhận hậu quả này thì sao có thể có bước tiến mới, ta cứ đứng
chân tại chỗ, cứ sợ, cứ lo lắng thì không thể nào thực hiện được nhưng bước tiến. Thực
chất khi ngân hàng phá sản thì có thể một số khoản nợ của nó không thể thu hồi được, mà
khách hàng lại đến rút tiền làm cho lượng tiền mặt trong nền kinh tế tăng lên, do đó chúng
ta phải chấp nhận chịu lạm phát trong thời gian đầu này. Tuy nhiên sau đó tổ chức quản lý
tín dụng có thể thay mặc ngân hàng đã phá sản hoặc nhân danh cơ quan quyền lực nào đó
để thu hồi số nợ này, mặc khác cộng với sự phát triển của chính sách mở rộng thẻ thanh
toán hóa sẽ làm cho lượng tiền trong lưu thông giảm, từ đó làm giảm lạm phát.
Cộng thêm với việc phát triển trình độ của người dân thì việc phá sản các tổ chức tín dụng
sẽ dần trở nên thân thuộc chứ không phải xa lạ như hôm nay.
Tóm lại một điều là ở trong chính sách thứ tư này là chúng tôi kiến nghị nên xây dựng một
hệ thống pháp luật phá sản các tổ chức tín dụng trong đó nên chú trọng đến yếu tố ổn định
lòng tin của người dân như vừa phân tích ở trên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status