Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Tươi
Sinh viên lớp: Đầu tư 47D
Khoa: Kinh tế Đầu tư
Sau thời gian thực tập tại Phòng Quản lý rủi ro Ngân hàng Đầu tư phát
triển Việt Nam chi nhánh Quang Trung. Dưới sự hướng dẫn của Ths. Trần
Mai Hoa tôi đã lựa chọn đề tài: "
Đánh giá và quản lý rủi ro đối với các dự án
đầu tư tại Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam chi nhánh Quang Trung"
Để nghiên cứu làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập không hề có sự sao
chép của bất kỳ ai khác, mọi thông tin và tài liệu tham khảo đều được ghi rõ nguồn
gốc. Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm trước nhà trường và khoa.
Sinh viên
Nguyễn Thị Tươi
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
1. Đánh giá chung........................................................................................................75
2. Ý kiến trình: ............................................................................................................75
B. Ý KIẾN THẨM ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO...........................................80
(trên cơ sở so sánh với các ý kiến đánh giá của P.QHKH tại báo cáo đề xuất
tham chiếu).............................................................................................................80
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BIDV : Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
KHDN : Khách hàng doanh nghiệp
Bảng 6.Báo cáo kết quả kinh doanh
Bảng 7.Dòng tiền theo quan điểm đầu tư
Bảng 8.Dòng tiền theo quan điểm chủ đầu tư
Bảng 9.Cân đối trả nợ từ dự án
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kinh doanh ngân hàng rất nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh
vực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và
chủ quan như kinh tế, chính trị, xã hội. Việc các ngân hàng liên tục mở rộng mạng
lưới, giới thiệu các dịch vụ, sản phẩm mới cũng như việc áp dụng công nghệ hiện
đại đòi hỏi một chiến lược quản trị rủi ro hoạt động đồng bộ nhằm quản lý và
giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động. Hơn nữa, ngân hàng kinh doanh không
những chỉ huy động vốn và cho vay mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như thanh
toán, bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán, góp vốn liên doanh, dịch vụ
thẻ đại lý… Vì vậy có thể nói rằng rủi ro ngân hàng rất đa dạng: rủi ro lãi suất, rủi
ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng… Trong số tất cả các loại rủi ro kể
trên thì rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và phức tạp nhất. Rủi
ro xảy ra thì không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến
toàn bộ nền kinh tế.
Khi nền kinh tế càng phát triển thì ngân hàng thương mại đóng vai trò rất
quan trọng trong việc lưu thông tiền tệ. Trong ngân hàng hoạt động mang lại nhiều
lợi nhuận nhưng cũng ẩn chưa nhiều rủi ro là hoạt động tín dụng. Ngân hàng Đầu
Tư và Phát Triển là một trong 5 ngân hàng thương mại quốc doanh ra đời và hoạt
động ngay từ những năm đầu khi hệ thống ngân hàng hình thành góp phần vào
việc khôi phục, phục hồi kinh tế sau chiến tranh. Nhận thấy tầm quan trọng của
việc quản lý rủi ro các dự án đầu tư nên trong quá trình thực tập tại Ngân Hàng
Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam chi nhánh Quang Trung em đã chọn đề tài : Đánh
giá và quản lý rủi ro đối với các dự án đầu tư tại Ngân Hàng Đầu Tư và Phát
được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét trên góc độ quản lý : Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng
vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời
gian dài
Trên góc độ kế hoạch hóa : Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch
chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội,
làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Xét theo góc độ này, dự án đầu tư
là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh
tế nói chung
Xét về mặt nội dùng: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần
thịết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm các
định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực
hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Thông thường một dự án đầu tư có những đặc trưng cơ bản:
• Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng
• Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn
• Dự án có sự tham gia của nhiều bên : chủ đầu tư, cơ quan quản lý, công
ty cung cấp dịch vụ
• Dự án luôn được đặt trong sự tương tác với các dự án khác, giữa các cơ
quan và bộ phận quản lý khác.
• Dự án được xây dựng tại địa điểm cố định và chưa đựng rủi ro cao do dự
án có quá trình thực hiện, vận hành, khai thác dài, có khi hàng chục năm. Trong
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
qua trình xây dựng vốn dành cho dự án bị khê đọng, thời gian thu hồi vốn lâu, kết
quả của dự án thu được trong tương lai.
Một dự án đầu tư có những rủi ro gì: Tất cả các hoạt động diễn ra đều
mang trong mình rất nhiều rủi ro, và với một dự án đầu tư có những đặc trưng
riêng thì rủi ro là việc không thể tránh khỏi, có thể liệt kê các rủi ro sau:
hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
1.2.2. Phân loại rủi ro.
Để thuận tiện cho việc quản lý và kiểm soát rủi ro người ta thường phân
loại rủi ro. Rủi ro được phân loại dựa vào các tiêu chí khác nhau.
- Rủi ro thuần túy và rủi ro suy tính
Rủi ro thuần túy: là loại rủi ro mà nó sẽ dẫn đến kết quả tổn thất về kinh tế,
ví dụ rủi ro động đất sẽ làm mất mát tài sản và người mà nếu không bị động đất thì
nhà cửa sẽ không bị tổn thất. Loại rủi ro này có thể bảo hiểm được.
Rủi ro suy tính: là loại rủi ro do ảnh hưởng của những nguyên nhân khó dự
đoán, phạm vi ảnh hưởng rất lớn, rủi ro suy tính thường xảy ra trong thực tế, Ví
dụ: rủi ro thay đổi mức thuế, tình hình chính trị không ổn định. Khi chính phủ
quốc hữu hóa các doanh nghiệp liên doanh thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ gặp
tổn thất lớn. Đây là loại rủi ro không thể bảo hiểm nhưng có thể đối phó bằng biện
pháp rào chắn.
- Rủi ro có thể tính toán được và rủi ro không thể tính toán được.
Rủi ro có thể tính toán được là rủi ro mà tần suất xuất hiện của nó có thể
tiên đoán được ở một mức độ tin cậy nhất định
Rủi ro không thể tính toán được là rủi ro mà tần số xuất hiện của nó quá bất
thường và rất khó dự đoán được
- Rủi ro có thể bảo hiểm và rủi ro không thể bảo hiểm.
Rủi ro có thể bảo hiểm: ví dụ như hao mòn tài sản hữu hình, ta có thể dự
đoán được trước và lập quỹ để phòng ngừa rủi ro, hay mua bảo hiểm để phòng
ngừa thảm họa động đất, hỏa hoạn.
Rủi ro không thể bảo hiểm: Ví dụ chơi cờ bạc tạo ra rủi ro không tồn tại
trước đó và đưa đến kết quả là một bên được và một bên thua.
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Rủi ro nội sinh và rủi ro ngoại sinh.
Rủi ro nội sinh: là do những nguyên nhân nội tại của dự án: thời gian hòan
lao động nữ, chế độ nghỉ thai sản, quy định mức lương tối thiểu cho các vùng
miền, hạn chế thuê chuyên gia, lao động nước ngoài đều ảnh hưởng đến hiệu quả
của các dự án đầu tư.
- Thay đổi lãi suất: Ví dụ như chính phủ đưa ra các chính sách giảm lãi suất
cho vay để kích cầu đầu tư cho các doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế lâm
vào suy thoái.
- Kiểm soát ngoại hối: Hạn chế chuyển tiền ra nước ngoài ảnh hưởng đến
việc mở rộng hoạt động kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm của dự án, cũng như quyền
lợi của các nhà đầu tư nước ngoài..
- Độc quyền: Sự độc quyền trong kinh doanh của thành phần kinh tế nhà
nước làm hạn chế sự tham gia của các thành phần kinh tế tư nhân trong nền kinh
tế, dẫn đến sự ỷ lại của thành phần kinh tế nhà nước do được bao cấp, làm kém
hiệu quả đầu tư.
- Môi trường, sức khỏe, an toàn: Việc nhà nước đưa ra các chính sách môi
trường để hạn chế, giảm sự ô nhiễm môi trường, phần nào hạn chế sự đầu tư chỉ vì
mục đích lợi nhuận mà không quan tâm đến hiệu quả môi trường xã hội. Hay
chính sách bảo vệ môi trường, nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp, các
thành phần kinh tế tham gia vào các dự án bảo vệ môi trường, trồng cây gây rừng
sẽ được hưởng các ưu đãi đặc biệt về đầu tư.
- Quốc hữu hóa: Điều mà các nhà đầu tư nước ngoài e ngại khi đầu tư ở
nước thứ ba đó là việc chính phủ mới lên nắm quyền và quốc hữu hóa toàn bộ tài
sản của nhà đầu tư về nhà nước. Vì vậy một môi trường chính trị ổn định là điểm
thu hút nhà đầu tư nước ngoài quan tâm.
• Môi trường kinh tế: mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều đặt dưới
môi trường kinh tế và xã hội, một đất nước phát triển có môi trường kinh tế thuận
lợi, có chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tạo hành lang pháp lý
thông thoáng, hàng rào thuế quan, sẽ giúp các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu
tư, tạo ra nhiều dự án đầu tư và hiệu quả hoạt động của các dự án cao, một đống
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
11
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.3.2. Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay.
• Dự án bị thua lỗ dẫn đến mất khả năng trả nợ: Cho vay trong các ngân
hàng nhiều nhất thuộc về các dự án, nguồn thu từ dự án là nguồn trả nợ chủ yếu.
Rủi ro tín dụng cũng trực tiếp xuất phát từ dự án mà đại diện là chủ đầu tư.
Nguyên nhân dự án bị thua lỗ có thể do năng lực quản lý của chủ đầu tư, do khâu
thực hiện và vận hành dự án không tốt, do đánh giá không đúng thị trường. Ta có
thể kể một số nguyên nhân dẫn đến dự án thua lỗ :
- Rủi ro trong quá trình xây dựng và hoàn thành công trình: Dự án đầu tư có
đặc trưng riêng là thời gian xây dựng dài, trong quá trình xây dựng vốn bị ứ động
vì vậy một dự án đầu tư nào cũng bao hàm rất nhiều rủi ro, rủi ro xảy ra ngay từ
khâu lập dự án, thực hiện dự án và vận hành dự án. Trong quá trình xây dựng dự
án có thể gặp các rủi ro sau:
+ Chất lượng công trình xây dựng không đạt các yêu cầu của dự án.
+ Chi phí xây dựng vượt quá dự toán: do chi phí đền bù giải phóng
mặt bằng quá lớn, giá nguyên vật liệu tăng cao.
+ Không giải tỏa được mặt bằng, phải thu hẹp hoặc hủy bỏ dự án
+ Thời gian hoàn thành vượt quá thời gian cho phép
- Rủi ro về cung cấp đầu vào: Do đánh giá thị trường và tìm hiểu nguồn
cung cấp không chính xác nên khi dự án đi vào hoạt động thì thiếu nguồn cung cấp
nguyên vật liệu, đầu vào dẫn đến dự án hoạt động không hết công suất. Mặt khác
rủi ro cũng xảy ra do lạm phát, sự tăng giá của nguyên vật liệu đầu vào:
Ví dụ dự án đầu tư xây trung tâm đào tạo 19 tầng của trường đại học Kinh
Tế Quốc Dân xin cấp giấy phép đầu tư từ năm 1996 với tổng mức đầu tư là 80 tỷ
nhưng 10 năm sau dự án mới được duyệt cũng với mức đầu tư là 80 tỷ nhưng mấy
năm gần đây do lạm phát tăng cao, giá nguyên vật liệu chịu ảnh hưởng của thị
trường quốc tế với mức đầu tư là 80 tỷ không đủ xây dựng 19 tầng dẫn đến dự án
đi vào hoạt động được 3 năm mà vẫn chưa xây dựng xong phần móng công trình,
gây khó khăn tới việc vận hành dự án cũng như khả năng trả nợ.
• Cơ chế chính sách của ngân hàng chưa phù hợp
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chính sách tín dụng là khung mẫu hướng dẫn chung cho các cán bộ tín
dụng, tăng cường chuyên môn hóa cũng như gắn bó trách nhiệm giữa các phòng
ban, tạo sự thống nhất trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và giảm thiểu tối đa
rủi ro, nâng cao khả năng sinh lời. Chính sách tín dụng không phù hợp khiến hoạt
động tín dụng không hiệu quả gây ra nhiều rủi ro cho ngân hàng.
Ví dụ : Chính sách hỗ trợ người dân không có điều kiện mua nhà được an
cư lạc nghiệp của chính phủ Mỹ đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay,
chính sách hỗ trợ tín dụng cho người dân vay tiền mua nhà có thời điểm chỉ 1%/
năm dẫn đến hàng loạt người cố tình vay tiền ngân hàng để kinh doanh bất động
sản tạo ra sự nóng lên của thị trường nhà đất Mỹ, nhưng đến thời điểm nhà đất
không bán được nữa thì hàng loạt các nhà đầu tư đã phải gán nhà để trả nợ => hiện
tượng đóng băng của thị trường nhà đất và khách hàng mất khả năng trả nợ, rủi ro
tín dụng xảy ra với hệ thống ngân hàng Mỹ và các ngân hàng phá sản.
• Bộ máy tổ chức hoạt động quản lý rủi ro còn lạc hậu, yếu kém
Cơ quan chuyên trách theo dõi, quản lý các rủi ro tín dụng, quản lý các hạn
mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng, từng nhóm khách hàng liên quan thuộc
các địa phương, các lĩnh vực kinh doanh khác nhau để phân tán, hạn chế rủi ro.
Nếu bộ máy tổ chức này hoạt động không hiệu quả thì rủi ro tín dụng rất dễ xảy ra,
gây tổn hại đến ngân hàng.
Thứ hai là chất lượng thông tin và sự hợp tác giữa ngân hàng và các trung
tâm thông tin tín dụng không đồng bộ, chưa đạt hiệu quả cao cũng dẫn đến rủi ro
tín dụng. Ví dụ các ngân hàng thương mại cổ phần do cạnh tranh nhau nên không
thông tin khách hàng cho trung tâm thông tín dụng dẫn đến các ngân hàng không
biết khách hàng vay vốn của mình có quan hệ tín dụng với ngân hàng khác không,
tình hình quan hệ tín dụng với các ngân hàng khác có minh bạch và song phẳng
hay không, có hiện tượng quịt nợ hay cố tình chây ỳ nợ không dẫn đến các ngân
bộ tín dụng cấu kết với người vay để rút tiền ngân hàng : cán bộ hướng dẫn khách
hàng hợp thức hóa hồ sơ vay vốn hay.
1.3. Sự cần thiết phải quản lý rủi ro các dự án đầu tư.
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hoạt động kinh doanh ngân hàng rất nhậy cảm, có liên quan đến nhiều lĩnh
vực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan và
khách quan : kinh tế, chính trị, xã hội….từ đó cũng gây ra những thịệt hại không
nhỏ đến ngân hàng. Hơn nữa ngân hàng kinh doanh không chỉ huy động vốn và
cho vay mà còn nhiều lĩnh vực khác : thanh toán, kinh doanh chứng khoán, kinh
doanh ngoại hối, bảo lãnh, góp vốn liên doanh, dịch vụ thẻ đại lý vì vậy có thể nói
rằng rủi ro ngân hàng là rất đa dạng. Vì vậy việc quản lý rủi ro tín dụng, rủi ro đối
với các dự án đầu tư là nội dung quan trọng nhất trong ngân hàng. “ Quản lý rủi ro
tín dụng là việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để kiểm soát chất lượng tín dụng
và hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn thất không để
hoạt động ngân hàng lâm vào tình trạng đổ vỡ ”.
1.3.1. Ảnh hưởng của rủi ro tới nền kinh tế.
Dự án đầu tư có nhiều đặc trưng riêng có mà tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, đối
với ngân hàng việc cho vay đối với dự án hay đầu tư vào dự án chứa đựng nhiều
rủi ro gọi là rủi ro tín dụng.
- Hoạt động ngân hàng liên quan đến các doanh nghiệp và cá nhân, vì vậy
khi một ngân hàng gặp rủi ro tín dụng hay phá sản thì người gửi tiền rất lo lắng và
kéo nhau đi rút tiền ở các ngân hàng khác làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp
khó khăn. Mặt khác ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Hơn nữa sự hoảng loạn của các ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến toàn
bộ nền kinh tế, nó làm cho nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng, nền kinh tế mất
ổn định. Ngày nay rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới : cuộc
khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, và mới nhất là cuộc khủng hoảng tài chính
lý rủi ro là việc hủ động kiểm soát các sự kiện trong tương lai dựa trên kết quả dự
báo trước các sự kiện xảy ra mà không phải là sự phản ứng thụ động. Như vậy
một chương trình quản lý rủi ro hiệu quả không những là giảm bớt sai sót mà còn
làm giảm mức độ ảnh hưởng của những sai sót đến việc thực hiện các mục tiêu dự
án.
Sơ đồ quản lý rủi ro
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.4.1.Nhận diện rủi ro: là quá trình phân tích đánh giá, nhận dạng lĩnh vực
rủi ro, các loại rủi ro tiềm tàng ảnh hưởng đến dự án, trong vòng đời của dự án
cần nhận dạng các rủi ro do môi trường bên ngoài và nội tại có thể gây ra, mỗi giai
đoạn có rủi ro khác nhau, vì vậy nhận dạng rủi ro không phải là công việc chỉ diễn
ra một lần mà là quá trình thực hiện thường xuyên trong suốt vòng đời dự án.
Ngân hàng có thể thu thập thông tin để phát hiện rủi ro từ :
- Từ việc phỏng vấn khách hàng, kiểm tra, thẩm định tài sản hay dự án xin
vay vốn,
- Từ hồ sơ xin vay vốn của khách hàng.
- Từ các tổ chức tín dụng mà khách hàng có quan hệ tín dụng, cơ quan quản
lý nhà nước, cơ quan thuế…
1.4.2. Đo lường hoặc đánh giá rủi ro : Sau khi đã nhận diện được rủi ro ta
tiến hành phân tích đánh giá mức độ rủi ro để xem rủi ro tác động đến những bộ
phận nào và ảnh hưởng của nó đến từng bộ phận từ đó có những giải pháp và biện
pháp hạn chế rủi ro. Để lượng hóa các rủi ro ta có thể sử dụng một số mô hình
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
Phát hiện rủi ro
Đánh giá rủi ro
Quản trị rủi ro
Hạn chế
rủi ro
doanh nghiệp mới được phép ký kết hợp đồng.
- Tài sản đảm bảo ( Collateral ) : tài sản đảm bảo thể hiện trách nhiệm và
nghĩa vụ trả nợ của người vay đối với ngân hàng, khi dự án đầu tư không có khả
năng trả nợ thì tài sản đảm bảo sẽ là nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng. Tài sản
đảm bảo không những chỉ là vốn tự có của khách hàng vay vốn mà chính là tài sản
từ vốn vay để thế chấp cầm đồ.
- Các điều kiện ( Conditions ) : Ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theo
chính sách tín dụng theo từng thời kỳ như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện
thâu ngân phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ của NHTW quy
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
định theo từng thời kỳ. Chính sách hỗ trợ tín dụng cho dân nhập cư được vay vốn
mua nhà với lãi suất 1%/ năm.
- Kiểm soát ( Control ) : ngân hàng cần tập trung vào những vấn đề như các
thay đổi trong pháp luật và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay. Yêu cầu tín
dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không từ đó
đưa ra các biện pháp hợp lý để hạn chế rủi ro tín dụng.
Mô hình điểm số Z : dùng để cho điểm tín dụng các doanh nghiệp vay
vốn, đại lượng Z được dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng
đối với người vay và phụ thuộc vào : trị số các chỉ số tài chính của người vay.
Mô hình như sau :
Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5
Trong đó,
X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản
X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản
X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản
X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu / giá trị hạch toán của
tổng nợ
X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản
việc góp vốn phần nào san sẻ rủi ro, chia sẻ lợi nhuận và trách nhiệm dẫn đến dự
án làm ăn có hiệu quả hơn.
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO
CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM CHI NHÁNH QUANG TRUNG.
I .Giới thiệu khái quát về Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt
Nam chi nhánh Quang Trung
2.1.Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh
Thời kỳ từ 1957- 1980:
Ngày 26/4/1957, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (trực thuộc Bộ Tài chính) - tiền
thân của Ngân hàng ĐT&PTVN - được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày
26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ. Quy mô ban đầu gồm 8 chi nhánh, 200 cán bộ.
Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Kiến thịết là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến
thịết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất các các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Thời kỳ 1981- 1989:
Ngày 24/6/1981, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng
Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Quyết
định số 259-CP của Hội đồng Chính phủ. Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và
Xây dựng là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh
vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước.
Thời kỳ 1990- nay:
Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo Quyết định số 401-CT của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng.
Sự phát triển của BIDV có thể dễ dàng nhận biết ngay qua số lượng các chi
nhánh. Là một trong 76 chi nhánh cấp I thuộc khối ngân hàng BIDV được ra đời ngày
01/05/2005 trên cơ sở phòng giao dịch Quang Trung thuộc sở giao dịch 1. Tài sản ban
chi nhánh Quang Trung
Mô hình tổ chức hoạt động của BIDV Quang Trung gồm các phòng ban như sau:
Khối quan hệ khách hàng : có 3 phòng quan hệ khách hàng 1,2,3
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khối quản lý rủi ro: có 1 phòng quản lý rủi ro
Khối tác nghiệp : có 5 phòng : Phòng quản trị tín dụng, Phòng dịch vụ khách
hàng doanh nghiệp, Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân, Phòng thanh toán quốc tế,
Phòng quản lý và dịch vụ kho quỹ.
Khối quản lý nội bộ : có 4 phòng : Phòng tài chính kế toán, Phòng kế hoạch tổng
hợp, Phòng tổ chức hành chính, Phòng điện toán.
Khối trực thuộc gồm các phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm
Nguyễn Thị Tươi Đầu tư 47D
25