TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ
~~~~~~*~~~~~~
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY
VỐN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
- CHI NHÁNH QUANG TRUNG
Sinh viên thực hiện : LÊ THỊ LAN HƯƠNG
Giảng viên hướng dẫn : TS. TRẦN MAI HƯƠNG
HÀ NỘI - 2009
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
Lời cam kết
Tên tôi là Lê Thị Lan Hương, sinh viên lớp Đầu tư 47A, khoa Đầu tư, trường
Đại học Kinh Tế Quốc Dân.
Sau bốn năm học tập và 15 tuần thực tập tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam- Chi nhánh Quang Trung, được sự cho phép của khoa Đầu tư, sự cho phép
cùng sự hướng dẫn tận tình của Tiến sỹ Trần Mai Hương, tôi đã lựa chọn chuyên đề
tốt nghiệp với đề tài: “ Rủi ro và đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Quang Trung”
Tôi xin cam đoan rằng đây là kết quả của việc áp dụng những kiến thức đã
học kết hợp với việc nghiên cứu, tìm hiểu thực tế tại Ngân hàng, nó là công trình của
riêng tôi chứ không sao chép từ các chuyên đề, luận văn khác.
Hà Nội ngày 6 tháng 5 năm 2009
Sinh viên
Lê Thị Lan Hương
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................... 4
LỜI MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Chi nhánh BIDV Quang Trung . 30
2.1.2. Cơ cấu tổ chức ................................................................................. 31
2.1.3. Tình hình hoạt động của BIDV Quang Trung giai đoạn 2005-
2008. ........................................................................................................... 32
2.1.3.1. Tình hình hoạt động và kết quả đạt được .............................. 32
2.1.3.2. Đánh giá khái quát tình hình hoạt động của chi nhánh ......... 43
2.2. Công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn tại BIDV
Quang Trung giai đoạn 2005- 2008. ......................................................... 44
2.2.1. Sự cần thiết đánh giá rủi ro trong thẩm định vay vốn tại BIDV
Quang Trung. ............................................................................................. 44
2.2.2. Thực trạng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn
tại Chi nhánh BIDV Quang Trung giai đoạn 2005- 2008. ....................... 45
2.2.2.1. Quy trình đánh giá rủi ro ...................................................... 45
2.2.2.2. Nội dung và phương pháp đánh giá rủi ro. ........................... 49
2.3. Ví dụ minh họa về đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn
tại BIDV Quang Trung ............................................................................. 61
2.3.1. Giới thiệu về chủ đầu tư và dự án. .................................................. 61
2.3.2. Đánh giá rủi ro. ................................................................................ 62
2.3.2.1. Đánh giá rủi ro đầu tư. ......................................................... 62
2.3.2.2. Đánh giá rủi ro tín dụng. ...................................................... 78
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
2.4. Đánh giá công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định vay vốn tại
BIDV Quang Trung giai đoạn 2005- 2008. .............................................. 79
2.4.1. Kết quả đạt được .............................................................................. 79
2.4.2. Hạn chế tồn tại ................................................................................. 84
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế. ................................................... 86
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN VAY VỐN TẠI BIDV QUANG TRUNG THỜI GIAN TỚI. 89
3.1. Phương hướng, mục tiêu đặt ra tại BIDV Quang Trung trong thời
cũng khó phỏng đoán và không thể triệt tiêu được yếu tố rủi ro. Chính vì thế mà công
tác đánh giá rủi ro rât được quan tâm và chú trọng tại các Ngân hàng.
Đối với mỗi dự án xin vay vốn, Ngân hàng đều phải tiến hành phân tích đánh
giá dự án một cách kỹ lưỡng trên mọi phương diện. Với ngân hàng Đầu tư và phát
triển Việt Nam- Chi nhánh Quang Trung cũng vậy, công tác Thẩm định dự án vay
vốn của khách hàng, đặc biệt là công tác đánh giá rủi ro luôn đóng vai trò hết sức
quan trọng trước mỗi quyết định tài trợ vốn của chi nhánh.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã được học, cùng
với những kiến thức và hiểu biết thực tế thu nhận được trong thời gian thực tập tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Quang Trung, em quyết định
chọn đề tài: “ Rủi ro và đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Quang Trung” làm chuyên đề
thực tập của mình.
Chuyên đề thực tập của em gồm ba chương với bố cục và nội dung như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về rủi ro và đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay
vốn tại các Ngân hàng thương mại.
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
1
Chương II: Thực trạng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn
tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi Nhánh Quang Trung thời gian qua.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đánh giá rủi
ro trong thẩm định dự án vay vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi
Nhánh Quang Trung thời gian tới.
Do giới hạn về trình độ, kinh nghiệm và thời gian tìm hiển thực tế, nên đề tài
của em sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Kính mong thầy cô và các
cán bộ tại chi nhánh BIDV Quang Trung thông cảm và góp ý để em có thể hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cám ơn Tiến sỹ: Trần Mai Hương, các thầy cô giáo trong
khoa Đầu tư, trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, cùng ban lãnh đạo và các cán bộ
phòng Quan hệ khách hàng I, BIDV Quang Trung đã tận tình giúp đỡ và tạo điều
còn những người thiếu vốn có thể vay vốn để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn cho tiêu
dùng bản thân hay để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
3
Ngân hàng thương mại trở thành chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi của nhóm người thặng dư vốn và sử dụng nguồn vốn huy động đó để cung
cấp cho nhóm người thâm hụt vốn, cung cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt
động tín dụng.
Qua đó, doanh nghiệp- cá nhân vay vốn có điều kiện để mở rộng sản xuất, cải
tiến mua sắm máy móc thiết bị công nghệ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao
được hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo thuận lợi thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đối
với những cá nhân- tổ chức có lượng tiền nhàn rỗi chọn ngân hàng thương mại là nơi
gửi tiền bởi chính sự an toàn cao mà tổ chức tín dụng này mang lại. Ngoài ra, họ còn
nhận được một khoản thu nhập từ chính khoản tiền gửi của mình với mức lãi suất mà
ngân hàng qui định và sau một thời hạn nhất định. Mặc dù lãi suất mà ngân hàng đưa
ra có thể thấp hơn so với việc đầu tư tiền vốn vào những lĩnh vực khác như: đầu tư
chứng khoán, bất động sản hay sản xuất kinh doanh… nhưng việc gửi tiền vào Ngân
hàng có hệ số an toàn cao nhất, ít gặp phải rủi ro.
Thứ hai: Hoạt động của Ngân hàng thương mại đã góp phần tăng cường hiệu
quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng cũng như
góp phần thúc đẩy nền kinh tế nói chung.
Trong nền kinh tế thị trường phát triển ngày càng sôi động, để hoạt động sản
xuất kinh doanh đạt hiệu quả, để tìm được chỗ đứng cho mình, đòi hỏi những doanh
nghiệp tham gia thị trường nâng cao chất lượng về mọi mặt, phải không ngừng nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, củng cố hoàn thiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán
kinh tế, đặc biệt phải không ngừng cải tiến mua sắm những thiết bị công nghệ hiện
đại, tìm kiếm và sử dụng những nguyên vật liệu đầu vào mới, mở rộng quy mô sản
xuất một cách thích hợp.
Những hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đầu tư lớn,
mà nguồn vốn tự có của doanh nghiệp thường không đủ đáp ứng nhu cầu lớn về vốn
Qua việc thu hút, tiếp nhận khối lượng tiền mặt từ các cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế để rồi cung ứng tiền mặt cho các cá nhân, tổ chức cần vốn, Ngân
hàng thương mại đã tạo ra quan hệ giữa lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ trong
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
5
nền kinh tế. Bằng những chính sách hấp dẫn và nghệ thuật kinh doanh của mình, các
ngân hàng tiếp nhận lượng tiền mặt lớn, rồi được cung ứng cho những cá nhân và
doanh nghiệp và cá nhân, đảm bảo lượng tiền mặt cần thiết cho nền kinh tế được lưu
thông thường xuyên liên tục, đảm bảo nền kinh tế được phát triển bình thường.
Như vậy, với vai trò thực thi các chính sách tiền tệ, Ngân hàng thương mại đã
giúp hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế được tiến hành một các bình
thường và ngày càng phát triển.
Thứ tư: Với chức năng tạo tiền, Ngân hàng thương mại góp phần vào hoạt
động điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô thuộc về
Ngân hàng Trung ương. Ngân hàng Trung ương tham gia xây dựng chiến lược phát
triển kinh tế và soạn thảo chính sách tiền tệ. Là tổ chức soạn thảo và khởi động chính
sách tiền tệ, nhưng Ngân hàng Trung ương không trực tiếp giao dịch với công chúng
mà các chính sách này được lan ra qua hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương
mại và các tổ chức trung gian tài chính khác.
Hệ thống ngân hàng được hoạt động theo hình thức hai cấp: là Ngân hàng Nhà
nước và Ngân hàng thương mại. Một khả năng kỳ bí của ngân hàng hai cấp này là tạo
tiền và điều chỉnh mức cung ứng tiền để ổn định tiền tệ. Do việc phân cấp thành hai
cấp, dẫn đến việc phân chia hai loại tiền: Tiền ngân hàng trung ương là giấy bạc hay
tiền mặt, do Ngân hàng Trung ương độc quyền phát hành, và tiền Ngân hàng( tiền ghi
sổ, bút tệ) là tiền do Ngân hàng thương mại tạo ra thông qua việc cấp tín dụng cho
nền kinh tế, đặc biệt là tiền trên các tài khoản thanh toán séc.
Cho đến nay, tiền được phân ra làm nhiều loại khác nhau nhằm tách các loại
tiền khác nhau về mặt thanh toán ra làm từng nhóm. Việc này giúp Ngân hàng Trung
ương và Chính phủ theo dõi được mức độ đầu tư trong nước vào các loại tài sản sinh
đây là cách chủ yếu và quan trọng nhất để ngân hàng huy động được tiền của dân cư
và các tổ chức, doanh nghiệp.
Có nhiều hình thức huy động tiền gửi mà các Ngân hàng thương mại đã thực
hiện, cụ thể có các hình thức: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của doanh
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
7
nghiệp, tổ chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi của các ngân hàng
khác.
Với bất kỳ một Ngân hàng thương mại thì hoạt động huy động vốn bằng tiền
gửi của khách hàng cũng là nguồn quan trọng nhất. Tuy nhiên khi cần thiết, ngân
hàng có thể vay mượn thêm cả các tổ chức khác, như vay của Ngân hàng Trung
ương, vay trên thị trường vốn hay vay của các tổ chức tín dụng khác.
Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn có thể huy động từ một số nguồn khác
như nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán…
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn.
Hoạt động của Ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, tìm kiếm các
nguồn vốn để sử dụng nó nhằm thu lợi nhuận. Song song với hoạt động huy động
vốn, thì hoạt động sử dụng vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng của mọi ngân
hàng thương mại.
Hoạt động sử dụng vốn gồm có hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng
khoán và hoạt động tín dụng( hoạt động cho vay).
Ngân quỹ của một ngân hàng thương mại thường gồm tiền mặt tại két và tiền
gửi tại các ngân hàng khác. Khoản tiền này thường không sinh lời hoặc nếu có thì rất
nhỏ nhưng bởi sự tiện lợi và cần thiết của nó mà mỗi ngân hàng thương mại đều phải
giữ một lượng tiền nhất định tại két của ngân hàng hoặc gửi tại các ngân hàng khác.
Thường thì mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ mức ngân quỹ ở mức thấp nhất có thể.
Ngân hàng thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán bởi chứng khoán cỏ thể
mang lại thu nhập và cũng vì tính thanh khoản của nó, ngân hàng có thể bán đi khi
cần thiết để gia tăng ngân quỹ.
Hai hoạt động ngân quỹ và đầu tư chứng khoán chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn
cũng càng lớn. Vì vậy, để thu được lợi nhuận ngày càng cao thì công tác quản lý,
đánh giá rủi ro phải càng được chú trọng trong mọi khâu, mọi hoạt động của ngân
hàng.
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
9
1.2. Thẩm định dự án và Đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn tại
Ngân hàng thương mại.
1.2.1. Thẩm định dự án vay vốn tại Ngân hàng thương mại.
Nói một cách chung nhất thì thẩm định dự án đầu tư là việc thẩm tra, so sánh,
đánh giá một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung của dự án, hoặc
so sánh đánh giá các phương án của một hay nhiều dự án để đánh giá tính hợp lý, tính
hiệu quả là tính khả thi của dự án đầu tư. Từ đó có những quyết định đầu tư, cho
phép đầu tư hoặc tài trợ vốn cho dự án.
Mục đích chung của thẩm định dự án đầu tư là nhằm lựa chọn được dự án có
tính khả thi cao. Cụ thể là đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả và khả năng thực hiện
của dự án. Tuy nhiên, đối với mỗi chủ thể khác nhau thì mục đích cuối cùng của
thẩm định dự án cũng khác nhau.
Đối với các chủ đầu tư thì việc thẩm định dự án nhằm đưa ra quyết định đầu
tư. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước thì thẩm định dự án là để xét duyệt cấp
giấy phép đầu tư. Còn đối với các định chế tài chính, trong đó có các Ngân hàng
Thương mại thì việc thẩm định dự án vay vốn nhằm để đưa ra quyết định vay vốn.
Việc thẩm định dự án tại các Ngân hàng thương mại là quan trọng và không
thể thiếu với mỗi dự án xin vay vốn. Bởi dự án đầu tư thường có thời gian thực hiện
khá dài, đòi hỏi một lượng vốn lớn và chịu nhiều yếu tố chi phối mà trong tương lai
có thể có những biến động khó lường. Bên cạnh đó, những con số tính toán cũng như
những nhận định đưa ra trong dự án khi tiến hành lập dự án chỉ là dự kiến, do đó
chứa đựng ít nhiều tính chủ quan của người lập dự án. Vì vậy, Ngân hàng thương mại
có thể gặp phải khá nhiều rủi ro khi tiến hành cho vay vốn. Để ngăn ngừa và giảm
thiểu những rủi ro có thể gặp phải khi tiến hành cho vay vốn, một giải pháp hiệu quả
mà các Ngân hàng thương mại sử dụng đó là tiến hành Thẩm định dự án trước khi
thẩm
định tiếp
nhận hồ
sơ
Kiểm tra,
xem xét
tính hợp
lệ của
HS
Yêu cầu bổ sung
tài lệu, hồ sơ
Phòng
TĐ tiến
hành
thẩm
định
Lập
báo
cáo
thẩm
định
Phòng QHKH xem
xét, đánh giá lại,
cho ý kiến
Ban tín dụng hoặc
hội đồng tín dụng ra
quyết định cho vay
doanh nghiệp. Thẩm định đánh giá khả năng tài chính của khách hàng, đánh giá tình
hình quan hệ của khách hàng đối với ngân hàng.
Thẩm định khách hàng là bước trước khi tiến hành thẩm định dự án vay vốn.
vốn
Thẩm định
dự án
vay vốn
Thẩm định
các biện
pháp đảm
bảo tiền
vay
12
+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh còn hiệu lực
+ Điều lệ của doanh nghiệp
+ Quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng
+ Hợp đồng liên doanh( nếu có doanh nghiệp nước ngoài tham gia)
+ Giấy phép đầu tư.
+ Danh sách hội đồng quản trị, ban lãnh đạo của doanh nghiệp
- Hồ sơ về việc sử dụng vốn vay:
+ Giấy đề nghị vay vốn theo mẫu của ngân hàng
+ Dự án đầu tư
+ Các hợp đồng kinh tế chứng minh việc mua bán nguyên vật liệu đầu vào,
máy móc thiết bị, công nghệ…, các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm..
+ Hồ sơ thẩm định về kinh tế, kỹ thuật của dự án.
+ Quyết định đầu tư của cơ quan có thẩm quyền đối với dự án của Nhà nước.
+ Văn bản của hội đồng quản trị hoặc các thành viên sáng lập về việc chấp
thuận vay vốn Ngân hàng để thực hiện đầu tư dự án với khách hàng vay vốn là công
ty cổ phần, cty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh.
- Hồ sơ tài, tài liệu về tình hình hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính của
doanh nghiệp
+ Báo cáo tài chính tối thiểu 2 năm gần nhất, báo cáo tài chính các quý của
năm vay vốn. Nếu doanh nghiệp hoạt động chưa đủ 2 năm thì phải gửi báo cáo kể từ
xét về nguyên nhân lỗ lãi.
+ Tình hình công nợ
+ Phân tích các chỉ tiêu tài chính
* Thẩm định dự án đầu tư
* Thẩm định tính pháp lý, sự cần thiết đầu tư, mục tiêu dự án.
* Thẩm định khía cạnh thị trường của dự án
- Phân tích nhu cầu của thị trường hiện tại và tương lai về sản phẩm mà dự án
cung cấp
- Phân tích tình hình cung sản phẩm trong hiện tại và tương lai
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
14
- Phân tích thị trường mục tiêu của dự án và khả năng cạnh tranh của sản
phẩm
* Thẩm định cung cầu nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác của dự án
* Thẩm định các nội dung trên phương diện kỹ thuật của dự án
- Phân tích về địa điểm xây dựng của dự án
- Phân tích về máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ mà dự án sử dụng
- Phân tích về quy mô, giải pháp xây dựng của dự án
* Thẩm định về phương diện tổ chức, quản lý thực hiện dự án
- Xem xét đánh giá kinh nghiệm, trình độ tổ chức vận hành của chủ đầu tư.
- Đánh giá sự hiểu biết, khả năng tiếp cận, điều hành công nghệ, thiết bị mới
của dự án
- Xem xét năng lực, uy tín của các nhà thầu
- Đánh giá về nguồn nhân lực của dự án
* Thẩm định hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án
Thẩm định các nội dung:
- Thẩm định tổng mức vốn đầu tư.
- Thẩm định nguồn tài trợ, cơ cấu nguồn vốn đầu tư
- Thẩm định doanh thu, chi phí, giá thành và lợi nhuận dự kiến
- Thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính
thể về sự hợp lý, tính đầy đủ của dự án như Hồ sơ dự án vay vốn, tư cách pháp lý,
năng lực của khách hàng vay vốn, để có những nhận xét chung, khái quát về dự án và
khách hàng vay vốn.
- Thẩm định chi tiết: Sau khi thẩm định tổng quát về dự án và khách hàng vay
vốn. Cán bộ thẩm định chi tiết, cụ thể hơn về các nội dung cần thẩm định: thẩm định
chi tiết về tư cách pháp lý, năng lực quản lý, điều hành, năng lực tài chính của chủ
đầu tư. Thẩm định về mọi phương diện của dự án vay vốn, thẩm định những rủi ro
gặp phải của dự án. Với mỗi nội dung đều phải xem xét, nhận xét xem nó có đạt yêu
cầu, tiêu chuẩn không?
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
16
* Phương pháp đánh giá, so sánh đối chiếu các chỉ tiêu
Là phương pháp so sánh, nội dung dự án với các chuẩn mực luật pháp quy
định, các định mức kinh tế kỹ thuật thích hợp, các thông lệ, kinh nghiệm thực tế, qua
đó phân tích, so sánh để lựa chọn phương án tối ưu.
Đây là phương pháp mà các Ngân hàng thương mại thường dùng để thẩm định
các dự án xây dựng
* Phương pháp Phân tích độ nhạy
Là phương pháp thường để dùng để thẩm định tính hiệu quả của dự án đầu tư
về mặt tài chính.
Là xem xét sự thay đổi các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án(như lợi
nhuận, thu nhập thuần, tỷ lệ hoàn vốn nội bộ..) khi các yếu tố có liên quan đến chỉ
tiêu đó thay đổi. Nhằm xác định hiệu quả của dự án trong điều kiện biến động của
các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu hiệu quả tài chính đó.
1.2.2. Rủi ro và đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn tại ngân hàng
thương mại.
1.2.2.1. Các loại rủi ro xảy ra trong hoạt động thẩm định dự án tại ngân hàng
thương mại.
Có nhiều loại rủi ro có thể gặp phải với một dự án vay vốn tại Ngân hàng. Công
tác tổng hợp và đánh giá rủi ro hiện tại ở các Ngân hàng thương mại tập trung vào hai
làm giảm mức lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến các chỉ tiêu hiệu
quả tài chính của dự án, làm giảm tính khả thi của dự án về mặt tài chính.
- Rủi ro về chính sách tuyển dụng lao động: Những chính sách thay đổi về
quản lý và tuyển dụng lao động như thay đổi quy định về mức lương tối thiểu, chính
sách với lao động nữ ( thời gian nghỉ thai sản…), chính sách hạn chế hoặc khuyến
khích lao động nước ngoài… đều ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề nhân sự, nhân công
lao động của dự án, ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án.
- Rủi ro về Hạn ngạch thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác: Các rủi
ro này ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và chi phí của dự án. Ví như việc Nhà nước
quyết định hạn chế nhập khẩu mặt hàng hoặc nguồn nguyên vật liệu nào đó mà dự án
SV: Lê Thị Lan Hương Lớp: Đầu tư 47A
18
đang cần, rủi ro này làm ảnh hưởng đến quy mô của dự án, ảnh hưởng đến sản lượng,
chi phí của dự án..
- Rủi ro về Kiểm soát ngoại hối: Việc hạn chế chuyển tiền ra nước ngoài sẽ
ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm của dự án, ảnh hưởng đến
quyền lợi của các nhà đầu tư.
- Rủi ro độc quyền: Sự độc quyền trong kinh doanh của 1 doanh nghiệp, tập
đoàn nào đó sẽ làm hạn chế sự tự do đầu tư của các doanh nghiệp khác. Một số ngành
mà Nhà nước gần như là độc quyền ở nước ta như Sản xuất, cung cấp Điện, dịch vụ
hàng không… sẽ làm giảm cơ hội đầu tư cho các công ty, doanh nghiệp tư nhân
muốn đầu tư vào lĩnh vực này.
- Rủi ro về môi trường, sức khỏe và an toàn: Những quy định về môi trường-
ô nhiễm môi trường, chất thải, quy trình sản xuất để bảo vệ sức khỏe người dân, công
đồng có thể sẽ khiến chi phí dự án tăng, làm giảm hiệu quả của dự án.
* Rủi ro về xây dựng, hoàn tất công trình ( rủi ro về tiến độ thực hiện)
Rủi ro về xây dựng, hoàn tất công trình là những rủi ro liên quan đến tiến độ
thực hiện dự án. Là rủi ro hoàn tất dự án không đúng thời hạn, không đảm bảo các
yêu cầu, các thông số và tiêu chuẩn thực hiện của dự án, rủi ro về chi phí xây dựng
vượt quá mức dự toán, rủi ro giải tỏa dân cư, giải phóng mặt bằng xây dựng, rủi ro về