Rủi ro và đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn tại NHTM CP ngoại thương Hà Nội. - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU.
Trong những năm gần đây, hoạt động của các ngân hàng nói chung và các
ngân hàng thương mại nói riêng diễn ra rất sôi động. Cùng với đó là sự cạnh tranh rất
quyết liệt giữa các ngân hàng. Mặt khác, kể từ khi Việt Nam ra nhập WTO đã tạo ra
những cơ hội và thách thức cho nền kinh tế của nước ta nói chung và hoạt động của
các ngân hàng thương mại nói riêng. Để có thể đứng vững trên thị trường liên ngân
hàng, đòi hỏi các ngân hàng thương mại luôn phải cố gắng và đưa ra những biện
pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trog hoạt động kinh doanh của mình.
Lợi nhuận luôn song hành với rủi ro. Trong các ngân hàng thương mại thì rủi
ro luôn gắn liền với mọi hoạt động đặc biệt là rủi ro trong hoạt động cho vay vốn đầu
tư.
Khi có biến cố xảy ra thì trước hết ngân hàng bị giảm tỷ suất lợi nhuận, thị phần
và uy tín với khách hàng. Sau đó là hàng loạt các hệ luỵ như: thâm hụt quỹ dự phòng
rủi ro, cắt giảm tiền lương của các cán bộ... Do vậy, phòng ngừa rủi ro là một vấn đề
rất quan trong đối với bất kỳ một tổ chức tín dụng nào.
Được thành lập vào ngày 01/03/1985, tính đến nay trải qua 25 năm hoạt động,
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Hà Nội đã không ngừng phát triển và
kinh doanh có hiệu quả. Năm 2004, vinh dự được Chủ tịch nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam tặng huân chương lao động hạng 3.
Nhận thấy rằng, ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Hà Nội có nhiều
điều đáng học hỏi, em đã chọn Ngân hàng là nơi thực tập tốt nghiệp của mình. Qua
một thời gian thực tập tại ngân hàng, em nhận thấy một vấn đề tuy không mới nhưng
vẫn là một vấn đề khá khó đó là: đánh giá rủi ro trong quá trình thẩm định dự án đầu
tư. Vậy nên, em đã chọn đề tài: Rủi ro và đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án
vay vốn tại ngân hàng TMCP ngoại thương Hà Nội.
Do hiểu biết còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu xót, em rất
mong nhận được sự góp ý từ phía các thầy cô và các cán bộ phòng quan hệ khách
hàng.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, chuyên đề được chia làm 2 chương:
Chương 1: Thực trạng công tác đánh giá rủi ro dự án vay vốn tại ngân hàng
thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh Hà Nội.

- Đặc biệt trong chính sách phát triển, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội luôn
chú trọng đào tạo một đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và tinh thông nghiệp vụ.
1.1.1.2 Định hướng phát triển.
- Là thành viên của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, với mục tiêu xây dựng
Ngân hàng Ngoại thương trở thành ngân hàng lớn trong khu vực và trên thế giới,
ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đặt mục tiêu và định hướng phát triển sau đây:
1. Cơ cấu lại tổ chức và hệ thống quản lý theo mô hình hướng tới khách hàng và
theo chuẩn mực của ngân hàng hiện đại. Lành mạnh hoá hệ thống tài chính và tiến
tới đạt các chỉ tiêu theo thông lệ quốc tế về ngân hàng.
3
2. Đa dạng hoá hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm cả hoạt động ngân hàng
bán buôn và hoạt động ngân hàng bán lẻ. Mở rộng quan hệ khách hàng với mọi
thành phần kinh tế, chú trọng hơn tới các khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ.
3. Mở rộng mạng lưới và các kênh hoạt động ngân hàng trên địa bàn Hà Nội. Phát
triển nhanh các sản phẩm và dịch vụ của Ngân hàng Ngoại thương dựa trên nền
tảng của công nghệ hiện đại.
4. Phát huy vai trò chủ đạo trên thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại tệ và hoạt
động xuất nhập khẩu.
5. Tăng cường đào tạo, đào tạo lại và tuyển dụng mới cán bộ, tạo lập nguồn nhân
lực chất lượng cao của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển và nâng cao chất
lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
6. Xây dựng trụ sở và tạo lập không gian giao dịch ngân hàng hiện đại, khang
trang, không ngừng nâng cao và hoàn thiện ứng dụng công nghệ trong quản lý và
kinh doanh ngân hàng nhằm đa dạng hoá hoạt động nghiệp vụ và đa dạng hoá
khách hàng.
1.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng ngoại thương chi nhánh Hà Nội.
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của ngân hàng TMCP ngoại thương Hà Nội.
4
Nguồn: Phòng hành chính nhân sự.
*Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:

NHNN VN và NHTMCP NTVN
+ Phòng kiểm soát nội bộ:
Chức năng:
Là phòng chuyên môn có chức năng tham mưu và giúp Ban giám đốc trong
việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản của Pháp luật, quy chế của NHNN
Việt Nam, quy định của NHTMCP NT Việt Nam nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt
động kinh doanh tiền tệ, tín dụng của Chi nhánh nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà Nước,
lợi ích của Ngân hàng và khách hàng tại Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương
Hà Nội; kiến nghị bổ sung, chỉnh sửa các văn bản quy định của NHTMCP Ngoại
thương VN và Chi nhánh khi phát hiện sơ hở, bất hợp lý dẫn đến không an toàn cho
hoạt động kinh doanh của Chi nhánh.
6
+ Phòng thanh toán xu t nh p kh u:ấ ậ ẩ
Chức năng:
Là phòng chuyên môn có chức năng thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế
và bảo lãnh theo đúng các quy định, quy chế và quy trình nghiệp vụ hiện hành của
Nhà nước, NHNN VN, NHTMCP NT VN đồng thời tuân thủ các quy ước quốc tế
về nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
+ Phòng ngân quỹ:
Chức năng:
Phòng Ngân quỹ có chức năng triển khai thực hiện công tác quản lý giấy tờ
có giá, ấn chie qun trọng và tài sản quý tại Chi nhánh, bảo quản và thực hiện thu chi
tiền mặt VNĐ và ngoại tệ đảm bảo đúng quy trình, chế độ quản lý kho quỹ của Nhà
Nước, của ngành Ngân hàng và NH TMCP NT.
+ Phòng tin h c:ọ
Chức năng:
Phòng Tin học có chức năng giúp Ban giám đốc trong việc quản lý, duy trì
hệ thống công nghệ thông tin liên quan đến quản lý hoạt động kinh doanh tại Chi
nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Hà Nội.
+ Phòng h nh chính nhân s .à ự

+Các phòng giao dịch:
Mặc dù quy mô hoạt động là khác nhau song Giám đốc Chi nhánh Ngân
hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Hà Nội quy định chức năng nhiệm vụ
chung cho các phòng Giao dịch số 1, 2, 3, 4, 5, 7, Yết Kiêu và Bát Đàn chung như
sau:
Chức năng:
Các phòng Giao dịch thuộc Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ
phần Ngoại thương Hà Nội gồm 1, 2, 3, 4, 5, 7, Yết Kiêu và Bát Đàn có chức
năng huy động vốn; Cho vay cầm cố, thế chấp tài sản đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình và cá nhân; Các dịch vụ về ngân hàng tại Chi
nhánh
1.1.3 Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng ngoại thương chi nhánh Hà Nội.
Với mong muốn xây dựng ngân hàng ngoại thương thành một trong những
ngân hàng hàng đầu trong khu vực, bên cạnh đó là không ngừng đáp ứng nhu
cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, Ngân hàng ngoại thương chi nhánh
Hà Nội luôn xứng đáng là sự lựa chọn tin cậy của khách hàng. Các sản phẩm,
dịch vụ của ngân hàng bao gồm:
Thanh toán, tiết kiệm
- Tiền gửi tiết kiệm: ngân hàng ngoại thương chi nhánh Hà Nội cung cấp
nhiều loại hình tiết kiệm với nhiều kỳ hạn khác nhau để khách hàng có thể
lựa chon.
8
- Tiền gửi thanh toán: thông qua việc mở tài khoản tại
ngân hàng ngoaị thương, khách hàng có thể sử dịch vụ tiện ích khác của ngân hàng .
Bảo lãnh:
- Với nhiều loại hình bảo lãnh khác nhau , ngân hàng ngày thu hút được nhiều khách
hàng với những ưu thế nổi trội như: thủ tục đơn giản, phí bảo lãnh thấp…
Thanh toán quốc tế
- Lĩnh vực thanh toán quốc tế là lĩnh vực hoạt động mạnh nhất của ngân hàng
ngoại thương Việt Nam nói chung và ngân hàng ngoại thuơng Hà Nội nói riêng.

8260
9673
9700
6742
7800
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
1 2 3 4 5 6
Tỷ đồng
( Nguồn: phòng quan hệ khách hàng)
Trong hoạt động của các ngân hàng thuơng mại nói chung và ngân hàng ngoại
thương nói riêng, vốn được coi là linh hồn của mọi hoạt động.
Nhìn vào biểu đồ ta thấy:
Năm 2005, ngân hàng ngoại thương chi nhánh Hà nội đã hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu
của ngân hàng ngoại thương Việt Nam giao cho, đạt 8260 tỷ đồng tăng 28,8% so với
năm 2004.
Năm 2006, mặc dù phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trong hoạt động ngân
hàng, nhưng ngân hàng ngoại thương chi nhánh Hà Nội vẫn hoàn thành tốt các chỉ
tiêu mà ngân hàng ngoại thương Việt Nam giao cho. Tính đến cuối năm 2006, tổng
nguồn vốn huy động của ngân hàng đạt 9673 tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2005.
Năm 2007, có thể nói là một năm thành công của công tác huy động vốn của ngân
hàng ngoại Hà Nội. Tính đến 31/12/2007, tổng nguồn vốn huy động đạt 9700 tỷ
đồng tăng 10% so với năm 2006.
Năm 2008, nền kinh tế Thế giới và nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng rất lớn của
cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, tuy vậy tổng vốn huy động được vẫn đạt 6742

- Bên cạnh việc chú trọng khâu tuyển dụng nhân sự thì Chi nhánh còn tích cực tạo
điều kiện cho cán bộ đi học nâng cao trình độ, tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn
nâng cao trình độ chuyên môn cũng như trao đổi kinh nghiệm làm việc.
1.1.4.2.2. Hoạt động xây dựng.
- Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh, hàng năm Chi nhánh chú trọng
việc xây dưng, cải tạo cơ sở làm việc cũng như phát triển mạng lưới.
- Năm 2004:
+ Sửa chữa cải tạo , xây dựng cơ sở vật chất thành lập chi nhánh cấp 2 Ba
đình.
11
+ Tham gia thiết kế nhà đặt máy ATM tai khu đô thị Linh Đàm, Sài đồng,
Hàng Bài, 14 Trần Bình Trọng.
- Năm 2005, tập trung cải tạo, sửa chữa tòa nhà 344 Bà Triệu, dự kiến Quý I năm
2006 sẽ đưa vào hoạt động. Cải tạo chi nhánh cấp 2 Thành công và Ba Đình, chuẩn
bị cơ sở vật chất cho Phòng giao dịch Linh Đàm.
- Năm 2006, công tác xây dựng cơ bản đang được triển khai gấp rút về thi công công
trình 344 Bà Triệu và triển khai kỹ thuật thi công Dự án xây dựng VCB Hà Nội tại
78 Nguyễn Du, triển khai sửa chữa nhà 14 Yết Kiêu, Phòng Giao dịch 434 Trần
Khát Chân.
- Năm 2007, công tác xây dựng cơ bản tại 344 Bà Triệu được hoàn tất và chính thức
hoạt động giao dịch từ 16/07/2007, triển khai lập hồ sơ kỹ thuật thi công Dự án xây
dựng VCB Hà Nội tại 78 Nguyễn Du.
- Năm 2008, Công tác xây dựng cơ bản đang được hoàn tất những khâu cuối cùng về
thanh quyết toán các Hợp đồng kinh tế tại 344 Bà Triệu và thực hiện các nội dung
công việc để hoàn thiện thiết kế bản vẽ thi công dự án 78 Nguyễn Du, trình TW phê
duyệt ; quyết toán công trình cải tạo sửa chữa ngôi nhà 14 Yết Kiêu để phục vụ giao
dịch và làm việc của các Phòng.
- Năm 2009, sửa chữa cải tạo các phòng giao dịch, toà nhà 344 Bà Triệu.
1.1.4.2.3 Hoạt động mua sắm máy móc trang thiết bị .
- Nhằm cao chất lượng dịch vụ cũng như điều kiện làm việc cho các cán bộ, hàng

- ( Nguồn: Phòng hành chính nhân sự)
- Thu nhập trung bình của cán bộ,công nhân viên cũng ngày một tăng cao:
Bảng 1.2: Thu nhập trung bình các cán bộ qua các năm Đơn vị: trđ
Năm 2004 2005 2006 2007 2008
Thu nhập
trung bình
5 5,2 6 6,3 6,5
(Nguồn: Phòng hành chính nhân sự)
- Đời sống các cán bộ được cải thiện, các phúc lợi xã hội được đảm bảo:
hàng năm chi nhánh tiến hành mua đầy đủ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm y
tế cho tất cả các cán bộ chi nhánh, tổ chức những kì nghỉ, tổ chức các cuộc
thi nấu ăn, ca hát…
- Doanh thu của chi nhánh tăng dần qua các năm:
Bảng 1. 3: Doanh thu qua các năm của chi nhánh Đơn vị: tỷ đồng
Năm 2004 2005 2006 2007 2008
Doanh thu 20,3 35,4 40,1 43,2 45,5
( Nguồn: phòng kế toán tài chính.)
- Các sản phẩm dịch vụ ngàycàng đa dạng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng
như tăng sức cạnh tranh.
Bên cạnh những kết quả trên, thì vẫn còn một số tồn tại:
- Công tác xây dựng cơ bản còn gặp nhiều khó khăn.
- Việc mua sắm máy móc thiết bị đôi khi còn gặp nhiều vướng mắc.
13
- Các trang thiết bị một số không phát huy hết tác dụng.
1.2 Thực trạng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án vay vốn
của ngân hàng ngoại thương chi nhánh Hà Nội.
1.2.1 Quy trình đánh giá rủi ro tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
1.2.1.1 Sự cần thiết phải đánh giá rủi ro.
- Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh doanh và đầu tư đều tiềm ẩn rủi
ro. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là không thể tránh khỏi.

thị trường, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, yếu tố đầu vào. Đây có thể coi là bước
thẩm định quan trọng nhất trong thẩm định dự án.
Sau khi đã xem xét và đánh giá khả năng thực hiện của dự án, các cán bộ sẽ xem xét
hiệu quả về mặt tài chính và khả năng trả nợ của dự án.
Thẩm định khả năng thực hiện dự án.
Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính, khả
năng trả nợ của dự án.
Phân tích, đánh giá rủi ro có thể xảy ra của
dự án.
Lập báo cáo thẩm định và đánh giá rủi ro
của dự án.
15
Hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, do vậy để phòng ngừa rủi ro, ngân hàng
áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay, có thể là bằng tài sản đảm bảo hoặc là
không.
Sau khi đánh giá rủi ro của dự án, các cán bộ thẩm định sẽ tiến hành đánh giá rủi ro
của các biện pháp đảm bảo tiền vay. Đây là điều rất cần thiết, vì nó sẽ là cơ sở đánh
giá khả năng trả nợ của dự án, bổ sung cho nguồn thứ nhất ( hiệu quả sản xuất kinh
doanh của dự án) thiếu vững chắc.
Cuối cùng, các cán bộ thẩm định sẽ lập báo cáo thẩm định và đánh giá rủi ro trình
trưởng phòng quan hệ khách hàng để duyệt và phán quyết cho vay.
Kết luận: nếu nói thẩm định là 1 lần nữa ta đi xem xét đánh giá lại tất cả các khía
cạnh của một dự án đã có, thì đánh giá rủi ro là tổng hợp lại tất cả các rủi ro có thể
gặp phải trong thẩm định dự án. Vậy nên, vai trò của đánh giá rủi ro trong thẩm định
dự án là rất quan trọng. Nó là cơ sơ để ra quyết định có cho vay hay không.
1.2.1.3 Quy trình đánh giá rủi ro tại ngân hàng ngoại thương Hà Nội
- Hoạt động tín dụng có thể coi là xương sống trong hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng thương mại. Ngân hàng ngoại thưong chi nhánh Hà Nội luôn coi trọng đến
hoạt động tín dụng, đặc biệt là cho vay đối với các dự án đầu tư. Trong hoạt động cho
vay theo dự án đầu tư, ngân hàng chịu tác động của ba loại rủi ro: rủi ro đến từ bản

Tiếp nhận
hồ sơ
Đánh giá rủi
ro về CĐT
Đánh giá rủi ro về
DAĐT
Đánh giá rủi ro về các
biện pháp ĐBTV
Lập tờ trình
thẩm định
Báo cáo trưởng
phòng QHKH
Trình duyệt hồ sơ và
phán quyết cho vay.
17
1.2.2 Nội dung đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại ngân hàng
ngoại thương chi nhánh Hà Nội
Khi cho hình thành quan hệ tín dụng, ngân hàng chịu tác động của 3 loại rủi ro :
rủi ro từ phía chủ đầu tư, rủi ro từ đầu tư dự án, rủi ro tín dụng.
Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu kĩ hơn về các nội dung đánh giá rủi ro:
1.2.2.1 Rủi ro về chủ đầu tư.
* Rủi ro về năng lực pháp lý của chủ đầu tư:
Loại rủi ro này xảy ra trong quá trình thẩm định năng lực pháp lý của đầu tư khi
khách hàng vay vốn không có đủ tài liệu chứng minh năng lực pháp lý theo các quy
định của nhà nước và ngân hàng trong thời điểm hiện tại. Các loại tài liệu dùng trong
đánh giá rủi ro của khách hàng gồm có: báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh, các
loại tài liệu liên quan…
Đối với khách hàng doanh nghiệp cần:
- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của : quyết định thành lập doanh nghiệp theo
quy định của Nhà nước, đăng ký kinh doanh , giấy phép đầu tư theo quy định của nhà

quản lý, khi các bộ phận được bố trí không nhịp nhàng, làm việc không ăn khớp với
nhau…
Rủi ro trong khâu tuyển dụng lao động: tuyển quá nhiều lao động, trình đọ tay
nghề của lao động được tuyển không đạt yêu cầu đề ra, ý thức làm việc kém, sử dụng
nhiều lao động nước ngoài trong khi lao động trong nước có thể đáp ứng được…
• Rủi ro về năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện thông qua nhiều khía cạnh:
Tổng tài sản/ tổng nguồn vốn, tình trạng nợ phải thu, nợ khó đòi, tình trạng hàng
tồn kho, hàng tồn kho kém chất lượng, hàng gửi bán. Tình trạng tài sản: tài sản lưu
động, tài sản cố định, các khoản phải thu, các khoản chiếm dụng vốn. Tình trạng
nguồn vốn: nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, thời hạn các khoản nợ. Một số chỉ tiêu phản ánh
khả năng tự chủ của doanh nghiệp như tỷ lệ vốn tự có/ vốn đi vay tuỳ từng ngành và
lĩnh vực mà tỷ lệ này là khác nhau, thông thường tỷ lệ này >= 1 là an toàn; tốc độ
chu chuyển của vốn…
Rủi ro về năng lực tài chính của doanh nghiệp xảy ra khi khả năng thanh toán của
doanh nghiệp thấp sẽ dẫn đến bất lợi khi doanh nghiệp đi vay sẽ phải vay với mức lãi
suất cao hơn do tiềm ẩn rủi ro cao từ đó có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp
không thanh toán được dẫn đến ngân hàng khó thu hồi vốn…
1.2.2.2 Rủi ro về dự án đầu tư.
Một dự án đầu tư thường diễn ra trong một thời gian dài, do đó rủi ro là không
thể tránh khỏi. Đối với ngân hàng đánh giá rủi ro dự án đầu tư là rất quan trọng, đánh
giá rủi ro để đưa ra kết luận về tính kảh thi và hiệu quả về mặt tài chính, khả năng trả
19
nợ của doanh nghiệp, những rủi ro có thể xảy ra để đi đến quyết định có cho vay vốn
hay từ chối cho vay
* Rủi ro về thị trường của dự án.
Đối với các loại sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra phục vụ nhu cầu trong nước:
Rủi ro có thể gặp phải là: rủi ro khi sản phẩm, dịch vụ về hình thức, mẫu mã, bao
bì, quy cách, chất lượng không phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng.
Rủi ro khi giá cả của sản phẩm.dịch vụ sản xuất ra cao hơn giá cả của các sản phẩm

đó thì giao thông có thuận lợi hay không, các hệ thống thông tin liên lạc có phục vụ
tốt cho dự án hay không…
Các cán bộ thẩm định sẽ xem xét tất cả những khía cạnh trên và đưa ra kết luận
về đặc điểm kỹ thuật của dự án có tốt hay không.
• Rủi ro về tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn và khả năng huy động vốn.
Rủi ro về tổng vốn đầu tư:
Rủi ro có thể gặp phải khi tổng vốn đầu tư thay đổi quá lớn so với mức dự kiến
ban đầu, dẫn đến ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn, từ đó ảnh hưởng đến việc
tính toán hiệu quả tài chính, khả năng trả nợ của dự án.
Rủi ro tổng vốn đầu tư xảy ra khi tổng vốn đầu tư chưa tính toán đầy đủ các yếu
tố làm tăng chi phí do trượt giá hay các yếu tố khối lượng công việc phát sinh, dự
phòng việc biến đổi tỷ giá, tính toán sai suất vốn đầu tư…
Rủi ro về cơ cấu vốn đầu tư:
Khi khách hàng đưa ra một con số không chính xác về tổng vốn đầu tư sẽ dẫn tới
sự phản ánh không đúng về cơ cấu vốn đầu tư từ các nguồn. Theo quy định hiên
hành, có quy dịnh về mức tỷ lệ mà chủ đầu tư phải góp vào dự án vay vốn. Không ít
những trường hợp, không có đủ năng lực về tài chính, chủ đầu tư đã đẩy tổng vốn
đầu tư lên một con số rất lớn để có thể vay của ngân hàng nhiều hơn, dẫn đến rủi ro
cho ngân hàng khi cho vay với một số lượng vốn quá lớn. ủacho dự án
Rủi ro về khả năng huy động vốn:
Có thể nói vốn là linh hồn của các dự án, tuy nhiên việc huy động vốn còn là vấn
đề nan giải. Dự án sẽ gặp rủi ro nếu như tiến độ giải ngân, hay khả năng huy động
vốn, các nguồn không đáp ứng tiến độ của dự án, dẫn đến dự án sẽ bị chậm tiến độ
làm phát sinh nhiều khoản mục chi phí…
*Rủi ro về hiệu quả tài chính và độ nhạy của dự án.
+ Rủi ro về hiệu quả tài chính của dự án.
Hiệu quả tài chính của dự án được đánh giá dựa trên một loạt các chỉ tiêu: NPV,
B/C, T, IRR…các chỉ tiêu này dương càng lớn thì hiệu quả tài chính càng lớn và khả
năng trả nợ càng cao.
Các cán bộ thẩm định sẽ dựa trên các căn cứ sau để tính toán hiệu quả tài chính

dung gọi là việc thực hiên được giá trị hàng hoá trên thị trường, việc hoàn trả được
lãi vay trên thị trường được gọi là thực hiện được giá trị thặng dư trên thị trường. Do
vậy có thể xem rủi ro tín dụng như rủi ro kinh doanh nhưng xét trên góc độ ngân
hàng.
Rủi ro tín dụng là rủi ro chính trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương
mại.
Rủi ro tín dụng bao gồm những loại sau:
22
- Rủi ro trong quá trình thu hồi vốn: là những rủi ro khi ngân hàng kiểm tra các
luồng tiền thnah toán như: không thu đủ nợ của khoản vay, rủi ro ngân hàng mất
vốn,..
- Rủi ro không thu đủ nợ của các khoản vay: rủi ro này xảy ra khi khách hàng lâm
vào tình trạng khó khăn về tài chính không đủ khả năng thanh toán nợ. Nguyên nhân
của loại rủi ro này: khi thẩm định các cán bộ ngân hàng đã cho những dự án không
khả thi hoặc tài trợ cho những phương án sản xuất kinh doanh kém hiệu quả. Các cán
bộ ngân hàng không đủ trình độ hoặc vi phạm đạo đức kinh doanh dẫn đến cho vay
sai mục đích. Ngân hàng đặt mục tiêu quá nhiều vào lợi tức mà không quan tâm đến
những khoản cho vay lành mạnh.
- Rủi ro ngân hàng mất vốn: xảy ra khi khách hàng không còn đủ khả năng thanh
toán cáckhoản vay do dự án bị đổ bể hoặc phá sản; do các nguyên nhân bất khả
kháng khác như khách hàng bị chết hoặc mất tích, xảy ra thiên tai tại nơi mà khách
hàng vay vốn ảnh hưỏng nghiêm trọng đến quá trình thu hồi vốn…
- Rủi ro không sử dụng được các luồng thanh toán của khách hàng đã cam kết trả
cho ngân hàng:
+ Rủi ro về tài sản đảm bảo: là tất cả các rủi ro liên quan đến tài sản mà khách
hàng dùng làm vật thế chấp khi vay vốn ngân hàng. Các loại tài sản này bao gồm: các
giấy tờ có giá, động sản, bất động sản, các kim loại quý, bằng chính tài sản hình
thành từ vốn vay…
Khi khách hàng đảm bảo tiền vay bằng tài sản thì khi đó rủi ro có thể phát sinh:
- Rủi ro khi tài sản đảm bảo bị hư hỏng, mất mát: khi khách hàng không có khả

Các cán bộ thẩm định của ngân hàng sẽ tiến hành xem xét:
- Các cơ chế chính sách về ngành nghề, lĩnh vực mà dự án hoạt động có ổn
định hay không, nếu thay đổi thì sẽ tác động đến dự án như thế nào?
- những thay đổi về quản lý sử dụng lao động như quy đinh mức lương tối
thiểu, chính sách cho lao động nước ngoài, tuyển dụng lao động nữ, chế độ
nghỉ ngơi, làm ca…có ảnh hưởng đến dự án hay không, chiều hướng ảnh
hưởng như thế nào.
- Dự án có chịu tác động của những chính sách mới về thuế, có chịu hạn ngạch
xuất khẩu, nhập khẩu …các chế tài khác có liên quan đến dòng tiền của dự án,
tác động tiêu cực hay không?
• Rủi ro về cung cấp:
Các cán bộ thẩm định sẽ xem xet, đánh giá:
- Nguồn cung nguyên vật liệu có ổn định, có đáp ứng được nhu cầu của dự án
hay không?
- Giá cả nguyên vật liệu của dự án có thay đổi hay không, nếu có thì có ảnh
hưởng đến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính hay không?
24
- Số lương, chất lượng nguyên vậtliệu đầu vào của dự án nếu như không đảm
bảo theo thiết kế kỹ thuật ban đầu thì có ảnh hưởng như thế nào đến tình hình
sản xuất cũng như doanh thu hàng năm của dự án.
- Sự cạnh tranh về nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào của dự án trên thị
trường có gay gắt hay không?, dự án có ký được hợp đồng với các nhà cung
cấp có uy tin lớn hay không.
- Dự án có những hợp đồng dài hạn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào ổn định
với những nhà cung cấp có uy tín hay không?
• Rủi ro về thị trường, thu nhập, thanh toán:
Các cán bộ thẩm định sẽ đi xem xét:
- Dự án đã nghiên cứu thị trường tổng thể, thị phần, phân đoạn thị trường một
cách cẩn thận hay chưa?
- Dự báo cung cầu của sản phẩm trong tương lai có sát với thực tế hay không?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status