Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ RỦI RO
ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG TẠI NHNTVN
3.1 Định hướng phát triển dịch vụ thẻ tại NHNTVN
3.1.1 Tiềm năng phát triển dịch vụ thẻ
Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển dịch vụ thẻ nói chung và về số
lượng thẻ phát hành và hệ thống thanh toán cũng như là hệ thống các điểm
chấp nhận thanh toán thẻ nói riêng bởi thị trường thẻ Việt Nam chỉ mới phát
triển, các hình thức thanh toán và sử dụng thẻ vẫn còn ở giai đoạn sơ khai.
Ngày càng có nhiều người tiêu dùng Việt Nam lựa chọn hình thức thanh toán
bằng thẻ tín dụng, thẻ ATM trước hết bởi hình thức thanh toán hiện đại, phù
hợp với nhu cầu của một số điểm mua bán như: mua hàng hoá qua mạng, đặt
vé máy bay, thanh toán tiền phí...
3.1.1.1 Tiềm năng đối với thẻ tín dụng quốc tế.
Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương là khu vực có
tốc độ phát triển thanh toán thẻ tín dụng cao nhất thế giới. Chỉ riêng giá trị
thanh toán của 2 loại thẻ thông dụng nhất là Visa và MasterCard của khu vực
này tăng từ 206,52 tỷ USD năm 1995 lên tới 594,87 tỷ USD năm 2000, con
số này của năm 2005 xấp xỉ đạt 1500 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng lớn nhất
so với các khu vực còn lại trên thế giới.
Thị trường thẻ hiện đại sẽ kéo khách du lịch gián tiếp giúp ngành du
lịch phát triển. Hiện hầu hết các nước đều hạn chế công dân của mình mang
tiền mặt ra nước ngoài, nhưng không qua hạn chế việc dùng thẻ thanh toán
quốc tế. Chính vì thế mà nếu có một hệ thống thanh toán thẻ hiện đại nhằm
tạo điều kiện cho khách du lịch nước ngoài thực hiện thanh toán điện tử thuận
tiện và dễ dàng sẽ tăng đáng kể nguồn thu cho ngành du lịch. Theo thống kê
của tổng cục du lịch Việt Nam trong năm 2007 có khoảng 2,5 triệu khách du
1
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
1
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
ngân hàng trong nước để mở rộng thị phần. Hiện trên thế giới có 20 triệu
điểm chấp nhận thanh toán thẻ Visa, trong đó ở Viêt Nam có hơn 10.000
điểm. Hơn một thập kỷ qua, Visa và các ngân hàng thành viên đã tập trung
chủ yếu và việc tăng số lượng điểm chấp nhận thẻ phục vụ cho khách du lịch
và các doanh nhân đến thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Tuy nhiên tập
đoàn này cho rằng con số 10.000 là con số quá nhỏ bé so với những gì mà
Visa có thể làm được và so với tầm vóc của nền kinh tế Việt Nam. Số điểm
chấp nhận thanh toán bằng thẻ Visa của Việt Nam chỉ chiếm 2% trong tổng số
500.000 điểm chấp nhận thẻ Visa ở Đông Nam Á.
Tại Việt Nam mỗi khách du lịch chi tiêu qua thẻ 237 triệu USD mỗi
năm tại 6000 điểm chấp nhận thanh toán thẻ Visa. Con số chi tiêu của người
Việt Nam qua thẻ Visa chỉ chiếm 0,13% tổng chi tiêu trong khi con số này ở
Malaysia là 7% và ở Philipines là 5%. Việt Nam đang bỏ lỡ nhiều cơ hội kiếm
tiền từ khách du lịch và khuyến khích việc tiêu dùng của dân chúng, mà qua
đó sẽ thúc đẩy các ngành kinh tế và tăng tốc lượng tiền luân chuyển trong xã
hội.
Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ là điều kiện để phát triển
ngành kinh doanh thẻ và ngược lại thẻ tín dụng phát triển sẽ thúc đẩy nhiều
ngành dịch vụ khác cùng phát triển, nhờ đó sẽ tác động không nhỏ đến sự
phát triển chung của nền kinh tế. Vì thế, thị trường thẻ tín dụng Việt Nam
đang có cơ hội để tăng tốc và mở rộng cả về chất và lượng trong những năm
tới đây.
3.1.1.2 Tiềm năng đối với thẻ ghi nợ nội địa.
Theo thống kê tỷ lệ dân thành thị chiếm khoảng 24% dân số cả nước,
tức là khoảng 20 triệu người. Chỉ cần khuyến khích được 15-20% số người ở
thành phố tham gia sử dụng thẻ ghi nợ, các ngân hàng ở Việt Nam đã có thể
phát hành được 3-4 triệu thẻ. Điều này trên thực tế không phải là không thể
3
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
4
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
các ngân hàng thương mại Việt Nam quan tâm.
Tuy nhiên với xuất phát điểm như hiện nay, thị trường Việt Nam phải
giải quyết được vấn đề phát triển phát hành thẻ hay mở rộng mạng lưới chấp
nhận thẻ. Đây là 2 công việc phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Phát triển phát
hành thẻ sẽ thúc đẩy việc mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ, ngược lại việc
mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát
hành và sử dụng thẻ. Các ngân hàng phải tập trung phát triển mạnh và đều cả
2 lĩnh vực trên.
Ngoài ra hiện nay các ngân hàng Việt Nam còn có một thuận lợi đó là
hiện nay dịch vụ ở phát hành và thanh toán thẻ ghi nợ nội địa ở Việt Nam
chưa mở rộng cho các ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng Việt Nam cần
tranh thủ cơ hội này để chiếm lĩnh thị trường trước khi các ngân hàng nước
ngoài được phép tham gia dịch vụ này.
Như vậy có thể nói thị trường thẻ Việt Nam hứa hẹn sẽ là thị trường
kinh doanh đầy hấp dẫn đối với các ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới.
3.1.2 Định hướng phát triển dịch vụ thẻ tại NHNTVN
Hiện nay hầu hết các ngân hàng thương mại đang có xu hướng chuyển
mục tiêu kinh doanh sang khu vực dân cư thay vì tiếp tục khai thác lợi nhuận
từ các tổ chức kinh tế (mảng hoạt động nhiều rủi ro). Dịch vụ thẻ ngân hàng
là một trong những lựa chọn hàng đầu trong chiến lược mở rộng cung ứng
dịch vụ ngân hàng bán lẻ tới dân chúng Việt Nam hiện nay. Và NTNTVN
cũng đang xác định mục tiêu đó.
- Tiếp thu kịp thời và tiếp cận nhanh chóng các công nghệ thanh toán
thẻ hiện đại trên thế giới.
- Phấn đấu nâng tầm hiện đại hoá quá trình thanh toán qua ngân hàng,
trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị cần thiết phục vụ cho
quá trình phát hành và thanh toán thẻ.
vực thanh toán và phát hành thẻ nhằm hạn chế tối đa tổn thất cho ngân hàng.
6
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
6
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
Phối hợp với các phòng ban chuyên môn nghiên cứu xây dựng quy chế tín
dụng riêng cho việc phát hành và thu hồi nợ thẻ tín dụng.
Xấy dựng quy trình đánh giá tín dụng dành cho việc đánh giá các ĐVCNT để
loại bỏ những đơn vị có rủi ro cao.
Liên hệ với các Tổ chức thẻ Quốc tế để cập nhật các thông tin về quản lý rủi
ro (bulletin/ hot cards) và thông báo cho các chi nhánh
Theo dõi các báo cáo giao dịch thanh toán thẻ, sử dụng thẻ trong hệ thống thẻ
Ngân hàng Ngoại thương để phát hiện sớm các trường hợp có nghi ngờ giả
mạo, đề ra các biện pháp xử lý thích hợp, kịp thời, hạn chế tổn thất cho ngân
hàng.
Xử lý các trường hợp rủi ro trong thanh toán như tra soát, bồi hoàn.
Phối hợp với các chi nhánh và là đầu mối liên hệ với các cơ quan pháp luật để
xử lý, điều tra và quản lý các trường hợp giao dịch giả mạo, thẻ giả mạo, mất
cắp, thất lạc ...
Về cơ cấu tổ chức, cần bổ sung thêm cán bộ cho nhóm Quản lý rủi ro
tại Phòng Quản lý Thẻ và tất cả các cán bộ đều phải là cán bộ chuyên trách,
làm việc liên tục các ngày trong tuần. Do hoạt động kinh doanh thẻ diễn ra
liên tục nên không thể để cán bộ rủi ro làm công tác kiêm nhiệm và bán thời
gian vì khi rủi ro xảy ra càng phát hiện sớm và xử lý kịp thời thì càng giảm
thiểu được tổn thất cho ngân hàng. Trong thời gian trước mắt, nhóm Quản lý
rủi ro tại Phòng Quản lý Thẻ, ngoài 1 cán bộ phụ trách nhóm cần có ít nhất 3
cán bộ nghiệp vụ hàng ngày để chấm, theo dõi các báo cáo cũng như xử lý
các trường hợp có dấu hiệu và hành vi giả mạo. Bên cạnh đó, ở các Chi nhánh
của NHNTVN trong cả nước, mỗi Chi nhánh cần có một cán bộ thẻ làm đầu
mối chịu trách nhiệm phối hợp hành động với nhóm Quản lý rủi ro khi phát
ràng, thường xuyên quan tâm đến đời sống, tâm tư tình cảm của cán bộ, gắn
quyền lợi của cán bộ với hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng để từ đó
mỗi cán bộ nâng cao ý thức trách nhiệm của mình đối với việc hạn chế rủi ro
8
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
8
Chuyờn đề tốt nghiệp Trường: ĐHKTQD
tổn thất trong quá trình kinh doanh thẻ của ngân hàng.
3.2.3 Hạn chế tình trạng giả mạo trong hoạt động thanh toán và phát
hành thẻ
3.2.3.1 Xây dựng hệ thống chấm điểm và phân loại khách hàng
Phần lớn thẻ tín dụng được phát hành tại ngân hàng hiện nay vẫn chưa
được sử dụng với đúng tính chất của nó. Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng
trên cơ sở đánh giá về năng lực pháp lý và năng lực tài chính của chủ thẻ, trừ
những trường hợp đặc biệt khách hàng không thể chứng minh được năng lực
tài chính mà vẫn có nhu cầu sử dụng thẻ thì ngân hàng mới yêu cầu tài sản thế
chấp để phát hành. Từ trước đến nay chủ yếu thẻ phát hành tại Ngân hàng
Ngoại thương phát hành dưới dạng thế chấp nên rủi ro do chủ thẻ không
thanh toán được sao kê hầu như không có. Tuy nhiên điều đó cũng đã hạn chế
số lượng khách hàng đến phát hành thẻ. Trước sức ép cạnh tranh ngày càng
lớn trên thị trường, phát hành tín chấp là một xu thế tất yếu Ngân hàng Ngoại
thương sẽ phải áp dụng trong thời gian tới. Để thẩm định chính xác một khách
hàng, lựa chọn được cho mình những khách hàng tốt có nhu cầu thực sự thì
ngay từ bây giờ ngân hàng Ngoại thương cần xây dựng cho mình một hệ
thống chấm điểm tín dụng và phân loại khách hàng riêng cho lĩnh vực thẻ. Hệ
thống chấm điểm này căn cứ trên các thông tin về thu nhập, về địa vị xã hội,
cơ quan công tác, thâm niên, số lượng thẻ đã phát hành, lịch sử quá trình sử
dụng thẻ của khách hàng ... Hệ thống chấm điểm này có tính thống nhất tập
trung trong toàn hệ thống, đảm bảo toàn bộ cán bộ thẻ các chi nhánh có thể
truy cập để tham khảo thông tin trước khi ra quyết định. Khách hàng phát
Bảo quản các thông tin thẻ: Số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, số PIN, mã số
bí mật của thẻ ... là những thông tin quan trọng, cần thiết cho việc thực hiện
thanh toán thẻ. Đây là những thông tin giúp ngân hàng định danh khách hàng
và kiểm tra khả năng thanh toán của chủ thẻ. Nếu như khách hàng để lộ các
thông tin này các tổ chức thẻ có thể lợi dụng để thực hiện các giao dịch không
10
Nguyễn Viết Hà Lớp: Tài chính 46Q
10