Một số giải pháp hoàn thiện Quản lý Nhà nước đối với công tác
đào tạo phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Hóa dầu
Petrolimex
I. Nhà nước định hướng đào tạo phát triển nguồn nhân lực của Công ty Cổ phần
Hóa dầu Petrolimex.
1. Chiến lược phát triển của PLC từ nay đến 2010 và một số giải pháp thực hiện
chiến lược này.
Chiến lược của Công ty.
- Tiếp tục là một trong những Công ty SXKD hàng đầu các sản phẩm Hóa
dầu: Dầu mỡ nhờn, Nhựa đường, Hóa chất…tại Việt Nam.
- Đầu tư phát triển hệ thống CSVCKT hiện đại, công nghệ cao; có vị trí thuận
lợi tại các trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam: Hà Nội, Hải phòng, Đà Nẵng, Quy
Nhơn, TP.HCM, Cần thơ.
- SXKD các sản phẩm Hóa dầu mang thương hiệu PETROLIMEX – PLC có
chất lượng đạt tiêu chuẩn Quốc gia và Quốc tế; dịch vụ hoàn hảo và thõa mãn tốt
nhất nhu cầu của khách hàng.
- Đầu tư phát triển hoạt động xuất khẩu các sản phẩm Hóa dầu sang thị
trường các nước trong khu vực.
- Đa dạng hóa các hoạt động SXKD trên cơ sở khai thác những lợi thế sẵn có
của Công ty, đảm bảo hiệu quả kinh doanh.
- Tăng cường công tác đầu tư phát triển nguồn nhân lực; tạo môi trường làm
việc tốt nhất cho người lao động; quan tâm phát triển lợi ích cộng đồng.
- Đầu tư xúc tiến quảng cáo thương hiệu PETROLIMEX – PLC.
- Không ngừng nâng cao giá trị doanh nghiệp nhằm mang lại giá trị tối đa cho
các cổ đông đầu tư vào Công ty.
- Phát triển Công ty nhanh và bền vững.
Một số giải pháp thực hiện chiến lược Công ty.
+ Thực hiện đề án cấu trúc lại Công ty theo mô hình Công ty mẹ- Công ty con:
- Tham gia đầu tư để hình thành các Công ty con là doanh nghiệp do Công ty
mẹ giữ cổ phần chi phối.
- Tham gia đầu tư để hình thành các Công ty liên kết là doanh nghiệp do
hàng năm 10- 12%.
- Đối với nhựa đường: Tiếp tục xúc tiến xuất khẩu sang Lào, Campuchia.
- Đối với dung môi hoá chất: Nghiên cứu xúc tiến xuất khẩu sang thị trường
Trung Quốc, đặc biết quan tâm tới nhu cầu dung môi hoá chất của thị trường các tỉnh
biên giới giáp phía bắc Việt Nam.
+ Đa dạng hoá các hoạt động SXKD trên cơ sở khai thác những lợi thế sẵn có
của Công ty, đảm bảo hiệu quả kinh doanh:
- Góp vốn đầu tư: 02 tàu chở nhựa đường, trọng tải 2000 DWT/ 01tàu chở
dung môi hoá chất, trọng tải 6500 DWT/ 01 tàu.
- Góp vốn đầu tư kho cảng container tại Đình Vũ - Hải Phòng.
- Góp vốn đầu tư tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và đầu tư tại Đà Nẵng
một số toà cao ốc văn phòng cho thuê.
+ Tăng cường công tác đầu tư phát triển nguồn nhân lực; tạo mội trường làm
việc tốt nhất cho NLĐ; quan tâm phát triển lợi ích cộng đồng.
- Tuyển dụng và đào tạo lao động có trình độ chuyên môn cao, trình độ ngoại
ngữ giỏi và các kỹ năng phù hợp với hoạt động SXKD của Công ty.
- Xây dựng các chính sách thu hút nguồn nhân lực, chế độ đãi ngộ tốt, môi
trường làm việc thân thiện , văn hoá Công ty,… tạo động lực tôt cho NLĐ phát huy
khả năng trí tuệ và gắn bó lâu dài vì mục đích chung của Công ty.
- Quan tâm đóng góp cho các hoạt động xã hội, từ thiện, bảo trợ khuyến học,…
+ Đầu tư xúc tiến quảng cáo thương hiệu PETROLIMEX-PLC.
Gia tăng hoạt động xúc tiến thương mại, quảng cáo, quan hệ công chúng và
gây dựng hình ảnh của Công ty, sản phẩm của Công ty đối với khách hàng trong
nước và nước ngoài.
+ Nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh.
- Quan hệ với các ngân hàng lớn, các tổ chức tín dụng trong nước và nước
ngoài để ký hợp đồng tín dụng có mức lãi suất cạnh tranh.
- Quan hệ với nhà cung cấp lớn để đàm phán hạn mức tín dụng thanh toán,
trả chậm, mua lô lớn, với giá cả cạnh tranh.
- Siết chặt công nợ thanh toán chậm của các khách hàng trong nước, giảm
dầu nhờn…
- Thường xuyên cử cán bộ đi đào tạo những lớp nghiệp vụ ngắn ngày về công
tác XNK, kế toán, lao động tiền lương, an toàn bảo hiểm lao động, tiêu chuẩn chất
lượng. Xuyên suốt trong thời gian thực hiện nghiệp vụ chuyên môn, Công ty còn hỗ
trợ kinh phí cho những cán bộ công nhân viên học tập nâng cao thêm kiến thức ngoài
giờ làm việc như cử đi đào tạo 13 thạc sỹ, 8 ĐH (văn bằng 2), ngoại ngữ.
- Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, Công ty
cũng đã đề nghị với Tổng Công ty và kết hợp với các đơn vị tiếp tục đào tạo cử nhân
và cao cấp lý luận chính trị cho 9 cán bộ lãnh đạo. Cử các quần chúng ưu tú tham gia
các lớp bồi dưỡng nhận thức lý luận chính trị.
- Tuyển dụng và bồi dưỡng thêm các cán bộ trẻ để chuẩn bị cho việc thay thế
một số vị trí làm việc không hiệu quả.
II. Một số giải pháp hoàn thiện Quản lý Nhà nước đối với công tác đào tạo phát
triển nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần Hóa dầu Petrolimex.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn lịch sử mới, giai đoạn tiến hành CNH-
HĐH đất nước. Để tiến hành sự nghiệp trọng đại này, đòi hỏi một đội ngũ nhân lực
đông đảo với chất lượng mới từ người cán bộ quản lý, các nhà khoa học đến những
nhân viên thừa hành.
Bởi vậy, việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ lao động cho phù hợp với điều kiện
mới đang là vấn đề hết sức cấp bách hiện nay, cần có những chính sách cũng như giải
pháp đặc biệt khác với hoàn cảnh bình thường.
Muốn thực hiện được điều đó, mọi cấp, mọi ngành cần coi trọng công tác
ĐTPTNNL và vai trò Nhà nước trong đào tạo bồi dưỡng NNL tại các cấp ngành phải
được đảm bảo.
Đối với ngành Hóa dầu, Quản lý Nhà nước đối với đào tạo, phát huy nhân tố
con người được đặc biệt chú trọng vì Hóa dầu là một mặt hàng chiến lược do Nhà
nước thống nhất quản lý và PLC cũng dành được sự quan tâm ưu ái đó. Hiện nay, vai
trò này của Nhà nước tại PLC chưa được thể hiện rõ nên đã ảnh hưởng không ít đến
sự phát triển NNL của Công ty. Vì vậy, để nâng cao vai trò QLNN ở phương diện
này tại PLC, chúng ta có thể đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với
doanh nghiệp đã làm nảy sinh những mâu thuẫn giữa VBPL này với VBPL khác làm
giảm hiệu lực pháp lý của nó và dẫn đến tình trạng thực thi trái ngược nhau trong
thực tế. Để khắc phục tình trạng này, các cơ quan khi ban hành các văn bản QPPL
cần căn cứ vào các QPPL hiện đang còn hiệu lực. Nếu các quyết định ban hành sau là
đúng đắn và phù hợp hơn với thực tế thì cũng phải được cấp có thẩm quyền xác nhận
và công bố.
Thứ tư, cần ban hành sớm và đầy đủ các thông tư hướng dẫn đối với văn bản
luật để các văn bản này sớm đi vào cuộc sống, sớm được áp dụng trong ĐTPTNNL
của doanh nghiệp.
Trong thực tế, các cơ quan quản lý còn chậm thể chế hóa các chủ trương chính
sách ĐTPTNNL tại các doanh nghiệp, nhiều điểm thiếu cụ thể.
Thứ năm, cần có các văn bản QPPL quy định rõ về cơ chế tài chính đối với
các cơ sở đào tạo.
Nhà nước cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể cho từng loại cơ sở đào tạo
trong đó xác định rõ các khoản thu, chi cơ bản như quy định khung học phí như thế
nào, cần phân biệt giữa các cấp học, bậc học. Đặc biệt là cần phải có các quy chế
quản lý các TSCĐ, vốn và bảo đảm nâng cao chất lượng đào tạo NNL của các doanh
nghiệp.
Thứ sáu, tăng cường các quy định về quản lý hoạt động của các cơ sở đào tạo,
bồi dưỡng NNL cho các doanh nghiệp.
Bộ GD – ĐT là cơ quan quản lý Nhà nước về ĐTPTNNL trong các doanh
nghiệp cần nhanh chóng ban hành các quy định để đảm bảo chất lượng của các cơ sở
đào tạo như: Ban hành các tiêu chuẩn đào tạo (cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, đặc
biệt là tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo).
Các quy định tiến hành quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo trên mỗi địa
bàn cho hợp lý phục vụ cho nhu cầu đào tạo của người lao động trong doanh nghiệp.
Thứ bảy, cần lưu ý thiết lập sự công bằng trong đối xử đối với các cơ sở đào
tạo.
Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp quy, tạo ra sân chơi bình đẳng về
điều kiện vật chất, đội ngũ giảng viên, tiêu chuẩn đầu vào, các chế độ đãi ngộ… về
từ đó nhận thức được tầm quan trọng của ĐTPTNNL. Nhưng việc thực hiện công tác
ĐTPTNNL là rất khó khăn và phức tạp như ta thường gặp phải đó là nhu cầu đào tạo
thì lớn; điều kiện khả năng thì có hạn. Do đó, để huy động các nguồn lực cho đào
tạo phát triển thì các chính sách đào tạo phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Căn cứ vào nhu cầu phát triển KTXH để xây dựng kế hoạch đào tạo.
+ Phải đa dạng hóa các loại hình tổ chức, sử dụng nhiều phương pháp đào
tạo. Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào ĐTPTNNL trong các
doanh nghiệp trong đó có PLC.
+ Tăng cường vai trò QLNN đối với hoạt động đào tạo NNL tại PLC, nhất là
việc kiểm tra chất lượng của đào tạo.
+ Trên quan điểm “Đầu tư cho GD – ĐT là đầu tư cho phát triển, là quốc sách
hàng đầu” Nhà nước phải chú trọng đầu tư cho đào tạo, các biện pháp thu hút các
nguồn lực phục vụ cho công tác ĐTPTNNL phải đa dạng, phong phú.
+ Các công cụ thực thi chính sách phải đúng đắn, và phải sử dụng một cách
đồng bộ. Biện pháp đào tạo phải toàn diện.
+ Đảng bộ và các cấp chính quyền phải quản lý chặt chẽ, quan tâm sâu sắc
đến toàn bộ công tác ĐTPTNNL. Trước tiên là khâu kế hoạch đào tạo NNL, tiếp đến
là khâu tổ chức thực hiện.
- Phải đảm bảo hiệu quả SXKD của Công ty kết hợp với hiệu quả KTXH cao
cho mỗi quá trình đào tạo.
Đòi hỏi mỗi quá trình ĐTPTNNL phải đáp ứng kịp thời yêu cầu về số lượng
và chất lượng cho hoạt động SXKD của Công ty, cũng như yêu cầu số lượng, cơ cấu,
thời gian cho các ngành nghề các cơ sở kinh tế phát triển theo hướng CNH – HĐH.
Mỗi học viên sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo phải trở thành một công nhân
hay một cán bộ quản lý giỏi có kiến thức kỹ năng, có phẩm chất tốt, có thể đáp ứng
ngay yêu cầu sử dụng của Công ty, của Nhà nước.
Muốn vậy, phải có các chương trình đào tạo thích hợp, phải có đội ngũ giảng
viên giỏi, cơ sở đào tạo hiện đại phục vụ công tác đào tạo.
Hiệu quả của công tác đào tạo phải gắn liền với lợi ích của cơ sở đào tạo. Các
cơ sở đào tạo NNL phải có thu nhập và được hưởng các khoản phúc lợi tương xứng