hoạt động thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước đối với các tổ chức tín dụng tại việt nam - Pdf 23

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM
SÁT ĐỐI VỚI CÁC TCTD CỦA NHNN VIỆT NAM 4
1.1. Khái niệm Thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD tại Việt Nam 4
1.1.1. Khái niệm hoạt động Thanh tra, giám sát đối với các TCTD 4
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 30
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
TẠI VIỆT NAM 58
Nội dung nguyên tắc 83
I
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HĐQT : Hội đồng quản trị
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
IAS : Chuẩn mực kế toán quốc tế
NHLD : Ngân hàng liên doanh
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN : Ngân hàng thương mại Nhà nước
TCTC : Tổ chức tài chính
TCTD : Tổ chức tín dụng
QTDND : Quỹ tín dụng nhân dân
ADB : Ngân hàng phát triển châu Á
WB : Ngân hàng thế giới
II
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Kết quả tự đánh giá hệ thống Thanh tra ngân hàng theo 25
nguyên tắc cơ bản của Uỷ ban Basel
83

kinh tế. Sự an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng góp phần
tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động thương mại, đầu tư, tài chính
phát triển và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh.
Hiện nay, trong khi đối tượng của hoạt động Thanh tra, giám sát là tổ chức
và hoạt động của các TCTD đang biến động từng ngày, thì hoạt động Thanh tra,
1
giám sát của Ngân hàng Nhà nước nếu không được đổi mới kịp thời và đúng
hướng, sẽ khó đạt được mục tiêu đảm bảo sự ổn định, an toàn của hệ thống TCTD
tại Việt Nam.
Với đề tài: "Hoạt động Thanh tra, giám sát của Ngân hàng nhà nước đối
với các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam", nhóm nghiên cứu mong muốn sẽ tìm
ra được những giải pháp góp phần đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động Thanh
tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước cho phù hợp với sự phát triển ngày càng
mạnh mẽ của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, đồng thời đáp ứng được yêu cầu
hội nhập quốc tế của nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng, tài chính nói
riêng cũng nhu phù hợp với những chuẩn mực về giám sát ngân hàng hiệu quả
theo thông lệ quốc tế.
Mục tiêu nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề cơ bản về hoạt động Thanh tra, giám sát của
NHNN đối với các TCTD. Những bài học kinh nghiệm của các quốc gia về mô
hình cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các TCTD tại Việt Nam dưới sự điều
hành và kiểm soát của NHNN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả hoạt động Thanh tra, giám sát
của Ngân hàng nhà nước đối với các TCTD tại Việt Nam. Nghiên cứu những
định hướng phát triển hoạt động Thanh tra, giám sát của NHNN và đề ra những
kiến nghị đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Thanh tra, giám sát của
Ngân hàng Nhà nước.
- Đề xuất những giải pháp góp phần đổi mới hoạt động Thanh tra, giám sát
của Ngân hàng Nhà nước cho phù hợp với thực tiễn phát triển không ngừng của

1.1. Khái niệm Thanh tra, giám sát của NHNN đối với các TCTD tại Việt
Nam
1.1.1. Khái niệm hoạt động Thanh tra, giám sát đối với các TCTD.
Theo từ điển tiếng Việt: “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ của địa
phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, Thanh tra là kiểm soát nhằm phát
hiện và ngăn chặn những gì trái với quy định. Thanh tra thường đi kèm với một
chủ thể nhất định như đoàn Thanh tra, người làm nhiệm vụ Thanh tra. Trong văn
bản pháp luật và thực tiễn hoạt động của nước ta, cụm từ “Thanh tra, kiểm tra”
được sử dụng để chỉ một hoạt động không thể thiếu của quản lý nhà nước nhằm
hướng đối tượng theo những mục tiêu nhất định. Thanh tra là một trong ba yếu tố
cấu thành của hoạt động quản lý nhà nước, đó là: (i) Ban hành các quyết định
quản lý, (ii) Tổ chức triển khai, thực hiện các quyết định đã ban hành và (iii)
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quyết định quản lý. Mặc dù là khâu cuối
cùng của quá trình quản lý nhưng Thanh tra đóng vai trò rất quan trọng, và thiếu
nó không thể có quá trình quản lý hoàn chỉnh.
Thanh tra góp phần tăng cường pháp chế và kỷ cương xã hội. Thông qua
công tác Thanh tra, các cơ quan quản lý nhà nước kịp thời phát hiện và ngăn chặn
các hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân. Thanh tra cung cấp thông tin
phản hồi - nhu cầu không thể thiếu trong quá trình quản lý - để cấp có thẩm quyền
nắm bắt được quyết định quản lý đã ban hành đã được thực hiện ra sao, còn phù
hợp thực tiễn hay không và cần phải sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới như thế
nào…
Trên thế giới, Ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia có thể được tổ chức
theo những mô hình khác nhau, nhưng mục tiêu tổng quát chung mà các Ngân
hàng trung ương đều hướng tới đó là việc ổn định giá trị đồng tiền cả về đối nội
4
cũng như đối ngoại; duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, góp phần thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế.
Để đạt được các mục tiêu trên, Ngân hàng trung ương hoạt động theo các
chức năng chủ yếu như phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết lượng tiền cung

thống kiểm soát nội bộ, hệ thống quản lý rủi ro.
+ Đánh giá mức độ đáng tin cậy của những thông tin, dữ liệu mà ngân hàng
cung cấp cho NHNN và cho các yêu cầu công khai thông tin; phát hiện và xử lý
vi phạm; kịp thời đưa ra kiến nghị.
+ Tiếp xúc trực tiếp với ban lãnh đạo và nhân viên ngân hàng để có được cái
nhìn từ bên trong và sự hiểu biết tốt hơn, thực tế hơn về một ngân hàng cụ thể.
1.1.1.2. Khái niệm giám sát đối với các tổ chức tín dụng
Khái niệm giám sát từ xa đối với các TCTD xuất hiện và nghiên cứu tại Mỹ
vào những năm cuối thập kỷ 70, thời kỳ nhiều ngân hàng Mỹ rơi vào tình trạng
khủng hoảng, sau đó tình trạng tương tự xảy ra tại Tây Ba Nha. Qua nghiên cứu,
các nhà quản lý ngân hàng phát hiện những hiện tượng không bình thường và dẫn
đến tình trạng khủng hoảng nói trên phần lớn đều phát sinh trong thời gian “
khoảng trống” giữa hai kỳ Thanh tra tại chỗ. Tình trạng này cũng diễn ra khá phổ
biến ở các nước trên thế giới đối với ngành ngân hàng. Để khắc phục hiện tượng
này, các nhà quản lý đã đưa ra một phương pháp nhằm giám sát từ xa, được áp
dụng hầu hết phổ biến với hoạt động Thanh tra của Ngân hàng Trung ương các
nước và trở thành biện pháp nghiệp vụ không thể thiếu trong quá trình Thanh tra,
giám sát hoạt động của các TCTD
6
Ủy ban Basel cũng đã đưa ra 25 nguyên tắc về Thanh tra, giám sát ngân
hàng bao gồm khung giám sát từ khâu cấp phép thành lập, tổ chức và hoạt động,
quản trị điều hành đến giải thể, phá sản ngân hàng. Bản chất của giám sát (gồm
Thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa) hệ thống ngân hàng là thực hiện giám sát
những nguy cơ rủi ro đối với hệ thống ngân hàng và khả năng khống chế rủi ro.
Do đó, hoạt động giám sát ngân hàng phải tập trung giám sát và quản lý thận
trọng bằng cách cố gắng đánh giá hết được những rủi ro nảy sinh từ các hoạt
động ngân hàng.
Hoạt động giám sát từ xa được áp dụng vào Việt Nam khoảng năm 1991.
Lúc đầu được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp thủ công nên rất chậm, không
tiến hành theo định kỳ tháng và chất lượng thấp.

thường xuyên và đồng thời một số lớn ngân hàng hay hệ thống ngân hàng. Trong
khi đó, giám sát từ xa phù hợp cho việc đánh giá về mặt định lượng hoạt động của
từng ngân hàng cũng như một số lớn ngân hàng một cách liên tục, thường xuyên.
Chính những đặc điểm có thể bổ trợ cho nhau này mà giám sát từ xa và Thanh tra
tại chỗ được NHNN sử dụng một cách đồng thời để Thanh tra, giám sát hoạt động
của các TCTD.
Để Thanh tra, giám sát các TCTD, hầu hết các cơ quan giám sát ngân hàng
trên thế giới đều áp dụng giám sát từ xa và Thanh tra tại chỗ. Điều này được
khẳng định trong các yêu cầu giám sát ngân hàng hiệu quả của Uỷ ban Basel đó
là: một hệ thống giám sát ngân hàng hiệu quả cần bao gồm cả 2 hình thức Thanh
tra tại chỗ và giám sát từ xa. Tuy nhiên, hoạt động Thanh tra, giám sát đó là
Thanh tra giám sát tuân thủ hay là Thanh tra giám sát trên cơ sở rủi ro còn phụ
thuộc vào mỗi nước.
8
1.1.1.3. Khái niệm Thanh tra, giám sát tuân thủ.
Trên thế giới cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động Thanh tra,
giám sát trên cơ sở tuân thủ. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, các cơ quan
giám sát ngân hàng các nước đều sử dụng 2 hình thức đó là giám sát từ xa và
Thanh tra tại chỗ để thực hiện Thanh tra, giám sát đối với TCTD. Hoạt động
Thanh tra, giám sát truyền thống (tức là áp dụng trước những năm 1990) đó là
Thanh tra, giám sát tuân thủ. Có thể hiểu Thanh tra, giám sát tuân thủ là việc tập
trung phát hiện, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật có liên quan của đối tượng
được Thanh tra, giám sát; coi đây là mục tiêu hàng đầu và cũng là mục tiêu quan
trọng nhất khi Thanh tra, giám sát các đối tượng này.
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng tài
chính hoạt động Thanh tra của các nước đã thay đổi căn bản và thay đổi liên tục.
Đối với các nước có thị trường tài chính, tiền tệ phát triển mạnh thì hoạt động
Thanh tra, giám sát giám sát trên cơ sở tuân thủ đã được thay đổi từ rất sớm bằng
hoạt động Thanh tra giám sát từ xa trên cơ sở rủi ro khi các nước này thực hiện
các chuẩn mực và nguyên tắc Thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả của Uỷ ban

đích hoạt động phổ biến nhất của Thanh tra ngân hàng là: góp phần bảo đảm sự
phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài
chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ
chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các
tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và
ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh
vực tiền tệ và ngân hàng. (Theo điều 50 Luật NHNN số 46/2010/QH12)
1.1.2.2. Nguyên tắc hoạt động của Thanh tra ngân hàng
10
Theo điều 51 luật NHNN số 46/2010/QH12, nguyên tắc hoạt động của
Thanh tra ngân hàng là:
- Thanh tra, giám sát ngân hàng phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính
xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt
động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng Thanh tra, giám sát
ngân hàng.
- Kết hợp Thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ
và ngân hàng với Thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng Thanh
tra, giám sát ngân hàng.
- Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc Thanh tra,
giám sát toàn bộ hoạt động của TCTD.
- Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện theo quy định của Luật
NHNN và các quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp có sự khác
nhau giữa quy định về Thanh tra, giám sát ngân hàng của Luật NHNN với quy
định của luật khác thì thực hiện theo quy định của Luật NHNN.
- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trình tự, thủ tục Thanh tra, giám
sát ngân hàng.
1.1.3 Tổ chức, Bộ máy thực hiện chức năng Thanh tra tại Việt Nam.
1.1.3.1. Vai trò của Thanh tra Ngân hàng
Ổn định tài chính luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt, nhất là trong thời kỳ
khủng hoảng. Với sự hiện diện của những bất ổn không lường trước được trong

Đáng chú ý là hệ thống chỉ tiêu giám sát của chương trình giám sát từ xa,
bao gồm các chỉ tiêu trong và ngoài cân đối, đã được nghiên cứu, bổ sung, đổi
mới một phần, phù hợp hơn với tính chất phức tạp cũng như sự phát triển đa dạng
các loại hình dịch vụ ngân hàng. Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu thu thập được, hoạt
động giám sát cũng đã cung cấp được nhiều loại báo cáo hơn theo yêu cầu của
các cấp quản lý.
Ngoài ra, hoạt động giám sát đã chỉ điểm cho công tác Thanh tra tại chỗ;
cung cấp những thông tin ban đầu cho việc xây dựng kế hoạch Thanh tra như lựa
chọn đối tượng, nội dung Thanh tra.
1.1.3.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy và nhân sự của Thanh tra Ngân hàng.
Ngày 30/7/2009, NHNN đã tổ chức công bố thành lập Cơ quan Thanh tra,
giám sát ngân hàng theo Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg ngày 27/5/2009. Cơ
quan Thanh tra giám sát ngân hàng được thành lập dựa trên cơ sở tổ chức lại 4
đơn vị trực thuộc nhà nước bao gồm: Thanh tra, Vụ các ngân hàng, Vụ các TCTD
hợp tác và Trung tâm phòng chống rửa tiền. Thành lập Cơ quan Thanh tra, giám
sát ngân hàng được coi là một công cuộc cải tổ đáng kể của NHNN nhằm tăng
cường khả năng Thanh tra, giám sát của hệ thống tài chính ngân hàng. Theo quyết
định này, cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng gồm 6 vụ chuyên ngành, Văn
phòng và Cục phòng, chống rửa tiền, các Vụ chuyên ngành bao gồm:
(1) Vụ Thanh tra các tổ chức tín dụng trong nước (gọi tắt là Vụ I)
(2) Vụ Thanh tra các tổ chức tín dụng nước ngoài (gọi tắt là Vụ II)
(3) Vụ Thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống
tham nhũng (gọi tắt là Vụ III)
(4) Vụ Giám sát ngân hàng (gọi tắt là Vụ IV)
(5) Vụ Chính sách an toàn hoạt động ngân hàng (gọi tắt là Vụ V).
(6) Vụ Quản lý cấp phép các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng (gọi
tắt là Vụ VI).
13
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thực hiện đầy đủ 4 chức năng theo
khuyến cáo của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, đó là: cấp, thu hồi giấy

+ Tổng Thanh tra chịu trách nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn về tổ chức và
nghiệp vụ Thanh tra.
+ Thanh tra chi nhánh NHNN chịu sự điều hành trực tiếp của Giám đốc
NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố nhưng chịu chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ
Thanh tra của Chánh Thanh tra.
1.1.3.3. Mối quan hệ giữa Thanh tra NHNN và Thanh tra chi nhánh NHNN
tỉnh, thành phố trong hoạt động Thanh tra, giám sát
Việc phân công trách nhiệm giữa Thanh tra NHNN và Thanh tra chi nhánh
NHNN trong việc giám sát và Thanh tra các TCTD tại Việt Nam thực hiện theo
quy định tại Thông tư số 04/2000/TT-NHNN3:
- Thanh tra NHNN thực hiện giám sát và Thanh tra: Hội sở chính, sở giao
dịch, các công ty trực thuộc hạch toán độc lập của các TCTD nhà nước; Quỹ tín
dụng nhân dân (QTDND) trung ương; ngân hàng liên doanh; chi nhánh ngân
hàng nước ngoài tại Việt Nam; hoạt động ngân hàng của các tổ chức không phải
là TCTD do NHNN cấp giấy phép; các đơn vị thuộc trách nhiệm giám sát và
Thanh tra của Thanh tra chi nhánh NHNN khi xét thấy cần thiết.
- Thanh tra chi nhánh NHNN chịu trách nhiệm giám sát và Thanh tra trên
địa bàn gồm: các chi nhánh, công ty trực thuộc của TCTD nhà nước; TCTD cổ
phần; QTDND cơ sở; hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác không phải là
TCTD được các cấp có thẩm quyền cấp giấy phép (theo uỷ quyền).
15
Thanh tra chi nhánh chịu sự hướng dẫn về mặt nghiệp vụ của Thanh tra
NHNN: như được định hướng về nội dung Thanh tra hàng năm; được đào tạo
nghiệp vụ Thanh tra; tập huấn quy chế, chính sách Tuy nhiên, vì thuộc cơ cấu tổ
chức của NHNN chi nhánh, nên về mặt tổ chức, nhân sự và các hoạt động Thanh
tra, giám sát cụ thể, Thanh tra chi nhánh thực hiện theo sự chỉ đạo trực tiếp của
Thanh tra NHNN.
1.1.3.4. Sự phối hợp giữa Thanh tra ngân hàng và một số Vụ, Cục khác của
NHNN trong hoạt động giám sát chung đối với các NHTM
Hiện nay, ngoài Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng một số đơn vị thuộc

việc giám sát thường xuyên và tiến hành các cuộc Thanh tra trực tiếp về tổ chức
và hoạt động của tổ chức tín dụng, về hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác,
về hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng thuộc chức năng quản lý Nhà nước
của Ngân hàng nhà nước, nhằm phát hiện và ngăn chặn các vi phạm; kiến nghị
biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
1.2.1. Nội dung của hoạt động Thanh tra, giám sát
Nội dung Thanh tra, giám sát bao gồm những nội dung về mặt định lượng và
nội dung về mặt định tính:
1.2.1.1. Nội dung về mặt định tính
a. Đánh giá năng lực quản trị, điều hành, dựa trên các tiêu chí:
- Sự phân định trách nhiệm, quyền hạn trong Ban lãnh đạo ngân hàng rõ
ràng, đảm bảo bao quát được toàn bộ hoạt động của TCTD.
17
- Hệ thống và cơ chế điều hành thông tin cho phép Ban lãnh đạo ngân hang
cập nhật chính xác, kịp thời toàn bộ hoạt động của tổ chức.
- Sự chủ động của Ban lãnh đạo trong việc thiết lập các giới hạn rủi ro, (đặc
biệt là các rủi ro trọng yếu) phù hợp với quy định của pháp luật; phù hợp với
chiến lược kinh doanh và khả năng chống chịu rủi ro trong từng thời kỳ của ngân
hàng.
- Năng lực của Ban lãnh đạo trong việc xây dựng, hoạch định mục tiêu,
chiến lược kinh doanh; nắm bắt, điều chỉnh và xử lý kịp thời các yếu kém của tổ
chức do kiểm soát nội bộ, kiểm toán độc lập và cơ quan giám sát đưa ra.
- Trách nhiệm của lãnh đạo các cấp trong việc ban hành hệ thống các chính
sách, thủ tục, quy trình, nghiệp vụ và việc định kỳ xem xét lại hệ thống này phù
hợp với pháp luật hiện hành và điều kiện cụ thể của ngân hàng; đồng thời xây
dựng cơ chế đảm bảo đội ngũ nhân viên được phổ biến kịp thời và ý thức đầy đủ
về các quy trình, thủ tục nội bộ có liên quan.
- Thái độ, ý thức chấp hành pháp luật của ban lãnh đạo TCTD.
b. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của TCTD, dựa trên 5 yếu tố:
- Môi trường kiểm soát : phản ánh thái độ sự quan tâm cũng như tác động

ổn định và bền vững tài chính của ngân hàng. Vì vậy, yêu cầu về vốn phải được
các ngân hàng tuân thủ thường xuyên, nghiêm ngặt.
b. Đo lường rủi ro
Đây là việc lượng hoá các rủi ro đã được nhận biết thông qua việc tính toán
các chỉ tiêu và sử dụng các mô hình toán.
c. Việc tuân thủ các hạn mức, giới hạn trong hoạt động
Đánh giá việc tuân thủ các hạn mức, giới hạn trong hoạt động như giới hạn
cho vay, bảo lãnh đối với một khách hàng, một nhóm khách hàng hoặc cho vay
19
liên kết; giới hạn hùn vốn mua cổ phần; mức vốn tự có so với tài sản có rủi ro;
khả năng chi trả; trạng thái ngoại hối
d. Tính bền vững của các khoản thu nhập
Đánh giá dựa trên việc xem xét một số tiêu thức như: mức thu nhập, bao
gồm cả xu hướng tăng trưởng và mức độ ổn định; khả năng đảm bảo tốc độ tăng
trưởng vốn từ nguồn lợi nhuận để lại; khả năng bù đắp tổn thất. Những đánh giá
này cũng bao gồm việc tính toán các chỉ tiêu: thu nhập trước thuế so với tài sản
có bình quân và so với vốn chủ sở hữu; thu nhập tài chính trên tài sản có bình
quân; chi phí huy động vốn so với tài sản có bình quân; chi phí hoạt động so với
tài sản có bình quân
Trên cơ sở kết quả Thanh tra, giám sát theo các nội dung định tính và định
lượng như trên, cơ quan Thanh tra, giám sát tiến hành xếp loại hàng năm từng
ngân hàng dựa trên việc đánh giá 6 yếu tố: tính đầy đủ của vốn - C, chất lượng
tài sản có -A, quản lý - M, thu nhập -E, Thanh khoản -L, độ nhảy cảm với rủi ro
thị trường- S, việc xếp loại này thường được biết dưới cái tên “ Phương pháp xếp
loại CAMELS “. Việc xếp hạng cho từng yếu tố mặc dù được tiến hành độc lập,
nhưng vẫn được xem xét trong mối liên quan với các yếu tố khác. Điều này có
nghĩa là nếu một yếu tố được xếp hạng quá cao hoặc quá thấp có thể dẫn đến việc
điều chỉnh mức xếp hạng của các yếu tố khác. Việc tổng hợp xếp hạng sẽ là kết
quả tổng hợp của việc xếp hạng 6 yếu tố. Một ngân hàng có thể được xếp vào 1
trong 5 loại, tương ứng với các mức độ yêu cầu giám sát khác nhau: giám sát bình

giá cụ thể là đúng theo quy định hay không đúng theo quy định. Nếu không đúng
(vi phạm) quy định của pháp luật thì ở mức độ nào, xác định nguyên nhân và đó
là hành vi phạm lỗi hay hành vi có dấu hiệu phạm tội của cá nhân, tập thể TCTD
để có hướng xử lý phù hợp.
21
Bước 3: Đưa ra biện pháp xử lý đối với các vi phạm của TCTD (nếu có).
Căn cứ vào kết quả của bước 2 nêu trên, Thanh tra ngân hàng sẽ có biện pháp xử
lý theo quy định của pháp luật. Tùy theo mức độ của hành vi phạm lỗi, cá nhân,
TCTD có thể bị yêu cầu xử lý nội bộ hoặc xử lý vi phạm hành chính. Biện pháp
xử lý hành chính bao gồm; cảnh cáo, phạt tiền, hạn chế hoạt động nghiệp vụ, thu
hồi giấy phép Tuỳ thuộc quy định pháp luật của từng nước mà Thanh tra ngân
hàng có thẩm quyền xử lý hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý
hành chính. Nếu hành vi của cá nhân, TCTD được xác định là có dấu hiệu phạm
tội thì chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật về tố
tụng hình sự.
Bước 4: Đồng thời với việc đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của TCTD,
Thanh tra ngân hàng phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách,
pháp luật để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền các biện pháp khắc phục như
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định cho phù hợp, để góp phần nâng
cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Các bước của quy trình nêu trên được lặp đi, lặp lại trong suốt quá trình thực
hiện giám sát từ xa, Thanh tra tại chỗ của Thanh tra ngân hàng đối với các TCTD.
1.3. Khung pháp lý của hoạt động Thanh tra trên cơ sở rủi ro.
Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt Thanh tra, giám sát đối với việc bảo
đảm an toàn của hệ thống ngân hàng Việt Nam nên chính phủ và NHNN đã ban
hành nhiều cơ chế chính sách điều chỉnh hoạt động này. Đó là hệ thống các văn
bản pháp luật gồm Luật, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, Quyết định, Quy chế
Sự ra đời của 2 Pháp lệnh về Ngân hàng (năm 1990) đánh dấu bước ngoặt
trong tiến trình đổi mới hoạt động ngân hàng, tách bạch rõ ràng giữa chức năng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status