TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH THÉP
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011- 2020
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Lê Huy Đức
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Việt Dũng
Lớp: Kinh tế Phát triển 50B
Mã SV: CQ500417
2
Hà Nội, 05/2012
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Khoa Kế hoạch và Phát triển
Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Sinh viên: Nguyễn Việt Dũng
Lớp: Kinh Tế Phát Triển 50B
Sau một thời gian thực tập tại Vụ Kinh tế Công nghiệp – Bộ Kế hoạch và
Đầu tư và được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Lê Huy Đức và các
chú, anh , chị trong Vụ, em đã hoàn thành bài chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “
Định hướng chiến lược phát triển ngành thép Việt Nam giai đoạn 2011-2020”.
Em xin cam đoan trong chuyên đề tốt nghiệp không có sự sao chép từ các tài
liệu và luận văn sẵn có. Đây là bài viết do chính em thực hiện dựa trên việc sưu tầm
tài liệu từ cơ quan thực tập là Vụ Kinh tế Công nghiệp và dưới sự hướng dẫn của
các thầy cô trong khoa Kế hoạch và Phát triển cùng các chú, anh, chị trên cơ quan
thực tập.
Danh mục tài liệu tham khảo 81
4
BIỂU :
Biểu đồ 1: Mô hình phát triển một ngành trong lý thuyết đàn nhạn bay . . Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2: Mô hình phát triển nhiều ngành trong lý thuyết đàn nhạn bay Error:
Reference source not found
Biểu đồ 3: Sản lượng thép tiêu thụ trong 3 tháng đầu năm 2012 so với cùng kỳ
(đơn vị ngàn tấn) Error: Reference source not found
HỘP :
Hộp 1: Dự án khu liên hợp gang thép Formosa – Hà Tĩnh Error: Reference
source not found
Hộp 2: Dự án thép Tata – Hà Tĩnh Error: Reference source not found
Hộp 3: Dự án thép Quảng Liên – Quảng Ngãi Error: Reference source not
found
5
7
LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Ngành thép là ngành rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó là ngành
đầu vào không thể thay thế cho các ngành công nghiệp- xây dựng; cung cấp nguyên
liệu chính cho xây dựng, chế biến, luyện kim, chế tạo máy Phát triển công nghiệp
hay công nghiệp hóa – hiện đại hóa rất cần có thép.
Trong vòng 10 năm qua từ 2001 - 2010, tốc độ tăng trưởng của ngành thép
luôn cao và ổn định. Trung bình 16.09 %/ năm, và luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng
của cả ngành công nghiệp. Xuất khẩu thép tăng đều qua các năm. Có thể nói, đây là
một trong những ngành tăng trưởng nhanh nhất, và là một ngành đầu tầu trong công
nghiệp.
Tuy nhiên hiện nay ngành thép đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức: chi
phí sản xuất cao, công nghệ cũ và lạc hậu, dẫn tới khả năng cạnh tranh của sản
ngành thép Việt Nam giai đoạn 2011- 2020.
9
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
NGÀNH THÉP
1. Khái quát chung về ngành thép
1.1. Khái niệm chung về ngành kinh tế
Nền kinh tế là tổng thể các hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong một
phạm vi lãnh thổ nhất định. Khi đề cập đến một nền kinh tế, người ta thường xem
xét đến quy mô của nền kinh tế đó (sản lượng GDP) và cơ cấu nền kinh tế (tỷ trọng
các ngành nông nghiệp, phi nông nghiệp, sản xuất, phi sản xuất trong tổng thể
ngành )
Ngành kinh tế là một bộ phận của nền kinh tế, đó là tổ hợp tất cả các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá
trình sản xuất, phân phối và tiêu thụ một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định ở một
quốc gia và trong một khoảng thời gian nhất định.
Xét theo đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, nền kinh tế được phân thành các ngành
công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại, dịch vụ Tiếp theo đó,
một ngành tiếp tục được phân thành các ngành chi tiết hơn (phân ngành – ngành cấp
hai). Ví dụ như ngành công nghiệp được phân thành các nhóm ngành cơ khí, điện
lực, nhiên liệu, luyện kim, hóa chất, điện tử viễn thông Mỗi ngành chi tiết này lại
được phân thành các phân ngành nhỏ hơn nữa.
Xét theo tính chất tác động vào đối tượng lao động, nền kinh tế được phân
thành ba khối ngành chính: khối ngành khai thác (gồm có ngành nông nghiệp, các
ngành công nghiệp khai khoáng); khối ngành chế biến (các ngành công nghiệp
khác) và khôi ngành dịch vụ (nhóm ngành thương mại, dịch vụ)
Xét theo chu kỳ vận động của ngành, người ta phân loại thành các ngành “bình
minh” (những ngành mới hình thành, đang trong quá trình phát triển) và các ngành
“ hoàng hôn” (những ngành đã trải qua quá trình phát triển lâu dài, đang trong giai
đoạn đi xuống).
Xét theo vị trí, tầm quan trọng của ngành với nền kinh tế quốc dân, người ta
11
hoặc niken, trong khoảng tổng cộng không quá 10% trên tổng trọng lượng. Các
loại thép không gỉ và thép không gỉ chuyên dùng có ít nhất 10% crom, trong nhiều
trường hợp có kết hợp với niken, nhằm mục đích chống lại sự ăn mòn. Một vài loại
thép không gỉ có đặc tính không từ tính.
Thép hiện đại còn có những loại như thép dụng cụ được hợp kim hóa với số
lượng đáng kể bằng các nguyên tố như vonfram hay coban cũng như một
vài nguyên tố khác đạt đến khả năng bão hoà. Những chất này là tác nhân kết
tủa giúp cải thiện các đặc tính nhiệt luyện của thép. Thép dụng cụ được ứng dụng
nhiều vào các công cụ cắt gọt kim loại, như mũi khoan, dao tiện, dao phay, dao
bào và nhiều ứng dụng cho các vật liệu cần độ cứng cao.
Những loại thép thông dụng hiện nay là: thép xây dựng, thép tôn, thép mạ,
thép không gỉ, inox, thép dụng cụ
1.2.2. Đặc điểm cơ bản của ngành thép
Ngành thép là một ngành công nghiệp nặng quan trọng của nền kinh tế quốc
dân sử dụng các máy móc thiết bị và các phương thức sản xuất hiện đại, có tính chất
chuyên môn hóa cao từ khâu khai thác quặng khoáng sản (sắt, than cốc ) tới chế
biến thành các nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào (gang, phôi thép); chế tạo máy móc,
thiết bị phục vụ sản xuất; tiến hành sản xuất lần lượt qua quy trình luyện gang,
luyện thép, cán nóng, cán nguội tạo ra các sản phẩm thép đa dạng, có các đặc tính
riêng biệt (độ cứng, độ bền, độ dẻo) và được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác
nhau trong đời sống.
Trong lịch sử, ngành thép đã ra đời từ trước thời kỳ phục hưng (thế kỷ 14 –
17) nhưng phần lớn những công nghệ thủ công luyện thép đều kém hiệu quả. Vào
giữa thế kỷ 19 với việc phát minh ra quy trình Bessemer, việc sản xuất thép đã trở
nên tập trung, hàng loạt và hiệu quả cao hơn. Ngày nay thép là những vật liệu phổ
biến nhất trên thế giới.
Là một ngành luyện kim và được xếp vào nhóm công nghiệp nặng, ngành thép
cần sử dụng rất nhiều vốn trong quá trình sản xuất. Đặc điểm của ngành là sản xuất
12
trọng của nền kinh tế.
Đối với thị trường, ngành thép đáp ứng các nhu cầu xây dựng cơ bản (các
công trình nhà ở, điện nước, cầu đường ) và các nhu cầu tiêu dùng khác. Các thiết
bị, dụng cụ sinh hoạt phổ biến đều được làm từ thép. Các công trình khung thép
luôn có tính chắc chắn cao, khả năng chống va đập, rung động tốt, tồn tại lâu hơn
rất nhiều so với các công trình bằng gỗ, đất đá được xây dựng trước đó. Đây là
ngành mũi nhọn, cần được ưu tiên trong quá trình phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia.
Ngành thép có vai trò quyết định tới sự phát triển kinh tế và quá trình công
nghiệp hóa ở mỗi quốc gia.
2. Một số lý thuyết kinh tế cơ sở cho xác định chiến lược phát triển ngành
2.1. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter
Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Porter giải thích các hiện tượng thương mại
quốc tế trên góc độ các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của
nhà nước trong việc hỗ trợ các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh
tranh quốc gia.
- Chi số năng suất là khái niệm quan trọng nhất khi nói về năng lực cạnh tranh
quốc gia bởi vì đây là yếu tố xác định cơ bản cho và nâng cao sức sống của một đất
nước xét về dài hạn.
- Chỉ số năng suất phụ thuộc vào trình độ phát triển và tính năng động của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế; được hình thành từ những nhân tố được coi là nền
tảng, theo M. Porter nói thì đó là khung kim cương về lợi thế cạnh tranh:
14
+ Điều kiện về yếu tố sản xuất: vị trí của quốc gia trong việc cung ứng các
nhân tố sản xuất cần thiết để cạnh tranh trong ngành nghề đó.
+ Điều kiện về nhu cầu thị trường: tính chất của nhu cầu trong nước về sản
phẩm hay dịch vụ của ngành nghề đó
+ Các ngành nghề bổ trợ và có liên quan: sự có mặt hay thiếu vắng tại quốc
gia đó những ngành nghề cung ứng và ngành nghề có liên quan có khả năng cạnh
tranh quốc tế.
+ Chiến lược, cơ cấu và tính thi đua của các doanh nghiệp trong ngành: điều
đoạn khác nhau trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng.
Xem xét khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành của một quốc gia
nhất định trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của một sản phẩm, dịch vụ
nào đó.
2.3. Lý thuyết phát triển ngành thượng nguồn - hạ nguồn
16
Trong các lý thuyết kinh tế về phát triển ngành thượng nguồn – hạ nguồn, mô
hình “đàn nhạn bay” của nhà kinh tế học Nhật Bản Akanatsu Kaname là mô hình
thể hiện rõ nhất con đường và xu hướng phát triển của một ngành mới ở một quốc
gia đang phát triển điển hình. Đây đươc coi là một đặc trưng trong phát triển công
nghiệp thường thấy ở các nước Đông Á. Mô hình này xem xét sự phát triển của một
ngành cũng như nhiều ngành có liên hệ với nhau trong nền kinh tế.
Đối với một ngành kinh tế
Giả sử một đất nước đang muốn phát triển một ngành A. Ban đầu do nhu cầu
tiêu dùng sản phẩm của thị trường nội địa, nên nước đó cần nhập khẩu A; do đó
lượng nhập khẩu A sẽ tăng dần đến khi thỏa mãn nhu cầu trong nước (giả sử rằng
cố định và bằng C*).
Nhận thấy việc nhập khẩu hàng hóa A rất đắt đỏ và quốc gia đó có những điều
kiện lợi thế nhất định về sản xuất A (lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học
công nghệ, thể chế chính sách ). Mặt khác sau thời gian dài kinh doanh nhập khẩu,
ngành công nghiệp đó đã tích lũy được đủ vốn để tiến hành tự sản xuất. Khi đó, sản
lượng ngành A bắt đầu tăng lên, nhu cầu nhập khẩu giảm dần; đến khi mà sản lượng
sản xuất đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nội địa và bắt đầu có hướng xuất khẩu.
Sản lượng sản xuất và xuất khẩu tiếp tục tăng cho đến khi thị trường quốc tế
bão hòa hoặc tới giới hạn khả năng sản xuất trong nước (Y*). Đến lúc này, sản
lượng và xuất khẩu của ngành không tăng và bắt đầu có xu hướng giảm. Đất nước
đó bắt đầu có xu hướng chuyển sang phát triển một ngành B nào đó có lợi thế cạnh
tranh hơn và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn.
Mô tả sản lượng (Y), xuất khẩu (X) và nhập khẩu (IM) của ngành A trên cùng
một đồ thị theo thời gian:
C*
t
Y
IM
X
18
của nó là ngành C phát triển Chu trình cứ tiếp tục diễn ra như vậy cho đến khi tất
cả các ngành của nền kinh tế đều tăng trưởng và nền kinh tế chuyển dịch theo
hướng hướng về thượng nguồn.
Biểu đồ 2: Mô hình phát triển nhiều ngành trong lý thuyết đàn nhạn bay
2.4. Lý thuyết về cụm ngành (Cluster ngành)
Cluster ngành là tập hợp theo khu vực các doanh nghiệp, nhà cung cấp và
dịch vụ có mối liên kết với nhau trong các ngành liên quan. Cluster có nghĩa rộng
hơn so với ngành, bởi đề cập đến những liên kết trong hoạt động kinh tế. Chúng
không tập trung vào một ngành, mà điều có ý nghĩa nhất là mối liên kết trong nền
kinh tế khu vực.
Khi phân tích các giai đoạn phát triển của nền kinh tế, Michael Porter đã chỉ ra
chiến lược phát triển ngành của các thời kỳ dựa trên những lợi thế cạnh tranh nhất
định. Đó là yếu tố nguồn lực, đầu tư và sự đổi mới.
Sơ đồ 3: các giai đoạn phát triển cạnh tranh của nền kinh tế
A
B
C
t
Y
Chiến lược phát
triển dựa trên yếu
tố
Chiến lược phát
triển dựa trên đầu
Nhắm đến các ngành và
lĩnh vực mục tiêu
Tập trung vào các doanh
nghiệp trong nước
Can thiệp vào cạnh tranh
thị trường (bảo hộ, khuyến
khích ngành, trợ cấp )
Tập chung hóa các quyết
định ở cấp quốc gia
Tất cả các cluster đều góp
phần phát triển chung
Tăng cường năng lực của
các doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài
Ít gặp trở ngại hay ràng
buộc về năng lực
Nhấn mạnh vào liên kết
chéo giữa các ngành/ bổ sung
Khuyến khích năng lực ở
cấp địa phương hay khu vực
Hạn chế cạnh tranh Thúc đẩy cạnh tranh
20
Nguồn: Porter’s Cluster Strategy Vesus Industrial Targeting (Woodward, 2005)
Cluster ngành nhấn mạnh vào sự phát triển hài hòa tổng thể giữa các cụm
ngành chứ không đơn giản chỉ là tập trung vào một số ngành/ lĩnh vực đơn lẻ. Điều
này là hợp lý bởi vì không một ngành nào có thể phát triển nếu thiếu những ngành
hỗ trợ đi kèm với nó và những ngành là thị trường đầu ra cho nó.
Cluster ngành không tập trung hay ưu tiên cho bất kỳ một loại hình doanh
nghiệp nào; bỏ qua việc áp dụng những can thiệp,bảo hộ phi thị trường của nhà
nước vào nền kinh tế như chính sách ngành truyền thống; thay vào đó là sử dụng
triển các công nghệ mới để nâng cao năng suất, tính cạnh tranh của ngành.
Tiêu thụ đầu ra cho sản phẩm: thị trường đầu ra chính của ngành thép là thị
trường bất động sản, thị trường xây dựng và thị trường xuất khẩu. Nền kinh tế càng
phát triển thì nhu cầu nhà ở càng tăng, đặc biệt là ở các đô thị lớn do thu nhập trung
bình của người dân tăng lên và xu hướng di dân từ nông thôn lên thành thị. Điều
này làm tăng nhu cầu xây dựng mới nhà cửa, công trình giao thông, công trình công
cộng (trường học, bệnh viện, công viên ). Đây là thị trường chính tiêu thụ các sản
phẩm ngành thép. Vấn đề phát triển ngành cần gắn chặt với thị trường, dự báo chính
xác nhu cầu thị trường để có quy hoạch phát triển hợp lý. Nếu khả năng đáp ứng
của ngành không cân xứng với nhu cầu thị trường cần có chính sách định hướng
xuất nhập khẩu để tiêu thụ hết lượng thép sản xuất ra và đáp ứng đủ nhu cầu trong
nước, tránh thừa hay thiếu thép.
Các giai đoạn phát triển của ngành thép
Như trên đã phân tích, việc phát triển một ngành cần trải qua nhiều bước, từ
kinh doanh nhập khẩu hàng hóa đó, tích lũy tư bản đến khi có thể tự sản xuất đáp
22
ứng nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu. Việc phát triển ngành thép cũng cần
trải qua tất cả các bước trên.
Trên cơ sở phát triển ngành thượng nguồn trước làm thị trường cho phát triển
ngành hạ nguồn; ngành thép cần chia thành các giai đoạn phát triển sau:
GĐ1: Tập trung phát triển hệ thống phân phối sản phẩm thép nhập khẩu
GĐ2: Ưu tiên sản xuất cán thép
GĐ3: Ưu tiên sản xuất phôi thép
GĐ4: Ưu tiên sản xuất gang cho luyện thép
GĐ5: Phát triển công nghiệp khai khoáng quặng sắt, tái chế thép phế liệu
Giai đoạn 1 cần đánh giá toàn diện về tổng nhu cầu thép trên thị trường, nhu
cầu thép theo danh mục sản phẩm: thép dài (chủ yếu là thép xây dựng cho các công
trình xây dựng) thép dẹt (để sản xuất các sản phẩm cán dài, thép ống, thép mạ tôn
kẽm ). Từ đó có được định mức nhập khẩu hợp lý các sản phẩm thép, hình thành hệ
thống phân phối thép, bước đi đầu tiên trong xây dựng cluster ngành. Trong giai
3.2.1. Điều kiện về nhân tố sản xuất
Đội ngũ nhân lực của ngành
Ngành thép là ngành sản xuất công nghiệp có ứng dụng khoa học kỹ thuật
(KHKT) hiện đại, đòi hỏi nhân lực phải linh hoạt, phản ứng nhanh với sự thay đổi
của công nghệ Do đó nhân lực cho ngành là nguồn nhân lực chất lượng cao, có
trình độ chuyên môn kỹ thuật tốt và có khả năng học hỏi, tiếp thu tốt những thành
tựu công nghệ của ngành trên thế giới.
Trong các lợi thế về nguồn lực thì nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng nhất
trong giai đoạn đầu ở các nước đang phát triển. Lợi thế về dân số trẻ, lực lượng lao
động đông đảo, giá thuê thấp đã và đang là lợi thế nguồn lực quan trọng giúp các
quốc gia đang phát triển thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng sản xuất, nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì thế phát triển nguồn nhân lực luôn là mục tiêu ưu
tiên ở các nước đang phát triển.
24
Để có một nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu trên cần phát triển mạng lưới đào
tạo nhân lực hiện đại, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu thực tế và khả năng của người
lao động. Trong thực tế, ở các nước đang phát triển, chi phí đào tạo một lao động rất
cao nhưng chất lượng của lao động đó thường không tốt, không cao bằng những hộ
sản xuất thủ công nhỏ lẻ, không có chuyên môn kỹ thuật nhưng lại am hiểu và thành
thạo nghề và có tính sáng tạo cao. Cần có giải pháp kết hợp hai nguồn nhân lực trên
vào mục tiêu chung: xây dựng đội ngũ nhân lực hiện đại cho ngành thép.
Vốn sản xuất kinh doanh
Một ngành có quy mô lớn và công nghệ cao như thép đòi hỏi một lượng vốn
đầu tư ban đầu lớn. Trong điều kiện một quốc gia đang phát triển còn thiếu hụt vốn
trầm trọng; đây thực sự là một vấn đề khó khăn, đòi hỏi sự tham gia của nhiều thành
phần trong nền kinh tế, luật pháp, thể chế, chính sách về huy động ngân sách nhà
nước cho ngành cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài; phối hợp với các định
hướng phát triển thị trường tài chính tạo ra nguồn tài chính đầy đủ cho các doanh
nghiệp.
Vấn đề huy động vốn cho ngành có quan hệ mật thiết với hiệu quả sản xuất
Một đặc điểm công nghệ khác cần lưu ý là sản xuất thép phải có tính chất dây
chuyền, liên tục mới đạt hiệu quả cao. Ví dụ các khi luyện phôi thép ở dạng nóng
chảy có thể được chuyển sang cán trực tiếp, trong khi các doanh nghiệp cán thép
đơn lẻ buộc phải chi phí năng lượng cao để nấu chảy phôi trước khi cán thép. Do đó
việc tích hợp dọc các công đoạn trong sản xuất thép là rất quan trọng để xây dựng
một ngành có tính cạnh tranh cao. Điều đó dẫn tới việc hình thành các khu liên hợp
gang thép có khả năng sản xuất tập trung mọi công đoạn của ngành
Tài nguyên thiên nhiên
Một nguồn lực cần thiết tạo tiền đề cho một quốc gia xây dựng được một
ngành thép phát triển là những nguồn tài nguyên quan trọng với ngành như quặng
sắt, quặng than đặc biệt là than cốc. Trong quy trình sản xuất thép, quặng sắt là
nguồn nguyên liệu đầu vào không thể thiếu để sản xuất phôi dẹt và các sản phẩm
26
cán dẹt có giá trị gia tăng cao. Than cốc là nhiên liệu thường dùng trong các lò
luyện gang, thép Nếu một quốc gia có thể tự cung tự cấp các đầu vào trên sẽ có lợi
thế về phí không nhỏ trong cạnh tranh quốc tế. Tuy nhiên, dù không sở hữu bất kỳ
nguồn lực tự nhiên nào, nhiều quốc gia như Nhật Bản vẫn có thể xây dựng được
một ngành công nghiệp thép phát triển nhờ nhập khẩu quặng nguyên liệu giá rẻ từ
các nước đang phát triển.
3.2.2. Điều kiện về nhu cầu thị trường
Nhu cầu thị trường giúp xác định mức sản lượng sản xuất và cơ cấu các sản
phẩm. Nhu cầu thị trường bao gồm thị trường trong nước và thị trường quốc tế.
Nhu cầu thị trường trong nước phụ thuộc trực tiếp vào mức độ phát triển
của các ngành hạ nguồn của ngành thép như cơ khí, xây dựng và phụ thuộc gián
tiếp vào các yếu tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng,lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái.
Các ngành hạ nguồn càng phát triển thì cầu về sản phẩm thép càng cao.
Nền kinh tế càng tăng trưởng; tổng thu nhập của nền kinh tế tăng nên tổng chi
tiêu sẽ tăng, chi tiêu cho các yếu tố đầu vào như ngành thép tăng
Lãi suất trên thị trường tăng sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp hạ nguồn
(xây dựng, cơ khí, lắp ráp ) nên cầu về thép giảm