Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI ở tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - tự do - hạnh phúc
*
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: khoa Kế hoạch và Phát triển trường Đại học Kinh tế quốc dân
Tên tôi là: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp : kinh tế phát triển 49A
MSV: CQ490146
Sau một thời gian thực tập tại Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, cùng
với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS. Bùi Đức Tuân và các cô chú , các anh
chị trong Sở, tôi đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp “ Một số giải pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI ở tỉnh Vĩnh Phúc” .
Chuyên đề của tôi không sao chép từ bất kì công trình nghiên cứu, luận văn
hay luận án nào. Đó là công sức nghiêm cứu và tìm hiểu của bản thân tôi. Các tài
liệu sử dụng được phép công bố có nguồn gốc rõ ràng và chỉ mang tính chất để
tham khảo phục vụ cho nghiên cứu chuyên đề.
Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu vi phạm tôi xin chịu
mọi hình thức kỷ luật của nhà trường.
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2011
Người viết cam đoan
Nguyễn Thanh Bằng
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
Chuyên đề tốt nghiệp

Bảng 5: Thu – Chi ngân sách tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2010.Error: Reference
source not found
Bảng 6: Tổng kim ngạch xuất – nhập khẩu tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2010
Error: Reference source not found
Bảng 7: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2010 Error:
Reference source not found
Bảng 8: Tình hình đào tạo phát triển nguồn nhân lực cụ thể ở tỉnh Vĩnh Phúc.Error:
Reference source not found
Bảng 9: Tổng hợp kết quả chỉ số PCI 2005-2010 của tỉnh Vĩnh Phúc Error:
Reference source not found
Bảng 10: Bảng tổng hợp so sánh các chỉ số thành phần của chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2009 – 2010 Error: Reference source not
found
Bảng 11: Các chỉ tiêu đánh giá chỉ số chi phí gia nhập thị trường của Vĩnh Phúc
Error: Reference source not found
Bảng 12: Các chỉ tiêu đánh giá chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
Error: Reference source not found
Bảng 13: Các chỉ tiêu đánh giá chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin tỉnh Vĩnh Phúc
Error: Reference source not found
Bảng 14: Các chỉ tiêu đánh giá chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định ……………49
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
Bảng 15: Các chỉ tiêu đánh giá chi phí không chính thức của tỉnh Vĩnh Phúc Error:
Reference source not found
Bảng 16: Các chỉ tiêu đánh giá chỉ số thiết chế pháp lý của tỉnh Vĩnh Phúc Error:
Reference source not found
Bảng 17: Các chỉ tiêu đánh giá tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc.Error:
Reference source not found

Chỉ số PCI thể hiện tiếng nói của các doanh nghiệp tư nhân trong cả nước
đánh giá chất lượng điều hành kinh tế và môi trường thể chế của các tỉnh, thành
trong cả nước. Do vậy, việc nghiên cứu chỉ số PCI là rất cần thiết, nhằm mục tiêu
hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, trở ngại cho các doanh nghiệp tư nhân hoạt động kinh
doanh và thực hiện các quy định, chính sách của nhà nước. Quan trọng hơn là qua
chỉ số này, cơ quan lãnh đạo tỉnh, thành xác định lĩnh vực cần ưu tiên cải thiện môi
trường kinh doanh nhằm thu hút đầu tư, giải quyết việc làm, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tỉnh Vĩnh Phúc đang
có những bước phát triển kinh tế mạnh mẽ. Những thành tựu nổi bật như: tốc độ
phát triển cao trong giai đoạn 2006 – 2010 là 18,02%, thu ngân sách năm 2010 đạt
14.550 tủ đồng, đứng thứ 8 về tổng thu, thứ 6 về thu nội địa trong cả nước, và đứng
thứ 2 của miền Bắc về thu nội địa…Trong những năm qua tỉnh Vĩnh Phúc đã đổi
mới nhiều cơ chế, chính sách, thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa
thủ tục đăng ký kinh doanh, bãi bỏ nhiều giấy phép, tạo điều kiện thuận lợi để kinh
tế tư nhân phát triển. Tính đến hết năm 2010 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 4.079
doanh nghiệp, với số vốn đăng ký là 20.670 tỷ đồng. Với những đóng góp của mình
đang ngày càng tăng đã đưa khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực phát
triển kinh tế tỉnh. Tuy nhiên, đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp thông qua chỉ số
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
1
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
PCI về môi trường kinh doanh đã mang lại nhiều thông tin quan trọng đối với cơ
quan quản lý nhà nước, đối với doanh nghiệp, đối với các tổ chức và đối với cá
nhân quan tâm xem xét. Năm 2005, Vĩnh Phúc xếp hạng 5/42 tỉnh, thành; năm 2006
là 8/63 tỉnh, thành, và năm 2010 là 15/63 tỉnh, thành.
Để nâng cao chất lượng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thì cần kết hợp các
yếu tố đặc thù của địa phương, chính sách, hành động của tỉnh sẽ tạo ra cơ hội và

GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
Do còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm cũng như về thời gian, nên bài viết
không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy,
cô để bài viết của tôi hoàn thiện hơn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo TS. Bùi Đức Tuân là người đã trực tiếp
hướng dẫn tôi thực hiện chuyên đề tốt nghiệp này, cùng toàn thể cô chú, anh chị
trong Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để
tôi hoàn thành chuyên đề một cách tốt nhât.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
3
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
Chương I: NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH
1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Trên thế giới, năng lực cạnh tranh là khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác
nhau, chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, hiện nay thế giới sử dụng nhiều khái niệm
năng lực cạnh tranh của M.Porter, người sáng lập ra lý thuyết cạnh tranh.
Theo M.Porter thì năng lực cạnh tranh một quốc gia được đo bằng sự thịnh
vượng, thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người và chất lượng sống. Sự thịnh
vượng chủ yếu do năng suất và huy động lao động vào quá trình tăng trưởng quyết
định. Do đó, trong khái niệm năng lực cạnh tranh của M.Porter, năng suất là yếu tố
quyết định tiêu chuẩn sống bền vững. Với khái niệm này, nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia cũng có nghĩa là đóng góp và nâng cao chất lượng tăng trưởng và
hiệu quả của nền kinh tế.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một tỉnh, thành dưới
dạng năng lực cạnh tranh quốc gia. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tình, thành là
quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của kinh tế của một tình,

liên quan với nhau trong việc tao ra một nền kinh tế có năng suất cao.
1.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Khái niệm:Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitiveness Index-
PCI) là chỉ số đánh giá và xếp hạng đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của
chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách phù hợp để phát
triển kinh tế tư nhân.
Như vậy có thể hiểu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh đó so với tỉnh khác dựa trên lợi thế so sánh và nguồn lực con người
của mình. Do đó có thể thấy, các yếu tố quyết định tới năng lực cạnh tranh của một
tỉnh, thành phố bao gồm:
- Năng lực cạnh tranh kinh tế vi mô:
• Chất lượng của môi trường kinh doanh cấp tỉnh.
• Tình hình phát triển các ngành nghề.
• Trình độ vận hành và lập chiến lược ở cấp công ty.
- Năng lực cạnh tranh kinh tế vĩ mô:
• Chính sách kinh tế vĩ mô
• Hạ tầng xã hội và các định chế chính trị
- Các lợi thế tự nhiên.
Dựa trên những quy định của Nhà nước, tỉnh đưa ra các chính sách kinh tế vĩ
mô, hạ tầng xã hội và các định chế chính trị phù hợp với thực tế của địa phương.
Đây được coi là tiền đề mang tính định hướng phát triển kinh tế - xã hội của một
tỉnh. Do vậy, có thể thấy năng lực cạnh tranh kinh tế vĩ mô tạo ra tiềm năng đạt
năng suất cao, nhưng chưa đủ.
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
Năng lực cạnh tranh kinh tế vi mô mới là yếu tố quyết định tới phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ảnh hưởng trực tiếp đến môi

với sự tham gia đầy đủ của 64 tỉnh, thành phố.
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
6
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
Đến năm 2010, chỉ số PCI vẫn được VNCI và VCCI nghiên cứu trên cơ sở có
sự tham gia đầy đủ của 63 tỉnh thành (năm 2007, tỉnh Hà Tây sát nhập vào thủ đô
Hà Nội). Mục đích là nhằm tạo điều kiện để các tỉnh, thành theo dõi những thay đổi
trong môi trường kinh doanh của tỉnh mình qua các năm, không chỉ ở thứ hạng PCI
mà còn ở điểm số PCI.
Vào năm 2002, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Quỹ
Châu Á đã thực hiện dự án nghiên cứu đầu tiên tại 14 tỉnh, nghiên cứu tập trung vào
mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố điều hành kinh tế và sự phát triển kinh tế của
các tỉnh đó. Kết quả của dự án nghiên cứu này sau đó đã trở thành tiền đề cho dự án
nghiên cứu phát triển kinh tế do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài
trợ. Mục tiêu nghiên cứu là nhằm xác định được các nhân tố điều hành kinh tế có
vai trò then chốt đối với sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Chỉ số PCI được xây dựng với mục tiêu giúp lý giải nguyên nhân tại sao trong
cùng một nước, một số tỉnh có sự phát triển năng động của khu vực tư nhân, tạo ra
việc làm và tăng trưởng kinh tế… tốt hơn các tỉnh khác. Trên cơ sở thực hiện điều
tra đối với các doanh nghiệp để tìm hiểu đánh giá của doanh nghiệp đối với môi
trường kinh doanh ở tỉnh, thành, kết hợp dữ liệu điều tra với các nguồn khác chính
thức về địa phương, chỉ số PCI đánh giá các tỉnh, thành theo thang điểm 100. Chỉ số
này bao gồm 9 chỉ số thành phần, mỗi chỉ số thành phần lý giải khá nhiều sự khác
biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh, thành, bao gồm:
1. Chi phí gia nhập thị trường.
2. Tiếp cận đất đai.
3. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin.
4. Chi phí về thời gian thực hiện các quy định của nhà nước.

nhiên, những điều kiện truyền thống không thể giải thích đầy đủ những cách biệt
trong phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Từ những lý do trên, chỉ số PCI đã tập trung vào phân tích, so sánh, đánh giá
những khác biệt mà chính quyền địa phương có thể tác động đến sự phát triển của
khu vực kinh tế tư nhân trên cơ sở điều chỉnh một số chỉ số thành phần. Đầu tiên,
năm 2005 chỉ số PCI bao gồm 9 chỉ số thành phần: (Phụ lục bảng 1).
1. Chi phí gia nhập thị trường: chỉ số thành phần này đo lường về thời gian
mà doanh nghiệp phải chờ để đăng ký kinh doanh và xin cấp đất, thời gian để nhận
được mọi loại giấy phép, hoàn tất mọi thủ tục cần thiết để bắt đầu tiến hành hoạt
động kinh doanh.
2. Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: chỉ số thành phần này
được tính toán căn cứ vào tình trạng doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất hay không, có đủ mặt bằng để đáp ứng nhu cầu mở rộng kinh doanh hay
không, đánh giá của doanh nghiệp về chính sách chuyển đổi đất nông nghiệp của
địa phương, rủi ro trong việc bị thu hồi đất hay thay đổi các điều kiện thuê đất, về
sự công bằng trong cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai.
3. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: chỉ số thành phần này đánh giá khả
năng doanh nghiệp có thể tiếp cận được những kế hoạch của tỉnh và văn bản pháp
lý cần thiết cho công việc điều hành kinh doanh của mình, sự bình đẳng trong tiếp
cận thông tin của các tài liệu này, sự cập nhận thông tin về chính sách, quy định mới
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
8
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
cho doanh nghiệp, tính tiên liệu của việc triển khai thực hiện những chính sách, quy
định đó và độ mở của trang web tỉnh.
4. Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: chỉ số thành
phần này đo lường thời gian mà doanh nghiệp phải bỏ ra khi thực hiện các thủ tục
hành chính, cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm

SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
9
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
Trong năm 2007, tất cả các chỉ tiêu, chỉ số thành phần và trọng số đều được
giữ nguyên như năm 2006. Năm 2008, Báo cáo PCI bổ xung một phần mới: phân
tích và xếp hạng cơ sở hạ tầng cấp tỉnh. Chỉ tiêu này đo lường sự hiện đại và thuận
tiện của cơ sở hạ tầng bao gồm các mạng lưới giao thông, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
sản xuất đánh giá về chất lượng và số lượng. Cơ sở hạ tầng được các nhà phân tích
và hoạch định chính sách đánh giá là một trong đây là nhân tố quan trọng tác động
đến khả năng tiếp cận thị trường, chi phí giao dịch, tăng trưởng kinh tế và khả năng
cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam. Phân tích dựa trên thực tiễn hiện nay là
cơ sở giúp cho các nhà hoạch định chính sách cấp Trung ương, lãnh đạo các địa
phương và cộng đồng doanh nghiệp nhận thức tốt hơn và đưa ra các giải pháp nhằm
hạn chế những trở ngại bắt nguồn từ cơ sở hạ tầng yếu kém.
12. Cơ sở hạ tầng: chỉ số này gồm các chỉ số thành phần chính đó là: khu
công nghiệp và cụm công nghiệp vừa và nhỏ đo lường về chất lượng và khả năng
đáp ứng của các khu công nghiệp địa phương; đường giao thông và khả năng bao
phủ đường tại các tỉnh, thành; các dịch vụ công ích, đo lường chi phí và độ tin cậy
của dịch vụ năng lượng và viễn thông tại địa phương, khả năng tiếp cận và ứng
dụng công nghệ thông tin tại các địa phương.
Đến năm 2009 (Phụ lục bảng 2), trong phương pháp xây dựng chỉ số PCI đã có
một số những thay đổi như chỉ số thành phần Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà
nước, thay đổi chỉ tiêu của các thành phần không còn phù hợp và thêm vào một số
các chỉ tiêu mới trong đó, thiết kế lại bảng hỏi để việc điều tra thu thập thông tin và
sử lý được dễ dàng hơn. Tiếp đến là việc tính toán lại trọng số (phụ lục bảng số )
của các chỉ số thành phần để xếp hạng cuối cùng có tính tới các chỉ tiêu mới đồng
thời phản ánh kịp thời những thay đổi của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã
và đang gặp phải.

Phương pháp tiếp cận chỉ số PCI có 4 đặc điểm đáng chú ý, đó là:
Thứ nhất, chỉ số PCI khuyến khích quyền các tỉnh cải thiện chất lượng điều
hành bằng cách chuẩn hóa điểm số xung quanh các thực tiễn điều hành kinh tế tốt
sẵn có tại Việt Nam mà không dựa trên các tiêu chuẩn điều hành kinh tế lý tưởng
nhưng khó đạt được Do đó, đối với tằng chỉ tiêu, có thể xác định được một tỉnh “
ngôi sao” hoặc tỉnh đứng đầu của chỉ tiêu đó, và về lý thuyết bất kỳ tỉnh nào cũng
có thể đạt được điểm số PCI tuyệt đối là 100 điểm bằng cách áp dụng các thực tiễn
tốt sẵn có.
Thứ hai, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban đầu
(các nhân tố cơ bản đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong một tỉnh và gần như
không thể thay đổi trong ngắn hạn như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, quy mô của thị
trường, và nguồn nhân lực), chỉ số PCI giúp xác định và hướng vào các thực tiễn
điều hành kinh tế tốt có thể đạt được ở cấp tỉnh.
Thứ ba, bằng cách so sánh đối chiếu giữa các thực tiễn điều hành với kết quả
phát triển kinh tế, chỉ số PCI giúp lượng hóa tầm quan trọng của các thực tiễn điều
hành kinh tế tốt đối với đánh giá của doanh nghiệp, và sự cải thiện phúc lợi của địa
phương. Mối liên hệ cuối cùng này đặc biệt quan trọng vì nó cho thấy các chính
sách và sáng kiến thân thiện với doanh nghiệp khuyến khích họ hoạt động theo
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
11
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
hướng đem lại lợi ích cho cả chủ doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng thông
qua tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho cả nền kinh tế.
Thứ tư, các chỉ tiêu cấu thành chỉ số PCI được thực hiện theo định hướng dễ
hành động, đây là những chỉ tiêu cụ thể cho phép các cán bộ công chức của tỉnh đưa
ra các mục tiêu phấn đấu và theo dõi được tiến bộ trong thực hiện. Các chỉ tiêu này
cũng rất thực chất vì được doanh nghiệp nhìn nhận là các chính sách then chốt đối
với sự thành công của công việc kinh doanh.

Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
sở đó, nhóm nghiên cứu chọn mẫu doanh nghiệp điều tra theo 24 tiêu chí
phân tổ dựa trên loại hình, ngành kinh tế và theo tuổi của doanh nghiệp
tương ứng tỷ lệ của từng địa phương, tranh tình trạng mẫu điều tra tập
trung ở những thành phố lớn. Các doanh nghiệp được chọn đảm bảo
mang tính đại diện cao nhất cho mỗi tổ.
- Công cụ thu thập: phiếu điều tra các năm cơ bản là giống nhau, phiếu
gồm 60 câu hỏi về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và đánh giá của doanh nghiệp về 12 khía cạnh khác nhau trong
hoạt động quản lý và điều hành kinh tế của chính quyền địa phương.
- Phương pháp điều tra: cơ nghiên cứu gửi bộ câu hỏi điều tra qua bưu
điện đến các doanh nghiệp (năm 2010 VCCI gửi phiếu điều tra tới 7.300
doanh nghiệp trong nước và 1.115 doanh nghiệp FDI). Sau khi nhận được
trả lời của doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu sử dụng các trợ giúp kỹ
thuật nhằm loại bỏ các sai số không đáng tin cậy.
Số liệu “cứng’’: Các phương pháp được cơ quan nghiên cứu sử dụng thu thập
số liệu như: lấy ý kiến chuyên gia; sử dụng bộ câu hỏi so sánh; và số liệu thống kê.
- Lấy ý kiến chuyên gia: thu thập ý kiến của các chuyên gia về chất lượng
quản lý và điều hành đối với từng tỉnh để hiệu chính những sai lệch trong
đánh giá của các doanh nghiệp trong tính toán chỉ số cuối cùng.
- Sử dụng bộ câu hỏi so sánh: với cách này, các nhà nghiên cứu cần bổ
sung thêm một số câu hỏi chuẩn so sánh trong các phiếu điều tra để các
doanh nghiệp đánh giá và xếp hạng 10 tỉnh theo môi trường chính sách
tốt nhất và tồi nhất, sau đó xếp hạng tỉnh nơi doanh nghiệp đang hoạt
động vào danh sách đó.
- Số liệu thống kê: để tiến hành thu nhập số liệu từ các nguồn công bố
chính thức và bên thứ ba như: niên giám thống kê của tổng cục thống kê,
kết quả của các cuộc điều tra, các báo cáo, ấn phẩm của ngân hàng thế
giới, các công ty…

Thứ ba: tính toán trọng số cho mỗi chỉ số thành phần. Do các chỉ số thành
phần PCI có ảnh hưởng khác nhau và vai trò quan trọng khác nhau khi lý giải sự
khác biệt về kết quả phát triển khu vực kinh tế tư nhân, VCCI và VNCI đã tính toán
trọng số tương ứng với mức độ đóng góp thực sự của từng chỉ số đối với việc phát
triển kinh tế tư nhân như: tỷ lệ doanh nghiệp dân doanh; vốn đầu tư dài hạn của khu
vực tư nhân tính bình quân đầu người; và lợi nhuận bình quân trên một doanh
nghiệp tính theo triệu đồng.
Cuối cùng:Tính toán chỉ số PCI. Trên cơ sở điểm số và trọng số tương ứng của
từng chỉ số thành phần, nhóm nghiên cứu đưa ra chỉ số PCI tổng hợp cuối cùng
được chuẩn hóa theo thang điểm 100. Các tỉnh sẽ được ra vào các nhóm như là:
- Rất tốt: Nhóm này gồm các tỉnh vượt trội rõ rệt so với các tỉnh còn lại. Đây
là nhóm tỉnh đứng đầu với mọi chỉ số thành phần được đánh giá rất cao, có từ 3-4
chỉ số thành phần có điểm đạt trên 8,0 điểm. Ở những tỉnh này, các doanh nghiệp tư
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
14
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
nhân phát triển nhanh, mạnh và khá sôi động, đồng thời các doanh nghiệp đánh giá
rất cao môi trường đầu tư của tỉnh.
-Tốt: Nhóm này bao gồm các tỉnh có hầu hết chỉ số đều có kết quả tốt và đặc
biệt tốt ở các chỉ số thành phần có trọng số cao. Ở những tỉnh này, nhiều doanh
nghiệp phát triển và thu hút nhiều doanh nghiệp mới.
-Khá: Nhóm này bao gồm các tỉnh có chỉ số trên điểm trung vị. Trong nhóm
này các tỉnh thực hiện khá tốt ở nhiều điểm thành phần, nhưng vẫn còn có kết quả
nghèo nàn ở một số điểm thành phần khác. Ở nhóm tỉnh này, các doanh nghiệp tư
nhân phát triển ở mức khá, và tại tỉnh cần nhiều cải thiện nhiều để thu hút và giữ
chân nhà đầu tư.
-Trung bình: Nhóm này bao gồm các tỉnh có kết quả khá nghèo nàn ở nhiều
lĩnh vực, tuy nhiên vẫn đạt được một số kết quả khá ở một vài chỉ số thành phần.

doanh ổn định; 3) Môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, doanh nghiệp dễ
dàng và thuận lợi tiếp cận các thông tin phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
mình; 4) Chi phí không chính thức thấp ở mức tối thiểu; 5) Chi phí thời gian mà
doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính và thanh tra kiểm tra của
Nhà nước thấp; 6) Lãnh đạo tỉnh năng động và tiên phong trong giải quyết các vấn
đề của doanh nghiệp; 7) Các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển và có chất
lượng; 8) Chính sách đào tạo lao động của tỉnh tốt; 9) Hệ thống tòa án và cơ quan
giải quyết khiếu nại hành chính trong tỉnh công bằng và hiệu quả, giúp doanh
nghiệp giải quyết các tranh chấp của mình.
Ngoài ra, lần đầu tiên báo cáo PCI thực hiện điều tra các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI). Điều tra PCI 2010 thu thập ý kiến của 1.155
doanh nghiệp mang tính đại diện cao đến từ 47 quốc gia khác nhau, hoạt động trên
khắp 63 tỉnh, thành của cả nước, chiếm 20% tổng số nhà đầu tư nước ngoài đang
hoạt động theo số liệu từ Tổng điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê năm
2009. Mặc dù có thể không phải là cuộc điều tra về các doanh nghiệp FDI đầu tiên
tại Việt Nam, song có thể nói, cho đến nay đây là cuộc điều tra lớn nhất mang tính
toàn diện nhất. Do số doanh nghiệp FDI ở nhiều địa phương quá ít nên không thể sử
dụng dữ liệu điều tra cảm nhận của khối doanh nghiệp này để tính toán kết quả xếp
hạng chỉ số PCI. Tuy nhiên, khác biệt giữa cảm nhận về chất lượng điều hành của
chính quyền địa phương của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước đang
hoạt động ở một số địa phương thành công về thu hút đầu tư trên cả nước.
Nhìn chung, các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam có quy mô tương đối nhỏ,
định hướng xuất khẩu và có lợi nhuận thấp, chủ yếu làm thầu phụ cho các công ty
sản xuất đa quốc gia lớn hơn, do đó thường nằm trong khâu thấp nhất của chuỗi giá
trị sản phẩm. Các doanh nghiệp FDI này thường tiêu thụ một lượng nhỏ hàng hóa
dịch và dịch vụ trung gian từ các nhà sản xuất nội địa. Điều này hàm ý hiệu ứng lan
tỏa về năng lực công nghệ và kỹ năng quản lý bị hạn chế. Đối với đa số các nhà đầu
tư, lý do hấp dẫn họ tới Việt Nam là lợi thế chi phí sản xuất thấp do Việt Nam có
nguồn lao động rẻ, môi trường chính trị ổn định, điều này cho phép các nhà đầu tư
có thể lập kế hoạch chiến lược dài hạn vì họ tin rằng các chính sách sẽ được duy trì

các địa phương cải cách, hoàn thiện mình. Chỉ số PCI có thể coi như một phiếu
khám sức khỏe tổng thể của tỉnh, mà khi bác sỹ là các lãnh đạo tỉnh nhìn vào các
chỉ số thành phần có thể biết mình đang bệnh ở đâu. Việc tìm ra phương thuốc cải
cách chính là nhằm thay đổi tình trạng sức khỏe điều hành tỉnh theo hướng tốt lên.
Kết quả chỉ số PCI đã được lãnh đạo chính quyền địa phương tỉnh, thành phố trực
tiếp sử dụng để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường kinh doanh của
tỉnh mình, tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương tốt hơn, giám sát việc
thực hiện công tác quản lý điều hành của bộ máy hành chính, từ đó đưa ra chính
sách phù hợp cải thiện chất lượng điều hành kinh tế. Việc duy trì thứ hạng dẫn đầu
của các địa phương như Đà Nẵng, Lào Cai, Đồng Tháp hay đi tiên phong về sự
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
17
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS .Bùi Đức Tuân
năng động sáng tạo, cải thiện tính minh bạch, giảm chi phí không chính thức như
Bình Dương, Lào Cai, Bến Tre trong suốt các năm qua càng cho thấy vai trò tiên
phong và năng động của lãnh đạo tỉnh trong cam kết cải thiện chất lượng điều hành
kinh tế và môi trường kinh doanh.
Ngoài ra, các báo cáo chỉ số PCI là kênh thông tin cung cấp cho lãnh đạo tỉnh
có thể biết được đâu là điểm then chốt trong công tác cải cách của mình, nâng cao
trình độ của lãnh đạo và cán bộ tỉnh, để cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút
các dự án đầu tư có giá trị gia tăng cao, nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững.
1.4.2 Đối với doanh nghiệp
Báo cáo về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2010 được thực hiện dựa
trên kết quả điều tra và phần tích cảm nhận của 7.300 (trong đó có 1.115 doanh
nghiệp FDI) doanh nghiệp dân doanh về chất lượng điều hành kinh tế. Khu vực
kinh tế tư nhân là đối tượng điều tra của báo cáo, do đó, các doanh nghiệp hoạt
động trên địa bàn của tỉnh/thành đưa ra tiếng nói của mình. Những khó khăn của
doanh nghiệp sẽ được nêu ra thông qua chỉ số này để phản ánh đến lãnh đạo tỉnh.

những thành công quan trọng. Chỉ số PCI đã có những đóng góp nhất định trong
việc cải thiện chất lượng điều hành kinh tế, môi trường kinh doanh và qua đó góp
phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tuy nhiên, bên cạnh những đó vẫn còn những khiếm khuyết dẫn tới quá trình
đánh giá còn hạn chế. Cụ thể chúng ta có thể thấy:
Thứ nhất: chưa đánh giá hết các lợi thế tự nhiên. Chỉ số PCI mới chỉ nêu được
các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh vĩ mô và năng lực cạnh tranh vi mô được
cho là chủ quan của lãnh đạo tỉnh, mà chưa đánh giá được các yếu tố tự nhiên và cơ
sở hạ tầng kỹ thuật. Trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, ta ghi nhận những
tỉnh tự vươn lên bằng nội lực của mình, bằng sự năng động, tiên phong và sự sáng
tạo của địa phương mặc dù các điều kiện tự nhiên không thuận lợi. Nhưng cũng có
những tỉnh nhờ những yếu tố thuận lợi về địa lý, điều kiện tự nhiên mà đã tạo ra
một “sức hút” đối với các nhà đầu tư, có một sức cạnh tranh rất lớn với các tỉnh
khác. Ở đây, trong chỉ số PCI những tỉnh có yếu tố cạnh tranh về tự nhiên sẽ thấp
điểm hơn các tỉnh có đội ngũ lãnh đạo sáng suốt, trong khi trong thực tế, có lẽ năng
lực cạnh tranh của chúng sẽ bằng nhau, thậm chí các tỉnh được ưu đãi sẽ được đánh
giá có năng lực cạnh tranh cao hơn. Điều này, đòi hỏi cần có một sự bổ sung mới
các chỉ số đo lường về các yếu tố “cứng” trong năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Hơn
nữa, mặc dù đã có xem xét đến vấn đề Cơ sở hạ tầng nhưng trong chỉ số PCI vẫn
chưa bao gồm yếu tố này và chưa gán được trọng số thích hợp trong tính toán.
Thứ hai: Tuy nhiên, có thể nói rằng cho tới lúc này có vẻ như chính quyền một
số địa phương đã nắm được “bài” của PCI nên có thể vận động doanh nghiệp bình
bầu trả lời tốt cho chính quyền. Bên cạnh đó, thực tế việc chạy theo chỉ số PCI cũng
đưa tới sự lạm dụng nhất định về tính chủ động của chính quyền địa phương trong
việc làm sao thu hút càng nhiều đầu tư càng tốt, chỉ tính đến số lượng mà ít quan
tâm đến chất lượng, để nhận được sự đánh giá tốt hơn, dẫn đến khuynh hướng dễ
dãi đối với các nhà đầu tư ở một số địa phương.
Thứ ba: Tính minh bạch ở đây chỉ là tiếp cận được qua văn bản, chính sách thì
quá hẹp và không đầy đủ. Có thể thấy rằng việc tiếp cận với văn bản, quy hoach, kế
SV: Nguyễn Thanh Bằng

2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội
SV: Nguyễn Thanh Bằng
Lớp: Kinh tế phát triển 49A
20

Trích đoạn Điều kiện kinh tế Vĩnh Phúc giai đoạn 2006 – 2010 1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Phát triển các thành phần kinh tế Các nhân tố ảnh hưởng tới PCI 1 Cải cách hành chính Phát triển cơ sở hạ tầng Chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status