PHẦN MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng
với sự phát triển của đất nước, thủ đô Hà Nội và đã có bước phát triển nhanh, kết
cấu hạ tầng kinh tế xã hội được cải thiện, đời sống nhân dân được nâng lên, quốc
phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Để đẩy mạnh hơn nữa phát
triển kinh tế xã hội Thành phố Hà Nội tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội
của cả nước, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân.
Hiện nay, trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới đặt tất cả các quốc gia
trước những cơ hội và thác thức to lớn, đòi hỏi Quốc gia phải xây dựng cho mình
một nền tảng kinh tế - xã hội vững chắc, đảm bảo quốc phòng an ninh. Từ lý do
trên, em đã tìm hiểu và nghiên cứu đề tài :“Thực trạng và một số giải pháp chủ
yếu nhằm phát triển kinh tế Thành phố Hà Nội ” để từ đó thấy rằng vùng có rất
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, tuy nhiên vùng vẫn chưa phát huy được hết
tiềm năng và lợi thế của mình. Chính vì vậy mà vùng cần phải tiếp tục đổi mới và
tập trung nguồn lực, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát huy cao độ tiềm
năng kinh tế của Thành phố .
Với kiến thức lý luận và thực tiễn còn nhiều hạn chế nên đề tài còn những sai
lầm và thiếu sót, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy để đề tài của em
được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn thầy.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ
TÀI :
- Đánh giá thực trạng kinh tế của Thành phố Hà Nội
- Đưa ra được một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế Thành phố
Hà Nội
1
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
∗
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này nghiên cứu các vấn đề tiềm năng, hạn chế, đánh giá thực trạng
kinh tế của Thành phố Hà Nội .
lượng tăng trưởng được qui định bởi các yếu tố cấu thành và phương thức liên kết giữa
các yếu tố cấu thành nên tăng trưởng kinh tế.
2. Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái
niệm tăng trưởng kinh tế. Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng
thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/đầu người hay
GDP, GDP/đầu người… thì phát triển kinh tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng
đó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, đó là những biến đổi về
mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
3
hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và kèm theo đó là việc không ngừng nâng
cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu
chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình độ dân
trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào
phát triển kinh tế – xã hội.
3. Phát triển bền vững :
Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường
từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Báo cáo “Tương
lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED)
của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng
được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ mai sau”.
4
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KINH TẾ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hà Nội là Thành phố có dân cư đông đúc và lịch sử phát triển lâu đời gắn với
công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Thủ đô Hà Nội và các tỉnh thành phố quan
trọng như Hải Phòng, Quảng Ninh đã hình thành trung tâm đầu não chính trị của
nhà nước, cơ quan điều hành của các Tổ chức kinh tế lớn và các cơ sở đào tạo,
nghiên cứu và triển khai của quốc gia. Vì thế, có thể khẳng định rằng: Thành phố
So với nhiều tỉnh & Thành phố trong nước, Thành phố Hà Nội tuy có lợi thế về
các công trình hạ tầng được đầu tư nhiều, tuy nhiên đa số lại rất khó cải tạo, nâng cấp và
mở rộng các công trình hiện có đặc biệt là đường giao thông, đường điện nước. Nguyên
nhân chủ yếu là do việc quy hoạch không hợp lý và thiếu diện tích đồng thời rất tốn kém
khi phải đền bù tiền giải phóng mặt bằng. Nhiều khu đô thị mới nhanh chóng xuống
cấpvà thiếu các khu dịch vụ hoặc các kết cấu hạ tầng xã hội đi kèm nên đã không thể
phát huy được hiệu quả.
Hệ thống vận tải chưa được tổ chức và vận hành đồng bộ, gây cản trở cho việc
thông thương. Giao thông đô thị hiện là một trong những vấn đề lớn. Tính đến năm
2008, riêng số xe máy đăng kí ở trung tâm TP Hà Nội là hơn 2,4 triệu xe máy. Ở các đô
thị , đa số người dân sử dụng xe gắn máy. Ở Hà Nội đang có xu hướng chuyển từ xe gắn
máy sang xe ô tô và số xe ô tô hiện lên tới 220 nghìn xe. Các điểm đỗ xe máy và xe hơi
đã lấn chiếm đáng kể lối đi dành cho người đi bộ. Mặc dù tình trạng tắc nghẽn giao
thông ở Hà Nội chưa đến mức trầm trọng như một số đô thị trên thế giới, nhưng cũng đã
bắt đầu gây ảnh hưởng xấu tới hiệu quả kinh tế. Theo báo cáo, ở Hà Nội (chưa mở rộng),
diện tích đường quá nhỏ, chỉ chiếm khoảng 6,8% diện tích đô thị, trong khi trung bình
thế giới là 15% – 25%. Trên thực tế, không gian giao thông vẫn đang bị chiếm dụng cho
các mục đích khác, chủ yếu là để kinh doanh hoặc để làm nhà ở. Nhiều con đường trong
đô thị, ven đô thị, trong các làng và đường nội đô bị giảm hiệu suất sử dụng do vi phạm
hành lang giao thông.
Mật độ dân số quá cao đặc biệt là ở trung tâm Thành phố dẫn đến căng thẳng về
việc làm với một diện tích nhỏ hẹp, dân số đông nên việc bố trí không gian lãnh thổ của
6
Thành phố gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc phát triển, xây dựng thêm các trục
đường giao thông, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các khu đô thị. Tiền bồi thường
khi giải phóng mặt bằng thường rất cao. Để phát triển, Thành phố Hà Nội bắt buộc phải
đi vào chiều sâu, phải chồng GDP lên một không gian nhỏ bé. “Giá đất tại Hà Nội và các
vùng lân cận rất đắt. Ước tính gần đây cho thấy giá 1m
2
đất ở Hà Nội hoặc các tỉnh lân
động dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển như hỗ trợ thông tin, hỗ trợ pháp lý, tư
vấn… TP Hà Nội tuy là nơi có các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp khá hơn nhiều tỉnh và
các TP khác, nhưng so với yêu cầu hội nhập và phát triển thì còn yếu. Quán tính của cơ
chế kế hoạch hóa tập trung có thể là một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình hình
này.
Giai đoạn vừa qua, trong khi các khu công nghiệp, khu chế xuất phát triển nhanh,
nhưng công tác quản lý và quy hoạch của vùng này còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng
được nhu cầu phát triển nhanh cả về kinh tế lẫn xã hội. Nhiều vấn đề liên quan tới
chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tạo công ăn việc làm, quy hoạch kiến trúc đô thị,…
đang được đặt ra cần phải có những nghiên cứu hoàn chỉnh, tổng thể nhằm giải quyết
những yếu kếm bất cập này.
2.1.4. Tổ chức lãnh thổ đã có bước phát triển nhưng còn tồn tại nhiều bất hợp lý
Sự phối hợp giữa các vùng chưa đảm bảo phát triển cân đối và hài hòa trong
toàn Thành Phố. Chế độ kế hoạch hóa tập trung gây ra tình trạng trì trệ kéo dài, tâm lý
ỉ lại, thụ động, tình trạng hành chính hóa, cát cứ địa phương ở trong Thành Phố còn rất
nặng nề là một chướng ngại cực lớn đối với quá trình đổi mới và mở của, chuyển
đổi cơ chế kinh tế hiện nay. Từng quận , từng huyện là một đơn vị kinh tế - xã hội
độc lập. Sự liên kết gắn bó giữa các quận, huyện với nhau lỏng lẻo, không tạo được
sự phân công lao động trong Thành phố. Do đó, thiếu bổ xung, hỗ trợ lẫn nhau,
chưa tạo thành được sức mạnh tổng hợp, làm cơ sở cho tăng năng suất lao động,
tăng hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thêm vào đó sự chênh lệch giàu nghèo của Thành phố còn rất lớn, đặc
biệt tỉ lệ nghèo đô thì có xu hướng tăng . Điều tra nghèo đô thị 2009 (UPS-09) là
8
hoạt động nằm trong dự án “Hỗ trợ đánh giá sâu về nghèo đô thị ở Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh”. Dự án được triển khai dưới sự hỗ trợ của Chương trình Phát triển
Liên hợp quốc (UNDP) nhằm thu thập thông tin, phân tích và đánh giá tình trạng
nghèo ở hai thành phố lớn nhất cả nước.
Kết quả điều tra cho thấy, tuy tỷ lệ hộ nghèo trong phạm vi cả nước theo
chuẩn nghèo của Chính phủ tiếp tục giảm, nhưng tỷ lệ nghèo tại Thành phố Hà Nội
xỉ 4000$).Tốc độ tăng trưởng GDP theo giá thực tế giai đoạn 2006-2009 là 27,1% .
Từ năm 1990 đến nay, cơ cấu ngành kinh tế của Hà Nội có sự chuyển dịch khá tích
cực. Ngành dịch vụ có xu hướng giảm tỷ trọng phản ánh xu thế tăng trưởng mạnh
của ngành công nghiệp. Với tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 53,61% (năm 2009), tỷ
trọng ngành phi nông nghiệp (công nghiệp và dịch vụ) chiếm khoảng 98%, kinh tế
Hà Nội được xem như ở trình độ phát triển khá cao xét theo các tiêu chí phân kỳ
phát triển kinh tế.
2.2.2. Thành phố Hà Nội có lợi thế về quy mô dân số, lực lượng lao động dồi dào và
tay nghề khá ở trong những ngành nghề quan trọng :
Tính đến thời điểm 1/4/2009 , Dân số TP Hà Nội là 6,472 triệu người , chiếm
khoảng 7,5 dân số cả nước . Trình độ học vấn của các nhóm dân cư, trình độ văn
hóa chung của người Hà Nội ở mức cao hơn so với các vùng khá trong cả nước.
Thủ đô Hà Nội là nơi tập trung nguồn nhân lực khoa học – công nghệ được đào
tạo có bằng cấp cao. Tại đây, có mạng lưới gần 600 cơ quan khoa học và công nghệ
kể cả của Trung ương và tỉnh, thành phố trong tổng số cả nước có trên 1200 cơ
quan khoa học và công nghệ (Viện, Trung tâm,…). Ngoài ra, vùng thủ đô Hà Nội
10
còn có 63 trường đại học trong tổng số 230 trường đại học của cả nước (chiếm
30%).
Trong bối cảnh mở cửa, hội nhập, xây dựng nền kinh tế trí thức và nâng cao
năng lực cạnh tranh, lợi thế to lớn trên về nguồn nhân lực so với các vùng khác đã
tạo ra một sức mạnh cạnh tranh hấp dẫn cho Thành phố .
2.2.3. Thành phố có một hệ thống đô thị và các cơ sở tương đối mạnh
Hà Nội có một sự phát triển lâu đời, Hà Nội từ lâu đã trở thành một trung
tâm kinh tế lớn trong cả nước và kèm theo đó là nhiều cơ sở kinh tế, các doanh
nghiệp có tiềm lực khá, tạo điều kiện cho xã hội có bước phát triển tốt. Hà Nội đã
thu hút được các tập đoàn lớn trong nước và quốc tế đầu tư vốn, công nghệ, ví dụ
như Canon, LG, Toyota… Tỷ lệ phần trăm đường được dải nhựa của Thành phố đạt
mức cao . Các trục đường lớn: Quốc lộ 1, 5, 10, 18 đã hoàn thành việc nâng cấp
hoặc đang được cải tạo, đang tiến hành xây dựng tuyến đường mới Láng - Hòa
34.560 41.694 56.213 63.903 120,6 134,8 99,2 114,2
Hà Tây
5.316 6.458 7.388 - 121,5 114,4 - -
Hải Phòng
17.625 20.776 24.323 28.336 117,9 117,1 116,5 117,1
Thanh Hóa
7.180 7.908 8.368 9.749 110,1 105,8 116,5 110,8
Nghệ An
3.005 3.215 3.515 4.282 106,9 115,5 115,3 112,6
Đồng Nai
34.741 42.473 50.844 61.040 122,3 119,7 120,1 120,8
Bà rịaVũng tàu
37.243 41.176 41.849 41.872 110,6 101,6 100,1 104,1
TP.HCM
98.404 110.928 125.113 137.894 112,7 112,8 110,2 111,9
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
13
2.3.2.Giá trị sản xuất Nông nghiệp :
Vượt qua nhiều khó khăn thách thức, thiên tai, dịch bệnh,… ngành nông
nghiệp trong giai đoạn này đã phát triển với tốc độ tăng khá 6,2%/năm. Sự phát triển
ổn định của nông nghiệp đã tạo điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế, ổn định xã
hội và nâng cao đời sống nhân dân; đồng thời tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm
công nghiệp và dịch vụ, nhất là trong điều kiện xuất khẩu giai đoạn này đang gặp khó
khăn do thị trường bị thu hẹp, giá cả xuất khẩu xuống thấp.
Kinh tế nông thôn và đời sống nhân dân được cải thiện hơn trước. Việc tập
trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có
năng xuất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công
nghiệp,… đã có tác động tích cực tới việc phát triển sản xuất, tạo việc làm và xóa
Hải Phòng 1.997 2.082 2.166 2.269 104,3 104,0 104,8 104,4
Hưng Yên 2.328 2.337 2.572 2.656 100,4 110,1 103,3 104,5
Thái Bình 3.817 3.939 4.026 4.195 103,2 102,2 104,2 103,2
Hà Nam 1.219 1.283 1.359 1.412 105,3 105,9 103,9 105,0
Nam Định 2.545 2.911 2.900 2.976 114,4 99,6 102,6 105,3
Ninh Bình 1.261 1.375 1.418 1.467 109,0 103,1 103,5 105,2
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
15
2.3.3. Giá trị sản xuất lâm nghiệp
Thành quả lớn nhất mà ngành lâm nghiệp đạt được trong những năm vừa qua là
vốn rừng được giữ vững và phát triển. Sở dĩ đạt được kết quả trên một mặt do công tác
trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng đạt kết quả cao; mặt khác chủ trương đóng cửa rừng
để bảo vệ và phát triển vốn rừng đã được thực hiện nghiêm túc trong. Thực hiện chủ
trương này, phần lớn các lâm trường đã chuyển sang làm nhiệm vụ trồng và bảo vệ
rừng và làm dịch vụ lâm nghiệp cho cả vùng, việc khai thác gỗ giảm đến mức tối đa.
16
Bảng 03: Giá trị sản xuất Lâm Nghiệp tính theo giá năm 1994 của Thành phố Hà Nội , vùng ĐBSH và cả nước :
2005
(tỷ đồng)
2006
(tỷ đồng)
2007
(tỷ đồng)
2008
(tỷ đồng)
Tốc độ tăng trưởng (%)
2006/2005 2007/2006 2008/2007 BQ 2005-2008
Hà Nội
7 6 5 34 85,7 83,3 97,1 94,7
Hà Tây
Nội có Quảng Ninh, cũng nằm trong vùng Đồng bằng Sông Hồng , cũng là một trung
tâm văn hóa, chính trị, kinh tế lớn của vùng nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp cũng
như tốc độ tăng trưởng lại khác hoàn toàn. Giá trị sản xuất lâm nghiệp của Quảng
Ninh lớn nhất vùng, năm 2008 đạt 143 tỷ đồng chiếm 40,3% giá trị toàn vùng, tốc độ
gia tăng bình quân hàng năm từ 2005 – 2008 cao, đạt 6,6% gấp 2,4 lần tốc độ tăng
toàn vùng và gần gấp 3 lần so tốc độ tăng trưởng của cả nước. Đây cũng là một điều
đáng lưu ý trong việc phát triển ngành Lâm nghiệp của Thành phố Hà Nội .
2.3.4. Giá trị sản xuất Thủy sản :
Nhìn chung, trong giai đoạn 2005-2008, giá trị sản xuất thuỷ sản bình quân ở
các tỉnh Đồng Bằng sông Hồng có xu hướng tăng, đặc biệt ở các vùng có vị trí địa lý
và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển ngành Thuỷ sản như các tỉnh Quảng
Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, ngoài điều kiện sông ngòi nhiều còn có vị trí
giáp biển nên việc sản xuất thuỷ sản gặp nhiều thuận lợi, dẫn đến giá trị sản xuất thuỷ
sản ở các vùng này thường ở mức cao. Ngoài ra, các tỉnh có hệ thống sông ngòi phát
triển như Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hà Tây… cũng có sản lượng
thuỷ sản khá cao. Hà Nội do điều kiện để phát triển ngành Thuỷ sản không nhiều, lại
có xu hướng tập trung phát triển thương mại và dịch vụ nên sản lượng thuỷ sản ở mức
thấp so với các tỉnh lân cận. Từ năm 2008, do sát nhập với tỉnh Hà Tây cũ, diện tích
đất đai được mở rộng, ngành Thuỷ sản có thêm điều kiện phát triển nên giá trị sản
xuất tăng vọt (từ 89 tỉ đồng lên 298 tỉ đồng), nhưng tốc độ sản xuất không
18
đồng đều, lại tập trung phát triển các ngành trọng điểm dẫn đến việc làm cho tốc độ
tăng trưởng Thuỷ sản giảm. Một số tỉnh khác do điều kiện phát triển thuỷ sản không
thuận lợi nên giá trị sản xuất không cao.
Qua đó, ta thấy cần tập trung vào các tỉnh gần biển để phát triển ngành Thuỷ sản, bên
cạnh đó cũng chú trọng tới các tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưng ngành thuỷ
sản đạt giá trị chưa cao để tận dụng triệt để và có hiệu quả nguồn tài nguyên.
19
Bảng 04: Giá trị sản xuất Thủy sản tính theo giá năm 1994 của các tỉnh vùng ĐBSH
2005
457 497 535 574 108,8 107,6 107,3 107,9
Ninh Bình
121 147 155 171 121,5 105,4 110,3 112,2
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
20
2.3.5. Giá trị sản xuất dịch vụ
Mặc dù chịu ảnh hưởng chung từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới
và suy thoái kinh tế nhưng nhờ thực hiện tốt những chính sách kích cầu đầu tư
và tiêu dùng, hoạt động thương mại, dịch vụ nội địa đã đạt nhiều kết quả tốt.
Kinh doanh thương mại diễn ra sôi nổi, đảm bảo lưu thông hàng hoá và vật tư trong
và ngoài tỉnh. Hàng hoá bán ra phong phú về chủng loại đáp ứng nhu cầu người tiêu
dùng trên các địa bàn.
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của người dân ngày càng được cải
thiện và nâng lên. Tốc độ tăng trưởng của hoạt động thương mại dịch vụ có xu
hướng ngày càng tăng cao và không có dấu hiệu sụt giảm trong thời gian tới . Hà
Nội có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng là 36,5% đạt trên
mức bình quân chung từ 2005 -2008 của cả nước . Tuy đó chỉ là con số tương đối
nhưng nó cũng phản ánh được phần nào sự phát triển của kinh tế - xã hội.
Kinh doanh du lịch hiện nay là một trong những lĩnh vực sôi động và cũng
phát triển nhất. Khi đời sống của người dân ngày một nâng cao thì nhu cầu về vui
chơi, giải trí, du lịch… cũng ngày càng cao chính vì thế mà các khu du lịch ngày càng
được đầu tư phát triển, các dịch vụ du lịch, công ty du lịch cũng từ đó mà mọc lên
ngày càng nhiều để phục vụ nhu cầu của người dân.
Vận tải: kinh tế - xã hội phát triển làm cho nhu cầu của toàn xã hội tăng lên
như đi lại, vận chuyển hàng hóa cũng tăng lên và chiếm ưu thế. Vận tải đường sắt
còn nhiều hạn chế mặc dù do nhu cầu tăng nhưng do năng lực thông qua ở một số
tuyến đường sắt chủ đạo như tuyến Bắc – Nam, Hà Nội – Lào Cai, chưa phát huy
được lợi thế cạnh tranh của vận tải khối lượng lớn và đường dài. Phương tiện bay
của ngành hàng không đã được đầu tư cải thiện, bổ xung nhiều máy bay mới tầm
trung và tầm xa loại hiện đại. Đường bay được mở rộng cả về tầm bay xa và tần
Tuy nhiên trong đầu tư phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường: phối hợp
trong đầu tư phát triển đối với những công trình, dự án liên quan đến nhiều địa phương
thuộc các lĩnh vực chủ yếu như: xử lý nước thải, chất thải rắn, nhất là chất thải rắn
nguy hại, phát triển cảng biển, sân bay, xây dựng hệ thống đường giao thông liên tỉnh,
đường cao tốc,… phối hợp trong công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường. Việc xây
dựng các công trình , các dự án xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường phải phù hợp với
quy hoạch của các địa phương lân cận và đảm bảo sự đồng bộ với triển khai các dự án
có liên quan.
3.1.2. Phối hợp trong phát triển đào tạo sử dụng lao động
Để tiếp thu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới thì con
người phải có trình độ, nhận thức và có hiểu biết về khoa học công nghệ chính vì thế ta
phải phối hợp xây dựng các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các
trường dạy nghề để đào tạo lao động cho vùng
Phối hợp trong sử dụng lao động, nhất là lao đông di chuyển, lao động khu vực
chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong các khu công nghiệp, khu kinh tế;
đồng thời định hướng, hướng dẫn các địa phương phối hợp, hỗ trợ việc làm, hợp tác bố
trí lao động, xử lý tranh chấp lao động khi cần thiết.
3.1.3. Phối hợp trong rà soát, sửa đổi, bổ xung và ban hành thực hiện cơ chế chính
sách tài chính, chính sách đầu tư, cơ chế bù và giải phóng mặt bằng
Có những cơ chế chính sách tài chính mở, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
và chủ đầu tư đầu tư vào địa phương. Có những chính sách ưu đãi và hỗ trợ về thuế,
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại,… Cơ chế tài chính
23
hỗ trợ phát triển khu công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao, phát triển khu nông
nghiệp công nghệ cao, các công trình nghiên cứu khoa học kĩ thuật trực tiếp gắn với
sản xuất
Hỗ trợ công tác đền bù giải phóng mặt bằng nhanh, đảm bảo quyển lợi của cả
hai bên, đền bù thỏa đáng cho người dân trong diện di dời, có những biện pháp cứng
rắn yêu cầu chấp hành nghiêm chủ trương và quyết định của các cấp có thẩm quyền về
việc giải phóng mặt bằng nhằm nhanh chóng thu hồi đất đai cho việc xây dựng công
công nghệ sinh học trong sản xuất. Xây dựng phát triển các khu , cụm công nghiệp
nông thôn gắn với các thị trấn, thị tứ, phát triển chế biến nông, lâm sản. Xây dựng khu
công nghiệp chuyên nghiên cứucải tiến kỹ thuật và công nghệ cho các xí nghiệp công
nghiệp hiện có cho cả Thành phố .
Chuyển đổi diện tích đất lúa hiệu quả thấp sang phát triển các loại cây trồng,
vật nuôi hiệu quả cao hơn. Hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng các vùng chuyên canh hàng
hóa xuất khẩu rau màu, cây công nghiệp, thúc ăn chăn nuôi. Tận dụng những thế mạnh
của vùng phát triển mạnh các ngành dịch vụ, du lịch.
3.2.2. Giải pháp về phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh
Việc gia nhập WTO đã đưa các doanh nghiệp lên vị trí hàng đầu trong vai trò
mở cửa, hội nhập và phát triển. Đẩy mạnh và phát triển doanh nghiệp trong nước, bao
gồm doanh nghiệp Trung Ương trên địa bàn và doanh nghiệp địa phương. Các địa
phương xây dựng chương trình phát triển và nâng cao sức cạnh tranh hội nhập cho
doanh nghiệp. Tập trung phát triển một số tổng công ty lớn của nhà nước và tư nhân
trên địa bàn có năng lực sản xuất cạnh tranh cao với công ty nước ngoài khi hội nhập.
Phát động phong trào cổ vũ, tôn vinh tinh thần lập nghiệp kinh doanh, sáng kiến kinh
doanh của các cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội.
Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới thiết kế, mẫu mã, công nghệ để
nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đầu tư mở rộng sản xuất, phát triển các
ngành nghề mới, sản phẩm mới. Đẩy nhanh hoạt động xúc tiến thương mại để tìm
kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp.
Phát huy tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu.
Khuyến khích phát triển mạnh hình thức kinh tế đa sở hữu mà chủ yếu là các
doanh nghiệp cổ phần mới để hình thức kinh tế này trở thành phổ biến, chiếm tỷ trọng
25