Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu lao động của Công ty cổ phần Đầu tư tổng hợp Hà Nội - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế - xã hội quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Đẩy mạnh
XKLĐ Việt Nam hay thực chất là đưa nhiều lao động Việt Nam đi làm việc có
thời hạn ở nước ngoài là một hoạt động càn thiết. Hoạt động xuất nhập khẩu hiện
nay đang được đặc biệt quan tâm bởi nó mang lại cho nền kinh tế - xã hội ở nước
ta có những chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất
khẩu các mặt hàng chủ lực như: gạo, cà phê, hồ tiêu, giày dép, thủy sản,… thì
hoạt động XKLĐ cũng đặc biệt được quan tâm trong thời gian gần đây. Đảng và
Nhà nước ta coi hoạt động XKLĐ là một hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần
phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình đọ
tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia và tăng cường
quan hệ hợp tác quốc tế với các nước khác. Theo đánh giá của Viện tài chính quốc
tế, năm 2011, tổng lượng kiều hối mà XKLĐ đã mang lại cho các quốc gia đang
phát triển lên tới 65 tỷ USD, mà ¼ trong số đó thuộc về các quốc gia XKLĐ ở
châu Á. Do đó, trong những năm gần đây XKLĐ đã mang lại nguồn thu lớn cho
các nước đang phát triển như: Bangladestsh, Pakistan, philipin, Việt Nam,….
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác XKLĐ còn gặp phải những
khó khăn và thách thức mới. Nhu cầu về việc làm của người lao động và lợi ích
quốc gia đòi hỏi Nhà nước, các doanh nghiệp tham gia XKLĐ và chính bản
thân người lao động phải có những giải pháp để không ngừng nâng cao hiệu
quả và mở rộng chương trình XKLĐ đạt kết quả cao. Đặc biệt các doanh
nghiệp XKLĐ cần có những chiến lược phát triển thị trường nhằm không
ngừng mở rộng thị trường XKLĐ, tìm kiếm các thị trường mới có những điều
kiện thuận lợi hơn, phù hợp hơn đối với lao động Việt Nam và điều quan trọng
là mang lại thu nhập cao cho họ. Chiến lược đó ngày càng trở lên quan trọng
1
như là một yếu tố để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong bối cảnh quốc
tế có nhiều biến động lớn về kinh tế và chính trị như hiện nay.
Đối với Công ty cổ phần Đầu tư tổng hợp Hà Nội, XKLĐ là một lĩnh vực
kinh doanh mới trong vài năm gần đây. Qua kết quả đạt được thì hoạt động

Nội cấp lần đầu ngày 30/3/2007, đăng ký thay đổi lần thứ chín ngày
01/10/2010
Giấy phép XKLĐ số: 134/LĐTBXH-GP do Bộ lao động - Thương binh
và Xã hội cấp.
Trụ sở chính: Tầng 6, tòa nhà Viglacera, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà
Nội
3
Địa chỉ liên hệ: Tầng 6, Tòa nhà FLC Landmark Tower, Đường Lê Đức
Thọ, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại : 04 – 35537116
Fax : 04 – 35537168
Email: :
Website : www.hanic.com.vn
1.2. Quá trình hình thành và phát triển:
Công ty được thành lập năm 2004, tuy nhiên định hướng phát triển của
công ty đã được những người đứng đầu công ty hoạch định ngay từ khi công
ty còn ở thời kỳ phôi thai. Công ty không chỉ tập trung vào một lĩnh vực cụ
thể mà đầu tư kinh doanh vào nhiều lĩnh vực như: Kinh doanh bất động sản;
Xuất khẩu lao động; Xuất nhập khẩu và kinh doanh thép, phôi thép, phân bón
các loại; Đầu tư tài chính, tư vấn mua bán doanh nghiệp;…. Hoạt động
XKLĐ là một trong những lĩnh vực kinh doanh mới của HANIC. Tuy nhiên
doanh thu và lợi nhuận của hoạt động XKLĐ mang lại rất lớn. Chính vì vậy,
Ban lãnh đạo công ty luôn lấy nhiệm vụ XKLĐ làm trọng tâm và cung cấp lao
động cho nhiều thị trường khác nhau trên toàn thế giới. Trong đó, các thị
trường truyền thống như Malaysia, Đài Loan luôn được Công ty chú trọng
duy trì, phát triển. Bên cạnh đó, Công ty cũng không ngừng khai thác mở
rộng thị trường ra nhiều quốc gia, vũng lãnh thổ, đa dạng hoá ngành nghề.
Các yếu trên giúp cho Công ty luôn duy trì được vị trí là một trong số các
công ty hàng đầu về xuất khẩu lao động.
Quá trình phát triển của công ty:

cổ đông ( theo danh sách chốt ngày 30/6/2010 ).
Ngành nghề kinh doanh chính là Xuất khẩu lao động; Xuất nhập khẩu
hàng hoá; Kinh doanh bất động sản; Kinh doanh thép, phôi thép;….
Qua 3 năm hoạt động theo cơ chế cổ phần, công ty luôn giữ vững sự
tăng trưởng về doanh số và quy mô hoạt động, từng bước hoàn thiện bộ máy
quản lý và quy trình làm việc để phấn đấu trở thành một doanh nghiệp vững
mạnh trên lĩnh vực XKLĐ và kinh doanh đa ngành nghề.
1.3. Giới thiệu khái quát về HANIC
1.3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Là đơn vị hạch toán độc lập, Công ty cổ phần Đầu tư tổng hợp Hà Nội tổ
6
Ghi chú: Điều hành trực tiếp Điều hành gián tiếp
Bảng 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của HANIC
ĐẠI HỘI
CỔ ĐÔNG
Công ty CP
Xuân Minh SĐ
Thanh Hoa
(XUMI SĐ
Thanh Hoa)
PHÓ TỔNG GIÁM
ĐỐC PHỤ TRÁCH
ĐT
TRUNG
TÂM
KINH
DOANH
TH HANIC
I
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

TRUNG
TÂM
XKLD
HANIC 3
(BẮC
KẠN)
TRUNG
TÂM
KINH
DOANH
THÉP
HANIC
BAN KIỂM SOÁT
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
PHỤ TRÁCH XKLĐ
TRUNG
TÂM
XKLD
HANIC 2
(BẮC
NINH)
TRUNG
TÂM
XKLD
HANIC 1
(HÀ NỘI)
Công ty CP
Đầu tư Phát
triển ôtô Xe

ĐỘI XÂY DỰNG
SỐ 1
CHI NHÁNH
THÁI NGUYÊN
7
chức quản lý theo mô hình chỉ đạo trực tiếp của hội đồng quản trị, giám đốc
điều hành đến các thành viên của công ty ở các lĩnh vực mà công ty hoạt động
kinh doanh.
Cũng giống như các công ty cổ phần khác, các phòng ban chức năng
đều có những nhiệm vụ riêng và một phần chức năng, nhiệm vụ đó được thể
hiện qua chính tên gọi của phòng ban đó. Nhiệm vụ của các vị trí và các
phòng ban chính trong công ty có thể được khái quát như sau:
- Hội đồng quản trị: Do đại hội đồng cổ đông bầu ra và là cơ quan quản
lý của công ty, có quyền quyết định chiến lược phát triển của công ty, quyết
định các dự án đầu tư phân cấp, định hướng chiến lược phát triển thị trường
và cá nhiệm vụ khác theo quy định.
- Tổng giám đốc: Tổng giám đốc điều hành do hội đồng quản trị bổ
nhiệm sau khi đã thỏa thuận, các Phó giám đốc do Hội đồng quản trị bổ
nhiệm theo đề nghị của Tổng giám đốc điều hành. Ban lãnh đạo có nhiệm vụ
chủ yếu: tổ chức thực hiện các quyết định của hội đồng quản trị, điều hành và
chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của công ty, tổ chức và thực
hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và các dự án đầu tư của công ty, bảo toàn
và phát triển vốn và các nhiệm vụ khác theo quy định của điều lệ. Công ty
tổng có 1 tổng giám đốc, 3 phó tổng giám đốc với nhiệm vụ chính như sau:
- Phó tổng giám đốc phụ trách XKLĐ: Cùng với ban lãnh đạo điều hành
Ban quản lý XKLĐ. Nhiệm vụ chính của Ban quản lý XKLĐ là đảm nhận
những công việc như khảo sát thị trường, thu thập thông tin về thị trường và
đối tác, phân tích đánh giá tiềm năng thị trường, tư vấn cho ban giám đốc
phương án hiệu quả nhất để thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường, quảng bá
thương hiệu HANIC trên thị trường. Ban quản lý XKLĐ có nhiệm vụ tìm

9
những năm gần đây của HANIC. Tuy nhiên hoạt động này đã mang lại nguồn
thu đáng kể và ổn định cho Công ty.
Ban lãnh đạo HANIC nhận thấy rằng cần phải có hướng đi đúng đắn
nhằm đẩy mạnh và tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động XKLĐ của công ty
ngày càng phát triển hơn nữa. Do đó, Ban lãnh đạo đã nhất trí thành lập Ban
quản lý XKLĐ giúp cho việc điều hành hoạt động XKLĐ của công ty đạt hiệu
quả hơn nữa. Ban quản lý XKLĐ trực tiếp xây dựng các kế hoạch như: nghiên
cứu và mở rộng thị trường XKLĐ; tuyển chọn và đưa lao động đi làm việc ở
nước ngoài
Tổ chức bộ máy hoạt động XKLĐ của HANIC: Bộ máy XKLĐ của công
ty hiện gồm 03 Trung tâm tại Hà Nội, Nghệ An, Bắc Kạn và 01 Ban quản lý
XKLĐ chung dưới sự điều hành của Phó Tổng giám đốc phụ trách XKLĐ và
Tổng giám đốc công ty, với tổng số nhân viên là 125 người.
10
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình XKLĐ của HANIC:
1.3.3 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của HANIC trong thời
gian qua
Công ty cổ phần Đầu tư tổng hợp Hà Nội là một doanh nghiệp kinh
doanh đa ngành nghề, đây cũng là một trong những lợi thế của HANIC. Bên
cạnh đó HANIC cũng gặp không ít khó khăn do nguồn vốn đầu tư cho nhiều
lĩnh vực. Điều đó làm hạn chế tính chủ động của từng lĩnh vực kinh doanh do
nguồn vốn hạn hẹp. Tuy nhiên HANIC cũng như nhiều doanh nghiệp khác
HANIC luôn quan tâm đến kết quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận mang lại
hàng năm cho công ty.
Ký hợp đồng
Thông báo
tuyển chọn
Sơ tuyển
Phỏng vấn

hiện hợp đồng
11
Mục tiêu hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là tạo ra lợi
nhuận ròng lớn, HANIC cũng không phải là ngoại lệ. Một mặt, HANIC
không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty nhằm nâng
cao năng lực tài chính và uy tín của doanh nghiệp. Mặt khác, HANIC định
hướng và tập trung khai thác những lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả
cao như: Bất động sản; Xuất khẩu lao động. Dưới đây là kết quả hoạt động
của HANIC trong giai đoạn từ 2009 - 2011
Bảng 1.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của HANIC từ 2009-2011
Đơn vị : 1.000 đồng
TT Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
1 Tổng Doanh thu
76,046,443
121,682,268 53.919.527
2 Tổng Lợi nhuận trước thuế 3,263,790 3,252,105 (72.908.280)
3 Lợi nhuận ròng 2,966,303 2,652,903 (72.908.280)
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán tổng hợp HANIC)
Từ bảng số liệu trên cho ta thấy, tình hình doanh thu và lợi nhuận năm
2009 và 2010 tương đối tốt. Tuy nhiên lợi nhuận ròng năm 2010 giảm so với
2009 khoảng 300 triệu. Do tình hình thị trường bất động sản năm 2011đóng
băng gây thiệt hại lớn cho HANIC, nguồn vốn dành cho đầu tư BĐS lớn, lãi
vay ngân hàng cao. Trong khi đó, doanh thu từ hoạt động BĐS hầu như
không có hoặc là có nhưng không dủ bù đắp chi phí của DN. Ta thấy doanh
12
thu năm 2011 giảm khoảng 60% so với năm 2010 nhưng không thể bù dắp
được chi phí của DN nên lợi nhuận ròng thu được kết quả không mong đợi
(cụ thể: - 72 tỷ đồng).
Chính vì những lý do trên mà HANIC tập trung đầu tư và phát triển
những lĩnh vực mang lại lợi nhuận ổn định cho công ty như: Xuất khẩu lao

tiềm năng phát triển hoạt động XKLĐ trong tương lai.
14
Xét về cơ cấu chất lượng, các nước tiếp nhận LĐXK Việt Nam chủ yếu
tập trung vào các nước, các lãnh thổ có mức thu nhập khá cao. Lấy năm 2008
làm ví dụ: Đài Loan chiếm 32,55% tổng số lao động xuất khẩu, Hàn Quốc
chiếm 20,82% và Nhật Bản chiếm 7,95% tổng số lao động xuất khẩu; hoặc có
mức thu nhập trung bình như khu vực Trung Đông chiếm 10,91% tổng số lao
động xuất khẩu, Malaysia chiếm 7,11%.
Về cơ cấu thị trường, so với những năm trước, có thể thấy thị trường tiếp
nhận lao động nước ta đã có sự phát triển tích cực, giảm dần tỷ trọng lao động
xuất khẩu sang các nước có mức lương trung bình hoặc thấp (năm 2003 lao
động xuất khẩu sang Malaysia chiếm tới 48% nhưng năm 2008 chỉ còn chiếm
7,11%) và gia tăng tỷ trọng lao động xuất khẩu sang các nước, các lãnh thổ có
mức lương khá cao (năm 2003 lao động xuất khẩu sang Hàn Quốc chỉ chiếm
6% nhưng năm 2008 đã tăng lên đến là 20,82%)
Bảng số lượng lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc từ 2000 - 2011
Năm
Số lao động
XK (người)
Tốc độ tăng liên
hoàn (%)
Năm
Số lao động XK
(người)
Tốc độ tăng liên
hoàn (%)
2000 31.500 44,43 2006 78.855 11,7
2001 36.168 14,82 2007 85.020 7,82
2002 46.122 27,52 2008 86.990 2,32
2003 75.000 62,61 2009 73.028 -16,05

4 Nhật Bản 3.527 847
5 Macao 1.189 1.131
6 Síp 398 386
7 Thị trường khác 9.307 2.632
Tổng 54.352 18.906
(Nguồn: Số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước)
Với tình hình cơ cấu thị trường như trên, chúng ta đang phải đối mặt với
nguy cơ bị thu hẹp thị trường do một số thị trường truyền thống thu nhập thấp
như Malaysia không còn hấp dẫn với lao động Việt Nam trong khi chưa có thị
trường mới nào đủ khả năng thay thế về khả năng tiếp nhận số lao động lớn.
Do vậy Chính phủ cần tăng cường quan hệ và mở rộng thị trường XKLĐ sang
các thị trường mới giàu tiềm năng mà chưa được khai thác như: Tây Âu, Châu
Mỹ,…
17
2.2. Thực trạng hoạt động XKLĐ của HANIC trong thời gian qua
Ngày 26/6/2008, HANIC nhận Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài (XKLĐ) số 134/LĐTBXH-GP do Bộ lao
động - Thương binh và Xã hội cấp. Buổi ban đầu HANIC chỉ có ba thị trường
lao động chính là đi Malaysia, Đài Loan và Cộng hòa Síp. Đến nay HANIC
đã mở rộng thêm nhiều thị trường lao động mới, với hàng chục loại nghề
nghiệp khác nhau. Ngoài lực lượng lao động phổ thông, HANIC đã tuyển
chọn, đào tạo đưa những người có tay nghề đi làm việc trong các lĩnh vực xây
dựng, dệt may, điện dân dụng, lao động phục vụ khách sạn và giúp việc gia
đình
Bảng 2.2: Cơ cấu ngành nghề XKLĐ của HANIC từ 2008-2011
Đơn vị: người
Ngành nghề 2008 2009 2010 2011
Xây dựng
- 25 70 110
Dệt may

đó là sự chú trọng vào phát triển hoạt động của Công ty.
- Về lợi nhuận: Song song với sự gia tăng của doanh thu thì lợi nhuận
cũng tăng qua các năm. Cụ thể: Lợi nhuận năm 2009 tăng so với năm 2008 là
hơn 700% tương ứng với số tiền là 179.610.570 đồng. Năm 2011 tăng so với
năm 2010 là 963.560.875 đồng.
- Về nộp ngân sách Nhà nước: xuất khẩu lao động là hoạt động đã đóng
góp cho Ngân sách Nhà nước một mức khá cao trong các năm 2009 và 2011.
19
Năm 2011 mức nộp ngân sách Nhà nước tăng hơn so với năm 2010 là
240.566.241 đồng.
Doanh số, lợi nhuận của HANIC năm sau tăng gấp nhiều lần so với năm
trước đó, điều đó cho thấy có sự cố gắng rất lớn của cán bộ công nhân viên có
trình độ, kinh nghiệm và việc tổ chức các khâu từ nghiên cứu thị trường đến
hoạt động xuất khẩu lao động có khoa học, hiệu quả, không những khắc phục
được điểm yếu mà còn vượt qua mọi khó khăn để đạt được thành quả hết sức
to lớn như vậy.
Về cơ cấu ngành nghề của LĐXK: Hiện nay, XKLĐ của HANIC chủ
yếu là công nhân dệt may (chiếm số lượng lớn nhất), sau đó đến điện dân
dụng, lao động phục vụ khách sạn và giúp việc gia đình và xây dựng. Số
lượng và chất lượng LĐXK của công ty cũng tăng lên theo từng năm.
Về số lượng, cơ cấu và thị trường xuất khẩu lao động: Trong những năm
qua HANIC đã khai thác hiệu quả những thị trường truyền thống như: Đài
Loan, Malaysia, Cộng hòa Síp, Macao, kết quả cụ thể của từng thị trường
được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động XKLĐ phân theo thị trường
Thị trường Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Số LĐ
(người)
Doanh thu
(đồng)

hấp dẫn có tính ổn định cao. Bên cạnh việc tìm kiếm và đầu tư vào các thị
trường mới là Macao, Công ty vẫn luôn chú trọng việc củng cố và khai thác
có hiệu quả các thị trường truyền thống như là Malaysia, Đài Loan và Cộng
hòa Síp.
Ngoài các thành tựu nói trên thì hoạt động xuất khẩu lao động của HANIC
còn có nhiều hạn chế, đó là những khó khăn mà hoạt động này gặp phải:
Một là, hoạt động XKLĐ của công ty còn gặp nhiều khó khăn do đây là
một lĩnh vực kinh doanh mới, công ty chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh
vực này, nguồn nhân lực có trình độ còn thấp, chưa đáp ứng được những yêu
cầu của XKLĐ như: thiếu kiến thức, kinh nghiệm, trình độ ngoại ngữ chưa
cao dẫn đến tình trạng gặp khó khăn trong đàm phán ký kết hợp đồng với đối
tác nước ngoài.
Hai là rủi ro từ phía đối tác: Có trường hợp đối tác khó khăn về vốn,
thiếu việc làm, chậm trả lương cho người lao động, thiếu am hiểu hoặc không
21
tuân thủ luật pháp, ỷ thế " ông chủ" để gây sức ép trong việc thực hiện hợp
đồng lao động, làm khó dễ cho người lao động Điều này đã dẫn đến việc
bên cung ứng lao động phải tốn kém rất nhiều để giải quyết các vụ việc đó.
Ba là, rủi ro từ phía NLĐ: Thực tế cho thấy bên cung ứng lao động đã
từng bị thất thu nặng nề do một bộ phận không nhỏ lao động ra nước ngoài
làm việc không thực hiện đúng thoả thuận và cam kết, đã tự ý bỏ hợp đồng
trước thời hạn, tìm nơi làm việc cho chủ khác. Bên cung ứng lao động vừa bị
đối tác phạt tiền, vừa mất đi khoản phí dịch vụ được thu theo quy định của
Nhà nước.
Đặc biệt hiện nay một số lao động Việt Nam bỏ trốn ra ngoài làm việc
tại các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan,… làm ảnh hưởng tới uy tín của lao
động Việt Nam nói chung và lao động xuất khẩu của HANIC nói riêng.
Bốn là khó khăn trong năng lực tài chính: Công ty có khá nhiều lĩnh vực
kinh doanh như: xây dựng, XKLĐ, bất động sản, XNK thép, nên nguồn
vốn dàn trải, không được tập chung vào một lĩnh vực. Đôi khi gặp khó khăn

tế chính trị trong nước ổn
định.
2. Việt Nam là thành
viên của WTO
3. Đảng và Nhà
nước có chính sách hỗ trợ
phát triển ngành xuất
khẩu lao động
4. Khủng hoảng
kinh tế năm 2008 đã có
dấu hiệu phục hồi. Thị
trường lao động các nước
ấm dần lên
Chiến lược (O/S)
1. Thâm nhập sâu hơn
vào thị trường hiện tại,
thị trường mới.
2. Mở rộng thị trường
bằng việc cung cấp
nguồn lao động có chất
lượng cao.
3.Tận dụng mọi nguồn
lực hiện có để xuất khẩu
Chiến lược O/W
1. Chiến lược phát triển
sâu hơn vào thị trường đã
có.
2. Nâng cao chất lượng
công tác Marketing nhằm
nâng cao khả năng cạnh

- Tận dụng được ưu thế đã có từ lâu để duy trì mối quan hệ đồng thời có
điều kiện tăng số lượng lao động xuất khẩu từ thị trường này.
- Giữ vị trí vững mạnh trên khu vực thị trường truyền thống, tạo được vị
thế vững chắc nhờ hiểu biết rõ nhu cầu và mong muốn của bên đối tác.
- Những đối thủ tiềm ẩn gặp khó khăn là phải vượt qua lòng trung thành
của đối tác mà công ty xây dựng được.
Nhược điểm:
-Thị trường doanh nghiệp chỉ là những thị trường truyền thống
- Rủi ro khi nhu cầu từ thị trường giảm sút hoặc khi đối tác có nhiều lựa
chọn gây sức lớn cho doanh nghiệp cả về lương, lẫn chất lượng lao động,
công ty khó có khả năng thay đổi tình thế hoặc khi đó đối thủ cạnh tranh lớn
hơn thâm nhập sâu vào thị trường đó.
- Cần phải có các biện pháp Marketing mạnh và chuyên nghiệp, có đội
ngũ lao động đáp ứng yêu cầu chuyên môn, khả năng ngoại ngữ, trình độ kỹ
thuật của người lao động… mới có thể phát triển sâu hơn vào thị trường này.
* Nếu công ty thu hẹp thị trường
Ưu điểm:
- Hạn chế rủi ro trong kinh doanh cao
24
- Có điều kiện nghiên cứu kỹ những biến động phức tạp của thị trường,
có điều kiện tập trung mọi nguồn lực đào tạo nguồn lực đáp ứng nhu cầu thị
trường.
- Công ty có thể cạnh tranh với các đối thủ vị họ cung cấp chất lượng và
dịch vụ tốt hơn mà các đối thủ có thể không có.
Nhược điểm:
- Ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của công ty
- Mất đi nhiều bạn hàng quen thuộc mà công ty đã xây dựng từ lâu
- Tập trung vào một đoạn thị trường nhỏ, đặc biệt là đào tạo lao động có
trình độ chuyên môn cao, lao động có tay nghề cao sẽ làm chi phí đào tạo tăng
cao, sẽ làm giảm khả năng lợi nhuận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status