Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Lê Thị Hoàng
Sinh viên lớp : Kinh tế kế hoạch 48B
Khoa : Kế hoạch và phát triển
Sau thời gian thực tập ở Trung tâm Nhật Bản thuộc Công ty cổ phần phát triển
nguồn nhân lực LOD, dưới sự hướng dẫn của PGS. Tiến sĩ Phan Thị Nhiệm, tôi đã
lựa chọn đề tài “Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu lao động của công ty
cổ phần phát triển nguồn nhân lực LOD sau khủng hoảng 2008” để làm chuyên
đề thực tập của mình. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập,
không hề có sự sao chép của bất cứ ai khác, mọi thông tin, tài liệu mang tính chất
tham khảo đều được nghi rõ nguồn ngốc.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà trường và Khoa!
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Sinh viên
Lê Thị Hoàng
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
1 CP Cổ phần
2 XKLĐ Xuất khẩu lao động
3 NKLĐ Nhập khẩu lao động
4 KT - XH Kinh tế - xã hội
5 VNĐ Việt Nam đồng
6 XHCN Xã hội chủ nghĩa
7 NĐ - CP Nghị định chính phủ
8 HĐBT Hội đồng bộ trưởng
nặng dư âm của cuộc khủng hoảng 2008.
Xuất phát từ chủ trương đó, Chính phủ đã có những đánh giá đúng tầm quan trọng
của công tác xuất khẩu lao động (XKLĐ) trong vấn đề giải quyết việc làm, từ đó
đã có những định hướng
đúng
đắn:"Đẩy
mạnh dịch vụ XKLĐ và các dịch vụ thu
ngoại tệ khác với sự tham gia của các thành phần
kinh
t
ế".
Thực tiễn một vài năm
gần đây lĩnh vực XKLĐ đã góp phần đáng kể trong vấn đề giải quyết việc làm
cho một bộ phận không nhỏ lao động, tạo sự ổn định cho xã hội, mặt khác mang
lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia, tăng thu nhập cho người lao động và gia
đình họ, XKLĐ đã đứng vào hàng " Câu lạc bộ những mũi nhọn xuất khẩu đạt
kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỉ USD/năm
trở lên".
Giải quyết việc làm được coi như là một mục tiêu trọng điểm của quốc gia. XKLĐ
góp phần thực hiện mục tiêu đó, hơn nữa nó mang lại nhiều lợi ích không chỉ là khía
cạnh kinh tế mà còn là chính trị, xã hội. Ý nghĩa thiết thực đó đòi hỏi cấp quản lý
phải đưa ra một hướng đi mới cho XKLĐ ở Việt Nam, đặc biệt là thời kỳ này – thời
kỳ còn mang nặng dư âm của cuộc khủng hoảng 2008.
Đứng góc độ doanh nghiệp: Đã có thời kỳ hoàng kim của XKLĐ, người người đi
xuất khẩu lao động. Khoản lợi nhuận lớn đã khích lệ nhiều doanh nghiệp gia nhập
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ngành. LOD đã khai thác mảng XKLĐ – coi nó là một lĩnh vực kinh doanh chính từ
Phương pháp nghiên cứu của khoá luận được tổng hợp từ nhiều
phương
pháp
khác nhau như: Phương pháp tổng hợp và phân tích; Phương pháp thống kê và so
sánh...kết hợp nghiên cứu lý luận với
phân tích thực tiễn.
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đây là một đề tài khó viết và tương đối mới mẻ. Trong quá trình tìm hiểu, xây
dựng đề tài em đã gặp không ít khó khăn, nhưng với sự giúp đỡ nhiệt tình của
giảng viên: PGS.TS.Phan Thị Nhiệm, cùng với các anh chị ở
phòng tài chính tổng
hợp – Trung tâm Nhật Bản thuộc công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực LOD
,
cũng như qua quá trình tìm tòi các tài liệu phục vụ cho chuyên đề, em đã xây dựng
nên một chuyên đề hoàn chỉnh. Tuy nhiên, với thời gian, trình độ còn hạn chế và
kinh nghiệm thực tế chưa nhiều, em mong có sự góp ý của các thầy cô giáo về
những thiếu sót em mắc phải.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 4 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Hoàng
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ
TÍNH TẤT YẾU CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.1. Một số lý luận chung về xuất khẩu lao động.
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của xuất khẩu lao động
a) Khái niệm của xuất khẩu lao động
chí dưới 10 tuổi ) đã tham gia lao động, đã đảm nhận một số những công việc có tính
chất sản xuất ở mức độ thời gian lao động khác nhau nên những người dưới độ tuổi
lao động thực tế có tham gia lao động hiệ nay khó xác định về phạm vi. Tuy nhiên để
thống nhất với các số liệu thống kê được công bố thì ở nhóm này chỉ tính những
người có độ tuổi 13 – 15.
- Thị trường lao động
Thị trường lao động là một lĩnh vực riêng của nền kinh tế mà ở đó có diễn ra quá
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trình mua bán, trao đổi, thuê mướn sức lao động. Ở nơi nào có nhu cầu sử dụng lao
động và có nguồn cung cấp lao động thì ở đó sẽ hình thành thị trường lao động.
Khi cung và cầu lao động xảy ra trong phạm vi biên giới một quốc gia thì gọi là thị
trường lao động nội địa. Khi cung và cầu lao động nảy sinh ngoài biên giới một quốc
gia thì có thị trường lao động quốc tế.
Thị trường lao động là một thị trường đặc biệt nó có những đặc điểm sau:
- Hàng hóa trên thị trường lao động là sức lao động (loại hàng hóa đặc biệt) vô
hình, khó cân đo đong đếm được và bị ảnh hưởng bởi yếu tố văn hóa, tâm lý, tình
cảm của con người trong quá trình lao động.
- Giá cả của sức lao động và tiền lương (V), là một phần giá trị trong giá trị của
hàng hóa ( C + V + M), là phần tiền mà người lao động nhận được nhằm tái tạo sức
lao động của chính họ và chu cấp cho gia đình họ.
- Hàng hóa sức lao động cũng tuân theo quy luật cung cầu, cạnh tranh trên thị
trường.
Thị trường lao động quốc tế có các đặc điểm của thị trường lao động nói chung
trên, tuy nhiên cũng có một số đặc điểm riêng biệt:
- Thị trường lao động quốc tế xuất hiện là do quá trình quốc tế hóa đời sống
kinh tế thế giới và nảy sinh cung cầu lao động vượt ra khỏi biên giới quốc gia
- Thị trường lao động quốc tế rất phức tạp: nó có sự tác động của các yếu tố văn
hóa, ngôn ngữ, tín ngưỡng, trình độ công nghệ, pháp luật của các quốc gia khác nhau.
với những nước chậm phát triển và đang phát triển, XKLĐ có xu hướng gửi lao động
phổ thông, lao động tay nghề bậc trung để thu tiền công, tăng thu nhập, tích lũy ngoại
tệ và giảm bớt sức ép về nhu cầu việc làm trong nước.
b) Đặc điểm của xuất khẩu lao động
- Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đối ngoại
Đối với nhiều nước trên thế giới, hoạt động XKLĐ là một trong những giải pháp
quan trọng thu hút lực lượng lao động đang tăng hoặc dư thừa ra nước ngaoif làm
việc và thu ngoại tệ bằng cách chuyển tiền về nước của người lao động và các lợi ích
khác. Những lợi ích này buộ các nước xuất khẩu phải chiếm lĩnh ở mức cao nhất thị
trường ở nước ngoài, mà việc chiếm lĩnh thị trường này lại dựa trên cơ sở cung cầu
sức lao động và nó cũng chịu sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường.
Mặt khác, XKLĐ là một hoạt động kinh tế đối ngoại đặc thù, XKLĐ là một hoạt
động tất yếu khách quan của quá trình chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế giữa các
nước trong sản xuất, phù hợp với quy luậ phân công lao động quốc tế, góp phần đưa
Việt Nam hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
- Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hòa giữa Nhà nước và các doanh nghiệp
xuất khẩu lao động
XKLĐ là sự kết hợp hài hòa giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động
và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động xuất khẩu lao
động. Ngày nay trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế thì hầu hết toàn bộ các
hoạt động XKLĐ từ khâu tổ chức đưa người đi đến khâu quản lý người lao động và
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thực chịu trách nhiệm về hiệu quả trong toàn bộ hoạt động của mình trên cơ sở tuân
thủ các quy định của pháp luật. Do vây, các hiệp định, các thỏa thuận song phương
giữa các quốc gia chỉ có tính chất nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm của Nhà
nước ở tầm vĩ mô.
- Xuất khẩu lao động thể hiện rõ tính nhân văn
Đây là một đặc điểm có ý nghĩa lớn nhất của hoạt động XKLĐ. Vì XKLĐ thực
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chấp nhận các điều kiện do các nước NKLĐ đưa ra như số lượng lao động, mức tiền
công, tiền lương, ngành nghề tuyển dụng, điều kiện làm việc…nước ta mới gia nhập
thị trường lao động quốc tế, do vậy hoạt động XKLĐ của Việt Nam cũng phải hoạt
động trong môi trường chịu sự tác động của cơ chế đó.
- Xuất khẩu lao động là một lĩnh vực xuất khẩu đặc biệt
Trước hết ta thấy thị trường lao động là một thị trường đặc biệt, đặc trưng cơ bản
của hoạt động xuất khẩu lao động khác so với xuất khẩu các loại hàng hóa khác xuất
phát từ tính đặc thù của loại hàng hóa này. Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt
vì con người là chủ thể lao động, có tư duy và khả năng làm chủ bản thân. Cho nên,
trong Hiệp định hay hợp đồng ký kết, ngoài các điều khoản thông thường còn có các
điều khoản đề cập đến đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần, sinh hoạt của người lao
động. Những điều này bị chi phối bởi phong tục, tập quán, tôn giáo, văn hóa của các
quốc gia vào lĩnh vực này.
XKLĐ phù hợp với điều kiện kinh tế của mỗi nước, là hướng dẫn sử dụng lao
động có hiệu quả, tận dụng được lợi thế so sánh của cả nước xuất khẩu và nhập khẩu
lao động
XKLĐ ở Việt Nam là một hoạt động được sự chỉ đạo thống nhất của Nhà nước,
Nhà nước đã ban hành một hệ thống luật và các băn bản dưới luật để điều chỉnh các
mối quan hệ phát sinh xung quanh vấn đề XKLĐ, cho phép các tổ chức thực hiện
XKLĐ trên cơ sở tuân thủ hệ thống luật và các văn bản pháp quy đó.
Chính vì thế, XKLĐ là một hoạt động xuất khẩu đặc biệt.
1.1.2. Tính tất yếu của xuất khẩu lao động
Trong tác phẩm “Phép biện chứng tự nhiên” F. Ăng ghen viết: “Con người
sống lan rộng ra tất cả những nơi nào có thể được và người là một loại động vật duy
nhất làm được điều đó một cách độc lập, tự chủ”. Ngay từ buổi bình minh của loài
người đã xuất hiện sự di chuyển nguồn lao động đến những miền đất tốt đẹp hơn.
Như vậy sự di cư lao động quốc tế thể hiện tính tất yếu và tác dụng tiến bộ của lịch
sử. Cuối thế kỷ 19 do các mỏ khoáng sản ở Nam Phi thiếu nhiều lao động nên đã xuất
hiện các luồng di dân chuyển tới đó. Ngày nay, cũng chính sự phân bố không đều về
các cán bộ kỹ thuật trình độ cao.
Trình độ phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật – công nghệ của mỗi quốc gia
không thể giải quyết hết sự mất cân bằng này, đòi hỏi phải có sự trao đổi lao động
với các quốc gia khác. Hành vi trao đổi này dẫn đến việc xuất khẩu lao động.
Thứ ba: Do có sự chênh lệch giá cả sức lao động trong nước và sức lao động nước
ngoài. Nhiều nước mặc dù không dư thừa lao động cũng tiến hành xuất khẩu lao
động vì có lợi cho cán cân thanh toán do họ có được những hợp đồng xuất khẩu lao
động với giá cao và bù lại học nhập khẩu sức lao động từ những nước có giá cả thấp
hơn. Điều này lý giải tại sao nhiều nước vừa nhập khẩu lại vừa xuất khẩu lao động
như Cu Ba, Malaysia, Bungari…( Thực chất là các nước tận dụng lợi thế so sánh của
mình).
Thứ tư: do có sự chênh lệch về mức thu nhập và mức sống giữa người lao động
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong nước và người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Vì lý do này mà nhiều
người dù không thuộc đội quân thất nghiệp nhưng vẫn muốn đi xuất khẩu lao động
để tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống bản thân và gia đình.
Thứ năm: Do trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ giữa các quốc gia trên thế
giới không đồng đều, sự khác biệt về nguồn lực phát triển như vốn, công nghệ, sức
lao động…Từ đó đưa tới nhu cầu tất yếu về sự trao đổi ( sự di chuyển) các nguồn lực
này.
Thứ sáu: Do sự chênh lệch về mức tăng dân số tự nhiên giữa các quốc gia và từ đó
đưa tới sự chênh lệch về mức tăng nguồn lao động.
Thứ bảy: Do xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế, lực lượng sản xuất phát triển,
nền sản xuất lớn không thể bó hẹp trong phạm vi biên giới quốc gia mà mở rộng ra
nhiều nước, việc sử dụng lao động mang tính quốc tế phù hợp với sự phân công lao
động quốc tế. Hơn nữa việc tăng cường xuất khẩu công nghệ, bao thầu công trình
quốc tế sẽ tất yếu kèm theo việc phát triển xuất khẩu lao động. Đồng thời việc ra đời
các liên kết kinh tế quốc tế cao cấp như EU, như cộng đồng kinh tế ở các châu lục
khác nhau, hoặc đến làm việc tại các văn phòng đại diện, chi nhánh công ty đặt tại
các nước khác.
- Lao động tự do: Tự tìm việc làm ở nước ngoài, sau một thời gian sẽ trở về đất
nước
b) Phân loại theo trình độ người lao động
- Xuất khẩu chuyên gia cao cấp: Những người này ra nước ngoài làm việc với
vai trò tư vấn, giám sát, giảng dạy, hướng dẫn kỹ thuật hay đào tạo nghề.
- Xuất khẩu thợ lành nghề: Đây là loại lao động đã được đào tạo một nghề nào
đó và khi ra nước ngoài làm việc họ có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải
tiến hành đào tạo nữa.
- Xuất khẩu lao động giản đơn: Là loại lao động chưa được đào tạo một loại
nghề nào cả nên không có nghề hoặc có nghề ở mức thấp.
c) Phân loại theo địa điểm xuất khẩu lao động
- XKLĐ ra nước ngoài làm việc: có nghĩa là lao động được di chuyển ra khỏi
biên giới quốc gia và trực tiếp làm việc tại nước ngoài.
- XKLĐ tại chỗ: Là hình thức cung ứng sức lao động cho các tổ chức kinh tế
nước ngoài hoạt động ở Việt Nam (bao gồm: các xí nghiệp có vồn đầu tư nước ngoài;
các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; các tổ chức cơ quan ngoại
giao của nước ngoài tại Việt Nam)
(Trong phạm vi nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp này không đề cập đến hình thức
xuất khẩu lao động tại chỗ)
1.1.4. Vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt
đối với các nước đang phát triển, kém phát triển. Hoạt động này đem lại lợi ích cho
tất cả các bên tham gia: bên xuất khẩu lao động, bên nhập khẩu lao động và bản
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thân người lao động.
Xét trên góc độ vĩ mô:
USD, chiếm 32%GDP của nước này), nhưng đã chiếm khoảng 3,3% GDP của cả
nước và tương đương với nguồn vốn ODA giải ngân trong năm.
- Về xã hội: Đối với một nước hơn 82 triệu dân, với trên một nửa là số người
trong độ tuổi lao động, nhưng số người thất nghiệp ở thành thị lên đến 5,6% và
số thời gian chưa được sử dụng ở nông thôn lên đến trên 20%, thì xuất khẩu lao
động là một kênh giải quyết việc làm cho người lao động rất có ý nghĩa. Trong
mấy năm gần đây, số lao động đi xuất
khẩu
c
ủ
a nước ta mỗi năm đã lên đến trên
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dưới 70 nghìn người và đến nay đã có khoảng 400 nghìn người Việt Nam đang
làm việc ở khoảng trên 40 nước và vùng lãnh thổ. Song nếu so với Philippines có
cùng số dân và số người trong tuổi lao động như Việt Nam thì kết quả trên còn thấp
hơn rất nhiều. Năm 2004, nước này đã có 1 triệu lao động đi làm việc ở nước ngoài,
đưa Philippines vượt qua Mexico trở thành nước xuất khẩu lao động lớn nhất thế
giới. Cho đến nay, nước này có khoảng 8 triệu lao động làm việc ở 56 nước, đông
nhất là tại Mỹ, ả Rập Saudi, Malayxia, Canada,
Nhật Bản…
Thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động sẽ giảm được tệ nạn xã hội do thất
nghiệp gây ra, tạo một hướng lao động tích cực cho người lao động, học tập được
phong cách lao động mới do tổ chức lao động ở nước ngoài trang bị...
- Về quan hệ đối ngoại: Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác trong lĩnh vực xuất
khẩu lao động là vô cùng quan trọng, từ đó quan hệ giữa nước cung ứng lao động
và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn, hiểu nhau hơn, tao ra mối quan hệ
tốt đẹp giữa hai nước. Cung cấp cho nhau những thông tin quan trọng
về
ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên một vấn đề bức xúc đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay đó là tình trạng
ngày càng có nhiều lao động không thực hiện hợp đồng đã ký.Việc này có thể
gây ảnh hưởng lớn đối với uy tín c
ủ
a
doanh
nghiệp cũng như sự ổn định trên thị
trường hiện tại và tiềm năng.
• Với bản thân người lao động:
- Người đi xuất khẩu lao động có điều kiện giúp gia đình thoát khỏi đói nghèo
cải thiện mức sống của bản thân và gia đình.
- Người lao động có thể tiếp thu kỹ năng làm việc, quản lý, tích luỹ trình độ tay
nghề và kinh nghiệm thực tiễn để tự tạo việc làm sau khi về nước.
1.1.5.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động:
Hiệu quả là chỉ tiêu so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt
được hiệu quả đó ( Hiệu quả = kết quả - chi phí ). Có hai loại hiệu quả là hiệu quả
kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế là hiệu quả đạt được về mặt kinh tế,
còn hiệu quả xã hội là hiệu quả đạt được về mặt xã hội. Đây là khái niệm chung
để đánh giá hiệu quả, tuy nhiên khi đi vào từng lĩnh vực cụ thể thì việc đánh giá
hiệu quả không đơn giản chút nào, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu lao động
này. Bởi vì để có thể đánh giá chính xác,
đầy
đủ
và đúng hiệu quả kinh tế xã hội ở
từng thị trường cụ thể thì chúng ta cần phải đánh giá toàn bộ, toàn diện một cách
tổng hợp những kết quả đạt được và chi phí bỏ ra trong quá trình hoạt động đó,
đồng thời, phải xem xét hiệu quả của nó trên cơ sở lợi ích chung của toàn bộ nền
: Số lao động được đưa sang hoạt động trong năm
Ln: Số lao lao động. Nó chỉ ra được những đóng góp của lĩnh vực này đối với
việc tạo công ăn việc làm cho xã hội mà nhà nước ta đã không phải bỏ vốn đầu tư
để tạo việc làm mới, giải quyết một phần tình trạng ứ đọng lao động của đất nước
( mặc dù trước khi đi xuất khẩu lao động những người lao động này không phải
tất cả đều thuộc diện thất nghiệp).
b) Thu nhập quốc dân về ngoại tệ thông qua hoạt động xuất khẩu lao
động:
Công thức tính:
P = ∑ Yj ( j = 1 đến n )
Yj = Xij .
Kj
Trong đó:
P : Mức thu của nhà nước
Y: Mức thu của nhà nước ở mỗi thị trường
n : Số thị trường đưa lao động sang
j : Nước đưa lao động sang
K : Tỷ số hối đoái quy đổi ra ngoại tệ quy ước
X : Thuế thu nhập mỗi người phải đóng
Ý ng hĩ a c h ỉ
tiêu:
Chỉ tiêu này cho biết số tiền nhà nước thu được thông qua xuất khẩu lao động.
Vấn đề ngoại t
ệ
(nhấ
t là ngoại tệ mạnh) đối với Việt Nam có ý nghĩa to lớn. Tất
cả các hoạt động có thể đem về ngoại tệ cho đất nước cần được khuyến khích. “
Cùng với việc xuất khẩu hàng hoá cần hết sức coi trọng, tạo điều kiện thuận lợi
G = ∑ Hj ( j = 1 đến n )
Hj = ∑ h
ij
. N
j
Trong đó:
G : Giá trị hàng hoá do người lao động đem về
H : Giá trị hàng hoá do người lao động ở mỗi thị trường đem về h : Giá
trị hàng
hoá
trung
bình của một người lao động đem về N : Số người gửi
hàng hoá về trong năm
i : Biến số người
j : Biến số thị trường
Ý nghĩ a ch ỉ
tiêu:
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cho biết lượng hàng hoá do người lao động đem về góp phần vào việc cân đối
quỹ hàng hoá trong nước và cải thiện đời sống gia đình, tăng thêm máy móc thiết
bị làm tư liệu sản xuất.
e) Thu nhập do lao động đi làm việc ở nước ngoài bổ sung vào thu
nhập quốc
dân:
Công thức tính:
Q = ∑ (Pj + Vij) . k
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bạn do người lao động tự ý bỏ hợp đồng...
Chi phí về mặt xã hội có ý kiến cho rằng còn có những tiêu cực do lao động
gây ra ở
nướ
c ngoài. Song những cái đó là yếu tố chủ quan có thể khắc phục
được nếu có biện pháp và chính sách
thích
hợp.
1.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng tới xuất khẩu lao động
a) Các yếu tố thuộc về nước nhập khẩu lao động
- Phong tục tập quán của nước nhập khẩu lao động (NKLĐ): Mỗi một quốc
gia, lánh thổ, khu vực hay thậm chí các vùng trong một quốc gia đều có những phong
tục tập quán khác nhau. Yếu tố này của nước NKLĐ có ảnh hưởng mạnh tới cuộc
sống hàng ngày của người lao động trong quá trình sinh sống và làm việc ở nước
ngoài. Vì vậy khi đến làm việc tại nước ngoài người lao động phải thích nghi và làm
quen với những phong tục, tập quán ở đó. Nếu có sự khác biệt quá lớn về phong tục,
tập quán sẽ khó khăn cho người lao động và đôi khi có thể gây ra mâu thuẫn giữa
người lao động và chủ sử dụng lao động.
- Luật pháp của nước NKLĐ: Mỗi quốc gia có một hệ thống luật pháp khác
nhau. Các doanh nghiệp trước khi đàm phán ký kết hợp đồng cần tìm hiểu kỹ luật
pháp của nước NKLĐ, cũng như cung cấp cho người lao động những thông tin về
các vấn đề liên quan đến họ trong thời gian làm việc ở nước ngoài và giáo dục học ý
thức tuân thủ luật pháp để tránh những vi phạm đáng tiếc có thể xẩy ra.
- Chủ sử dụng lao động: Cốt lõi thành công khi ký hợp đồng cung ứng lao động
với bên nước ngoài là phải tìm hiều, xem xét thật kỹ phía chủ sử dụng lao
động. Nếu không tìm hiểu kỹ, có những đối tác khó khăn về vốn, không đảm
bảo việc làm cho người lao động, chậm trả lương cho người lao động…, các
doanh nghiệp sẽ phải điện, fax hoặc bay sang tận nơi để giải quyết.
mặt chính trị, tôn giáo thì không thể có sự di chuyển sức lao động giữa các quốc gia
này vì sức lao động gắn liền với con người cụ thể, có ý chí, suy nghĩ và hoạt động vì
lợi ích của quốc gia mình một cách chủ động hoặc bị động.
- Các yếu tố không thường xuyên và bất khả kháng khác: Chiến tranh xung đột
giữa các nước, khu vực hoặc lãnh thổ trên thế giới; cuộc khủng hoảng tài chính châu
Á; dịch bệnh viêm đường hô hấp (SARS) trong khu vực và thế giới…Các yếu tố trên
đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp
nước ta cũng như các nước.
1.1.7. Nội dung của xuất khẩu lao động
a) Tìm kiếm, khai thác thị trường
- Đối với thị trường cung ứng lao động trong nước
Do tỷ lệ dân số trong đọ tuổi lao động của nước ta là rất lớn, nhu cầu tìm kiếm việc
làm rất cao nhưng không phải đỗi tượng nào muốn đi xuất khẩu lao động là có thể đi
dễ dàng được. Một người muốn đi xuất khẩu lao động được thì trước tiên phải đủ
điểu kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi, có sức khỏe tốt và phải có món
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tiền khá lớn từ 500 – 4000 USD tùy theo từng thị trường lao động nước ngoài. Với
mức chi phí ban đầu lớn như vậy thị người lao động muốn đi xuất khẩu lao động cần
phải có vốn, tài sản khá lớn. Trên thực tế phần đông các đối tượng đi xuất khẩu lao
động đều thuôc diện ở thành thị hay người có kinh tế khá giả ở nông thôn, tuy nhiên
có một số người nghèo đã vay mượn tiền để đi nhưng con số này không lớn bởi việc
vay mượn không dễ dạng. Chính phủ đã có các quy định, hướng dẫn bằng các văn
bản về vấn đề này.
- Đối với thị trường nước ngoài tiếp nhận lao động
Thiết lập quan hệ Nhà nước với các nước có nhu cầu sử dụng lao động: Nhà nước
đóng vai trò quyết định cho sự ổn định và phát triển Xuất khẩu lao động. Ngoài chức
năng xác định chủ trương, định hướng chiến lược…để hỗ trợ cho xuất khẩu lao động
phát triển, Chính phủ còn có vai trò hết sức to lớn trong phát triển thị trường lao động
không? Có hạn chế gì không? Luật lao động nước đó có quy định như thế nào
đối với người lao động như giờ làm việc, nghỉ ngơi, lương tối thiểu, tiền công
làm thêm giờ, bảo hiểm y tế…
- Tìm hiểu tư cách pháp nhân, năng lực tài chính của đối tác. Nếu XKLĐ cho
dự án, công trình thì tìm hiểu dự án, công trình có khả thi hay không? Khả
năng thực hiện đến đâu?
- Mức sống dân cư, giá sinh hoạt như giá thực phẩm, ăn ở đi lại, giá thuê lao
động nước ngoài tại thời điểm đó.
Thứ hai: Các vấn đề cụ thể trong hợp đồng:
- Mức yêu cầu về chất lượng lao động ta có khả năng đáp ứng được không?
- Tiền lương đưa ra là lương ròng hay gồm tiến ăn, ở, tiền thưởng, tiền làm
thêm giờ?
- Chi phí vé máy bay đi, về, thuế của nước sở tại; Bảo hiểm xã hội ai chịu?
( thường thì người sử dụng lao động chịu và không tính vào lương).
- Thời gian bố trí, sắp xếp điều kiện ăn, ở, sinh hoạt của người lao động.
- Vấn đề thanh toán tiền lương, chuyển tiền về nước.
Tổ chức Xuất khẩu lao động sau khi đàm phán, ký kết được hợp đồng cung ứng lao
động đối với đối tác nước ngoài tiến hành làm thủ tục đề nghị Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội cấp giấy phép thực hiện hợp đồng.
Để hoàn thành tốt trách nhiệm quy định trong hợp đồng, đảm bảo lợi ích của nhà
nước, doanh nghiệp và người lao động, đồng thời giữ và tăng cường uy tín của lao
động Việt Nam nhằm duy trì và phát triển thị trường thì trong quá trình thực hiện hợp
đồng các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cần phải chú ý và coi trọng công tác tuyển
chọn, đào tạo, giáo dục người lao động trước khi đi, công tác quản lý lao động ở
nước ngoài.
c) Công tác tuyển chọn, đào tạo, giáo dục, huấn luyện người lao động trước
khi đi thi
• Công tác tuyển chọn
Tiêu chuẩn tuyển chọn lao động thường phải bảo đảm như sau:
SVTH: Lê Thị Hoàng Lớp: Kế hoạch 48B