Chiến lược mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần thiết bị điện tam kim - Pdf 12

Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trước cuộc cách mạng thông tin lợi thế cạnh tranh chủ yếu đến từ
nguồn nguyên liệu và lao động rẻ. Điều này không còn phù hợp nữa. Ngày
nay giá trị sản phẩm hoặc một dịch vụ của công ty bắt nguồn từ những hoạt
động dựa vào những kiến thức : thiết kế, lợi thế kỹ thuật cao, dịch vụ khách
hàng cao, hay hậu cần… Tất cả những điều đó được thể hiện rõ trong chiến
lược của công ty. Vì vậy một công ty hay doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển thì phải có những chiến lược phát triển phù hợp với năng lực của
công ty (doanh nghiệp), đồng thời cần phải xem xét đến các điều kiện môi
trường tác động để đưa ra một chiến lược có hiệu quả.
Chiến lược có vai trò quan trọng trong một tổ chức. Việc đưa ra một
chiến lược có hiệu quả tức là chiến lược đó đã tạo được lợi thế cạnh tranh
bền vững so với các đối thủ trên thị trường về chất lượng sản phẩm, dịch
vụ, phục vụ khách hàng …
Sau khi thành lập được gần 10 năm công ty cổ phần thiết bị điện
Tam Kim đã có được cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cùng với đội
ngũ công nhân lành nghề, các sản phẩm của công ty được nhiều khách
hàng biết đến, doanh thu của công ty cũng dần tăng lên.
Mục tiêu đặt cho công ty là trở thành một công ty hàng đầu của Việt
Nam trong việc phân phối sản phẩm thiết bị điện. Để thực hiện được mục
tiêu này thì công ty không chỉ khai thác hiệu quả thị trường hiện tại mà
phải tìm cho mình chỗ đứng vững chắc trên các đoạn thị trường khác mà
công ty có tiềm lực
Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần thiết bị điện Tam Kim em
thấy thị trường tiêu thụ sản phẩm là Miền Bắc, Miền Nam và Miền Trung,
sản phẩm mà công ty chủ yếu cung cấp thuộc thị trường trung cấp. Sự cung
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
1
1
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp

Các công ty lớn hiện nay càng cần có kế hoạch để phát triển, không
ai đi thuê một CEO chỉ biết điều hành bằng đối phó và xoay sở. Thế giới
ngày nay đã chuyển từ đối phó, xoay sở sang kế hoạch. Mọi thứ cần được
tính toán, cân nhắc sang kế hoạch. Từ đó chiến lược ra đời.
Hiện nay hình thành rất nhiều khái niệm về chiến lược. Đồng thời có
những điểm tương đồng, có những điểm khác nhau trong từng khái niệm.
Theo Mac Kinsey (1978): “chiến lược là một chuỗi các hoạt động được
thiết kế nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững”
Theo Kenichi Ohmae : “Mục đích của chiến lược là chiến thắng trong quá
trình cạnh tranh… Nhưng trước khi bạn thử sức với cạnh tranh thì chiến
lược đã định hình trong quyết định tạo ra giá trị cho khách hàng.”
Cái nhìn chiến lược của Kenichi Ohmae có tính thuyết phục vì đơn
giản và rõ ràng và chỉ ra cách cạnh tranh để cạnh tranh thắng lợi là trước
hết phải làm cho khách hàng hài lòng. Nhưng khía niệm này lại lồng ghép
chiến lược trong những mục tiêu của chiến lược.
Theo Adrian Slywotsky và David Morrison : “Cấu trúc cạnh tranh
của công ty gồm bốn yếu tố: lựa chọn khách hàng (mục tiêu), nắm bắt giá
trị (giữ vững lợi nhuận), kiểm soát chiến lược (sự khác biệt hoá), và phạm
vi. Chiến lược tốt bao gồm việc tạo ra cấu trúc kinh doanh đúng và tái cấu
trúc mô hình đó(cứ mỗi 3-5 năm một lần) để chiến lược tiếp tục hỗ trợ công
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
3
3
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
ty thành công.” Ở đây Adrian Slywotsky và David Morrison đã đưa ra bốn
yếu tố quan trọng của cấu trúc kinh doanh, và thêm rằng để giữ được hiệu
quả của chiến lược thì cần phải tái cấu trúc theo định kỳ. Tuy nhiên trên
thực tế thì tuỳ vào từng ngành cụ thể mà có thời gian tái cấu trúc khác nhau
như: ngành công nghệ kỹ thuật thay đổi nhanh chóng nếu đợi đến 3-5 năm
thì công nghệ đã trở thành lạc hậu.

lược của mình. Phần hai định nghĩa một nhóm các quyết định nghĩa là gì
nhưng lại không nói làm thế nào để thay đổi định nghĩa này khi công ty
không có lợi thế cạnh tranh, điều mà nhiều công ty thường không có.
Theo Deependra Moitra : “Chiến lược chính là sự độc đáo và việc
làm khác biệt khả năng cạnh tranh để đạt được lợi thế đòn bẩy trong thị
trường.” Khái niệm của ông đã nêu lên tính hấp dẫn của chiến lược. Ông
nói rằng “đa số các khái niệm về chiến lược cao bằng chiến lược với hoạch
định. Điều này hoàn toàn không đúng. Mặc dù hoạch định là cầm thiết để
thực hiện bất kỳ dự án nào nhưng bạn cần biết chiến lược chỉ khi bạn có
các đối thủ cạnh tranh và cần có các công cụ làm khác biệt khả năng cạnh
tranh. Chiến lược cũng thuộc về tính độc đáo nhất là khi bạn muốn xác
định vị trí và làm cho chiến lược mang tính độc đáo trong môi trường cạnh
tranh. Đây là cũng là định nghĩa duy nhất nói về lợi thế đòn bẩy mà Moitra
nhấn mạnh là thiết yếu vì:
“Lợi thế cạnh tranh không kéo dài trong tương lai”
Theo Cornelis A. de Kluyver : “Chiến lược là định vị một tổ chức để
được lợi thế cạnh tranh bền vững. Nó liên quan đến những lựa chọn những
nghành công nghệ để tham gia, những sản phẩm - dịch vụ nào cần được
cung cấp và làm thế nào để phân bổ những nguồn tài nguyên của công ty
để đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững. Mục tiêu chủ yếu là tạo ra giá trị
cổ đông và những người giữ cổ phần khác bằng cách cung cấp giá trị cho
khách hàng.”
“Giá trị - nếu không được duy trì, nuôi dưỡng, cải tiến không
ngừng - sẽ hao mòn theo thời gian”
Theo khái niệm của Cornelis A. de Kluyver thì:
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
5
5
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
- Định vị tổ chức để có được lợi thế cạnh tranh bền vững,

Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
- Chiến lược cạnh tranh: Để hoạt động kinh doanh có hiệu
quả tạo ra nhiều giá trị cho nhân viên và cổ đông thì công
ty cần phải có lợi thế cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh.
Làm thế nào để tạo ra lợi thế cạnh tranh và duy trì lợi thế
cạnh tranh mà mình có.
- Chiến lược theo vị trí: Tuỳ theo vị trí của mình trên thị
trường. Công ty cần có chiến lược thích hợp để bảo vệ, duy
trì thách thức ở một vị trí cao hơn.
- Chiến lược theo định hướng: Trong một số các ngành hàng
mà công ty đang kinh doanh, từng thời điểm từng nguồn
hàng mà công ty có những định hướng khác nhau: Nắm
thời cơ để phát triển, tạm thời bảo vệ vị trí hay rút lui?
Công ty cần một chiến lược cho từng định hướng.
Chiến lược không phải là bất di bất dịch theo thời gian những thách
thức mới hình thành hoặc do môi trường thay đổi thì công ty phải điều
chỉnh chiến lược để đối phó và thích hợp. Một khi đã quyết định chiến lược
cần được công ty triển khai một cách nhất quán để đảm bảo chiến lược
được triển khai một cách hiệu quả.
1.2 Quyết định chiến lược
Quyết định chiến lược là quyết định ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của công ty, vị thế của nó trong ngành và sự tồn tại lâu dài của công
ty. Quyết định chiến lược khác với các loại chiến lược khác, chủ yếu ở
những hậu quả của nó, những hậu quả này còn quan trọng hơn đối với tổ
chức. Vì điều này, những quyết định chiến lược có khuynh hướng chỉ được
đưa ra sau khi phân tích, thảo luận bàn bạc kỹ lưỡng và thường liên quan
đến nhièu người trong quyết định này. Các quyết định chiến lược thường
được đưa ra trong quá trình hoạch định chiến lược, trong khi các quyết định
điều hành thì không-chỉ được đưa ra sau.
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B

định chiến lược cần phân tích. Ví dụ như so sánh công ty của mình với đối
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
8
8
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
thủ cạnh tranh, đánh giá tính hấp dẫn của ngành, rút ra kết luận về thành
tích tài chính vừa qua của công ty và tình hình tài chính hiện tại xem công
ty có kỹ năng chủ yếu hay không, hoặc quyết định nên chọn giải pháp
chiến lược nào.
Mô hình phân tích chiến lược:
Hình 1. Mô hình phân tích chiến lược
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
Giai đoạn 1 : Phân tích hiện
trạng
Môi trường bên ngoài
Phân tích ngành
Phân tích thị trường
Phân tích các xu hướng
môi trường
Môi trường bên trong
Phân tích tài chính
Phân tích công ty
Giai đoạn 2 : Các phương án
lựa chọn
Các vấn đề chiến lược
Các phương án chiến
lược
Lựa chọn chiến lược
Phân tích các phương án
dựa theo tiêu chuẩn,

Chọn một chiến lược đúng đã khó, quản trị chiến lược để đạt được
kết quả lại càng khó hơn. Bởi vì, những thay đổi về môi trường, về cạnh
tranh, về thị trường xảy ra liên tục không ngừng trong quá trình thực hiện.
Do đó thường đòi hỏi những điều chỉnh nhỏ hoặc lớn đối với những chiến
lược khi thực hiện. Nếu chiến lược đòi hỏi công ty phải thực hiện những gì
mà nó chưa bao giờ làm trước đây, như là làm ra một loại sản phẩm mới,
chuyển qua công nghệ mới, bán cho nhóm khách hàng mới, mở rộng ra một
thị trường mới…v.v.. thì công ty phải học cách làm những điều này, phát
triển hệ thống mới và những kế hoạch huấn luyện mới, kể cả thay đổi mô
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
10
10
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
hình kinh doanh. Tất cả những điều này làm cho việc thực hiện chiến lược
khó khăn và rủi ro hơn.
2.2 Tầm quan trọng của quản trị chiến lược
Quản trị chiến lược rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Tổ chức
của bạn cần phải ứng phó có hiệu quả trước những thách thức nảy sinh,
gồm cả những khó khăn và cơ hội. Ví dụ: công chúng gia tăng kỳ vọng vào
tiêu chuẩn và tính sẵn có của dịch vụ. Đổi lại các tổ chức đang hướng tới
cách thức cung cấp dịch vụ chú trọng vẻ bề ngoài-một sự chuyển đổi cơ
bản từ trọng điểm theo truyền thống là tập trung vào các vấn đề bên trong.
Cùng lúc đó các cơ hội lớn để cải cách có thể xuất hiện từ những tiến bộ về
công nghệ thông tin liên lạc và các nguồn tài chính hỗ trợ sẵn có. Trong rất
nhiều trường hợp, sự ứng phó đối với những khó khăn và cơ hội sẽ:
- Cần có sự quan tâm liên tục của quản trị cao cấp
-
- Ảnh hưởng đến hầu hết hoặc toàn bộ tổ chức
- Có tác động trong dài hạn
- Cần có nguồn lực lớn

vụ công cộng, họ cũng cần phải nhận thức được sự cần
thiết phải sắp xếp lại tổ chức khi phương hướng chiến lược
thay đổi
- Các nhà quản trị cao cấp chiu trách nhiệm xem xét và đánh
giá lại yêu cầu về cung cấp các dịch vụ cơ bản và những
nhà quản trị chịu trách nhiệm tìm kiếm các phương thức để
cung cấp các dịch vụ đó
- Các nhân viên chịu trách nhiệm thực hiện và đánh giá
chiến lược kinh doanh trong tổ chức; họ cần tôn trọng
những đối tác và những người góp vốn kinh doanh chịu
ảnh hưởng của chiến lược đó trong bối cảnh kinh doanh mở
rộng hơn.
Các nguyên tắc thực hiện quản trị chiến lược:
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
12
12
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Vấn đề chiến lược mà tổ chức đang phải đối mặt và những
ứng phó trước các vấn đề này sẽ yêu cầu các kỹ năng trong
quản trị chiến lược-đó là khả năng nhận thức và giải quyết
thành công các vấn đề chiến lược của tổ chức. Trong lĩnh vực
phục vụ công cộng, những vấn đề này bao gồm:
- Giải quyết nhu cầu khách hàng chứ không phải lợi ích của
tổ chức
- Sử dụng tiền có hiệu quả và giá trị lớn hơn
- Cung cấp các dịch vụ đã cải thiện và đổi mới cho công
chúng
- Quá trình xây dựng chính sách do nhiều người cùng thực
hiện
- Gia tăng đối thoại với khách hàng và đối tác

Yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng lớn tới tổ chức, hoạt
động của tổ chức. Thông qua một số các yếu tố như: lãi suất ngân hàng,
giai đoạn chu kỳ của kinh tế, chính sách tài chính & tiền tệ… Mỗi nhân tố
trên có thể là nguy cơ cũng có thể là cơ hội đối với doanh nghiệp. Doanh
nghiệp nên khéo léo trong cách lãnh đạo công ty trong từng thời điểm.
Yếu tố chính phủ và chính trị: các yếu tố chính phủ và chính trị có
ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động
của doanh nghiệp đều phải theo khuôn khổ của pháp luật. Có những chính
sách mà chính phủ ban hành sẽ tạo điều kiện cho những doanh nghiệp
trong nước phát triển (chính sách tăng thuế nhập khẩu), nhưng khi chúng ta
ra nhập WTO thì lại là thách thức với các doanh nghiệp khi chính phủ thực
hiện chính sách mậu dịch tự do.
Yếu tố tự nhiên: Các yếu tố tự nhiên trong chục năm trở lại đây đã
được quan tâm hơn, tuy nhiên vẫn còn tình trạng thải chất thải làm ô nhiễm
môi trường ảnh hưởng tới cuộc sống của mọi người xung quanh đó. Các
vấn đề ô nhiễm môi trường, thiếu năng lượng, lãng phí tài nguyên… khiến
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
14
14
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
cho các doanh nghiệp cần phải thay đổi các quyết định và các hoạt động
liên quan.
Yếu tố xã hội: các yếu tố xã hội như(chuẩn mực đạo đức, quan niệm
sống, kết cấu giới tính…) thường rất khó xác định và hay biến đổi theo thời
gian. Điều này buộc các doanh nghiệp phải dự báo các tác động của nó và
đề ra các chiến lược tương ứng.
Yếu tố công nghệ: các yếu tố công nghệ có ảnh hưởng rất lớn tới sự
phát triển của doanh nghiệp. Ngày nay khi công nghệ ngày càng phát triển
với tốc độ chóng mặt thì các doanh nghiệp phải đối mặt với tình trạng sản
phẩm lạc hậu với năng suất thấp khó có thể cạnh tranh với các sản phẩm

nó. Đôi khi hoàn cảnh nội bộ được gọi là môi trường nội bộ hoặc là môi
trường kiểm soát được
Có thể nói ràng các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường doanh nghiệp
được thể hiện qua mô hình sau:
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
16
16
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Hình 2. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng chiến lược mở rộng kinh doanh
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
17
17
Môi trường vĩ mô
1. Các yếu tố kinh tế
2. Các yếu tố chính phủ và chính trị
3. Các yếu tố xã hội
4. Các yếu tố tự nhiên
5. Các yếu tố công nghệ
Môi trường tác nghiệp
1. Các đối thủ cạnh tranh
2. Khách hàng
3. Người cung ứng nguyên
vật liệu
4. Các đối thủ tiềm ẩn
5. Hàng thay thế
Hoàn cảnh nội bộ
1. Nguồn nhân lực
2. Nghiên cứu và phát
triển
3. Sản xuất

quốc tế hay trong phạm vi hẹp, sự thay đổi của chính sách nhà nước tới các
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
18
18
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
lĩnh vực hoạt động của công ty. Cách hữu hiệu nhất là đặt ra câu hỏi rằng
liệu các ưu thế của mình có tạo ra cơ hội cho mình hay không?
- Threats: những trở ngài đang phải đối mặt? các đối thủ cạnh tranh
đang làm gì? những đòi hỏi đặc thù của công việc, sản phẩm có gì thay đổi
không? Thay đổi công nghệ có nguy cơ gì với công ty hay không? Có vấn
đề gì về nợ quá hạn hay dòng tiền hay không? vậy yếu điểm nào đang đe
doạ công ty
Như vậy phân tích SWOT là phân tích yếu bên ngoài mà doanh
nghiệp đối mặt (các cơ hội và thách thức), cũng như các yếu tố thuộc môi
trường nội bộ (các mặt mạnh và yếu). Đây là việc khó đòi hỏi nhiều thời
gian, công sức,chi phí, khả năng thu nhập, phân tích và xử lý thông tin sao
cho hiệu quả.
Doanh nghiệp xác định cơ hội và nguy cơ thông qua việc phân tích
dữ liệu về thay đổi về các môi trường: kinh tế, tài chính, chính trị, pháp lý,
xã hội và cạnh tranh ở các thị trường nơi mà doanh nghiệp đang hoạt động
hoặc dự định thâm nhập. Các cơ hội có thể bao gồm tiềm năng phát triển
thị trường, khoảng chống thị trường, gần nguồn nguyên liệu hay nguồn
nhân công rẻ và có tay nghề phù hợp. Các nguy cơ với doanh nghiệp có thể
là thị trường bị thu hẹp, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, những thay đổi về
chính sách có thể xảy ra, bất ổn về chính trị ở những thị trường chủ chốt
hay sự phát triển công nghệ mới làm cho các phương tiện và dây chuyền
sản xuất của doanh nghiệp có nguy cơ trở lên lạc hậu.
Với việc phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp, các mặt
mạnh của tổ chức doanh nghiệp có thể là kỹ năng, nguồn lực và các lợi
thế mà doanh nghiệp có được trước các đối thủ cạnh tranh (năng lực chủ

nghiệp cũng như công ty cần phải biết cách đo lường và dự báo mức độ hấp
dẫn của một thị trường nhất định. Việc đòi hỏi tính quy mô chung của thị
trường, mức độ tăng trưởng, khả năng sinh lời và rủi ro. Những nhà
Marketing cần phải nắm vững những phương pháp chính để định lượng
tiềm năng của thị trường và dự báo nhu cầu nhu cầu có khả năng thanh toán
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
20
20
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
trong tương lai. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm nhược điểm nhất
định mà những người làm marketing cần nắm rõ để tránh sai lầm.
Những kết quả lượng định và dự báo về thị trường trở thành mấu
chốt để quyết định phải tập trung vào những phân khúc thị trường chủ yếu
mà công ty có thể phục vụ tốt nhất.
Việc phân khúc thị trường có thể thực hiện theo nhiều cách khác
nhau.
VD: Công ty Atlas giới thiệu thị trường đánh máy chữ được phân khúc
theo hai biến lớn : nhóm khách hàng và nhu cầu khách hàng. Khung chuẩn
này được gọi là lưới sản phẩm/thị trường. Đối với từng ô các nhà
marketing có thể đo lường mức độ hấp dẫn của khúc thị trường và thế
mạnh của công ty. Công ty muốn xác định xem ô sản phẩm/thị trường nào
nếu có phù hợp với mục đích và tài nguyên của công ty.
Thị trường (nhóm khách hàng)
Gia đình Doanh nghiệp
Máy xử lý vản bản
Sản phẩm
Máy đánh chữ điện tử
(Nhu cầu khách hàng)

Hình 3: Lưới sản phẩm\thị trường

C
D
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Mỗi công ty nên đưa ra chiến lược về giá và chất lượng như thế nào
thì cần phải xét đến tiềm lực công ty, đối thủ cạnh tranh. Như vậy công ty
nên lựa chọn sản phẩm ở vị trí nào đó là chiến lược của từng công ty, phụ
thuộc vào tiềm lực của công ty cũng như các yếu tố bên ngoài tác động.
Thông thường không nên chọn vị trí A (chất lượng cao, giá cao) vì
vậy sẽ phải đối chọi với các một số công ty đã đứng chân vững chắc trên
thị trường. Tuy nhiên nếu A làm dịch vụ kém thì công ty nên quyết định
tấn công. Vị trí B(vùng chất lượng cao/giá trung bình) hầu hết các công ty
nên xem xét nghiêm túc. Như vậy họ sẽ “lấp lỗ hổng” trên thị trường đó.
Tuy nhiên họ phải thoả mãn được ba điều. Thứ nhất là công ty đó phải thao
khảo ý kiến của các kỹ sư của họ xem họ có thế sản phẩm nào đạt yêu cầu
tức là sản phẩm chất lượng cao với giá trung bình mà vẫn có lời hay không.
Thứ hai là công ty phải xem có đủ số người muốn mua sản phẩm đó hay
không. Cuối cùng công ty phải có đủ khả năng thuyết phục người mua rằng
chất lượng sản phẩm và dịch vụ của mình tương đương với công ty A hay
không. Bởi nhiều người mua không tin rằng những sản phẩm giá trung bình
lại có chất lượng tốt ngang với những sản phẩm giá cao hơn. Nên cần phải
chi phí khá nhiều cho khuyến mãi.
Một khi công ty đã xác định vị trí sản phẩm của mình thì nên chủ
động phát triển sản phẩm mới, thử nghiệm rồi tung ra thị trường. Nghệ
thuật phát triển sản phẩm mới đòi hỏi phải tổ chức này một cách có hiệu
quả và sử dụng những công cụ khác biệt để ra quyết định để kiểm tra từng
giai đoạn của quá trình đó.
Sau khi tung ra thị trường, chiến lược sản phẩm mới phải điều chỉnh
theo từng giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống của sản phẩm: Giới thiệu
sản phẩm, phát triển, hưng thịnh, suy tàn. Hơn nữa việc lựa chọn chiến
lược còn phụ thuộc vào vai trò của từng công ty là người dẫn đầu thị

24
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Chủng loại
chất lượng
mẫu mã
tính năng
tên nhãn
bao bì kích thước Sản phẩm Phân phối
dịch vụ kênh
bảo hành phạm vi
trả lại địa điểm
dự trữ
vận chuyển

Giá cả Khuyến mãi
Giá quy định kích thích tiêu dùng
Chiết khấu quảng cáo
Bớt giá nhân viên BH
Kỳ hạn thanh toán quan hệ công chúng
Kỳ hạn trả chậm marketing trực tiếpHình 5. Bốn P của marketing mix
Đặng thị Huyền Lớp: Quản lý kinh tế 47B
25
25
Marketing
mix
Thị trường
mục tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status