SKKN Một vài biện pháp “Rèn chữ, giữ vở” cho học sinh lớp 1 - Pdf 26


Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

* *
*
ĐỀ TÀI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NĂM HỌC 2013 – 2014
I. SƠ YẾU LÍ LỊCH
Họ và tên: NGYỄN THỊ HOẠT
Ngày tháng năm sinh: 03 – 07 – 1971
Chức vụ: Giáo viên giảng dạy lớp 1B
Năm vào ngành: 1992
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đỗ Động – Thanh Oai –
Hà Nội
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chuyên ngành: Tiểu học
Khen thưởng: Lao động tien tiến
GV:
Nguyễn Thị Hoạt
1

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tên đề tài: Một vài biện pháp “Rèn chữ, giữ vở” cho học sinh
lớp 1.
I. Lý do chọn đề tài.
Chữ viết là mục tiêu ban đầu, có tầm quan trọng đặc biệt ở bậc Tiểu học.
Nhất là đối với học sinh lớp 1. Tập đọc, học vần giúp học sinh đọc thông. Tập
viết giúp các em viết thạo. Đọc thông và viết thạo có quan hệ mật thiết với nhau.
Chính vì vậy chữ viết đẹp của học sinh được mọi người trong và ngoài ngành

thức. Văn hoá ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Để hoà nhập
với thời đại mới học sinh ngày một nâng cao. Vậy mỗi giáo viên phải có một
trình độ nhất định, nên việc giáo dục học sinh cũng như việc “Rèn chữ, giữ vở”
cho học sinh trong nhà trường đang là vấn đề cấp bách mà chúng ta cần phải
quan tâm. Tuy nhiên việc “Rèn chữ, giữ vở” cho học sinh không những chỉ ở
trên lớp, giữa thầy và trò mà còn kết hợp chặt chẽ với gia đình. Để thúc đẩy
mạnh mẽ sự phát triển tư duy của các em. Là tiền đề cho việc học tốt các môn
học khác như: nghe, nói, đọc, viết….
2. Cơ sở thực tiễn.
Đối với học sinh lớp 1 ngày đầu tiên đi học. Việc các em tiếp cận với chi
thức tiểu học quả thật là khó. Các em còn bỡ ngỡ chưa biết đọc, chưa biết viết,
chưa ý thức được mình sẽ làm gì trong các tiết học. Để làm quen với chữ viết
đối với các em thật khó. Bởi đôi tay còn vụng về non nớt, lóng ngóng. Là giáo
viên dạy lớp 1 nhiều năm. Tôi luôn trăn trở suy nghĩ một câu hỏi. Ở lớp 1 có nên
tiến hành dạy các em viết đẹp ngay không? Sau nhiều năm đúc rút qua việc
giảng dạy môn tập viết. Tôi nhận thấy rằng đối với học sinh lớp 1, nếu cùng một
lúc đòi hỏi các em viết đúng viết đẹp ngay là một điều không thực tế, khó có thể
thực hiện được. Do vậy đối với từng lớp giáo viên cần lựa chọn mục tiêu trọng
GV:
Nguyễn Thị Hoạt
3

tâm của môn học phù hợp với lứa tuổi để học sinh tiếp thu bài một cách vững
chắc. Nên tôi đã xác định. Muốn viết chữ đẹp thì việc đầu tiên cần làm ở lớp 1
là rèn cho trẻ có nề nếp kĩ thuật viết chữ đúng. Từ việc viết đúng đó mới có cơ
sở viết chữ đẹp. Đây là yêu cầu có tính quyết định trong việc ‘Rèn chữ, giữ vở”
cho học sinh trong suốt quá trình học tập của các em khi học ở lớp 1.
3. Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm
Nhằm nâng cao công tác giảng dạy phân môn Tập viết, chính tả và việc
“Rèn chữ, giữ vở” cho học sinh lớp 1 trong trường Tiểu học Đỗ Động nói chung

phải làm thêm để phụ cho mẹ …Nhiều gia đình chưa quan tâm thực sự đến việc
học hành của con em mình.
a) Số liệu điều tra qua giáo viên mầm non
Sau khi khai giảng xong tôi điều tra qua cô giáo mầm non dạy lớp 5 tuổi
được cô cho biết:
- Số học sinh viết được một số chữ cái là khoảng 8 em
- Số học sinh không viết được khoảng 17 em
Vì ở lứa tuổi này các em học trước quên sau
b) Số liệu khảo sát đầu năm
- Tôi tiến hành khảo sát thực tế của lớp 1B trường Tiểu học Đỗ Động. Số
liệu cụ thể như sau
II. Công tác tổ chức lớp

Từ tình trạng thực tế trên bắt đầu vào năm học tôi đã tiến hành ổn định tổ chức
lớp.
Trong lớp việc sắp xếp chỗ ngồi có tác động rất lớn đến việc tiếp thu bài
của các em. Đặc biệt đối với học sinh lớp 1B tôi phụ trách. Mỗi em có một hoàn
GV:
Nguyễn Thị Hoạt
Líp Sè häc sinh
Sè häc sinh viÕt ®-
îc mét sè ch÷ c¸i
Sè häc sinh kh«ng
viÕt ®îc
1B 25 em 7 em 18 em
5

cảnh khác nhau, một sức học khác nhau. Vì vậy tôi bố trí các em ở các xóm gần
nhau vào cùng một tổ để các em tiện giúp nhau trong học tập. Mỗi tổ, sao được
mang tên một con vật ngộ nghĩnh. Cụ thể là.

Nhà trường đã trang bị phòng học đúng quy cách: đủ ánh sáng, có quạt mát
về mùa hè. Bảng lớp có dòng kẻ treo ở độ cao phù hợp, bàn ghế đôi phù hợp với
học sinh lớp 1.
+ Đồ dùng giảng dạy của giáo viên:
Có bảng mẫu chữ cái viết thường và viết hoa, mẫu chữ cái viết trên khung
giấy có kẻ ô, bảng hệ thống các quy tắc viết chính tả, bảng phụ, phấn màu, vở tập
viết như học sinh và một số đồ dùng tự làm của giáo viên để phù hợp với bài
học.
+ Đồ dùng của học sinh:
Thống nhất với phụ huynh học sinh trang bị cho các em đầy đủ: Vở tập viết,
bảng con, bút mực, phấn, giẻ lau bảng. hộp đựng phấn có ngăn để giẻ lau để đảm
bảo vệ sinh trong giờ học. Tuyệt đối học sinh không sử dụng bút bi.
+ Gia đình:
Luôn giành thời gian quan tâm tạo điều kiện tốt cho học sinh học tập. Các
em ở lứa tuổi còn nhỏ thường hiếu động, thiếu kiên trì, khó thực hện các động
tác đòi hỏi sự khéo léo, cẩn thận. Vì vậy gia đình cần động viên, nhắc nhở các
em kịp thời. Cần kèm cặp các em tận tình chu đáo. Đây là một trong những yếu
tố quan trọng của gia đình ở nhà để kết hợp với giáo viên ở lớp. Có như vậy mới
đảm bảo sự thành công của việc “Rèn chữ, giữ vở” cho các em
2. Biện pháp thứ hai: Biện pháp tác động theo cách làm cũ và mới
* Cách làm cũ: ví dụ viết chữ Q hoa ( giai đoạn viết cỡ chữ nhỡ)
- Giới thiệu bài tô chữ hoa Q
- Cho học sinh quan sát chữ Q hoa
GV:
Nguyễn Thị Hoạt
7

- Giáo viên hỏi chữ Q hoa gồm mấy nét ( gồm 2 nét)
- Kiểu nét ( nét cong kín)
- Độ cao ? ( 5 đơn vị)

trên xuống dưới đưa nhẹ bút vào giấy.
- Từ cách chuẩn bị này, khi viết, tô chữ hoa uốn có bụng. Trong những
cách viết trên đây tôi còn cung cấp một số bài mẫu viết đẹp của năm trước để
cho các em tham khảo học tập. Sau nhiều năm dạy ở lớp 1 tôi nhận thấy phần
dạy học sinh làm quen với việc tô chữ còn có sự mâu thuẫn. Nên tôi đã hướng
dẫn theo các cách làm như trên. Tôi chỉ cải đổi một chút ít cho từng giai đoạn
viết trên.
Ví dụ: Tô chữ Q hoa tôi cũng thực hiện các bước như: Tôi dùng phấn màu
tô trên bảng lớp. Vừa tô vừa hướng dẫn từng bước. Sau đó tôi chưa sửa sai vội ở
mục này cho các em mà tôi cho các em tô vào vở. Cuối cùng tôi mới cho các em
viết vào bảng con. Bằng cách thay đổi này học sinh bớt căng thẳng và phấn khởi
khi đã được tô chữ trước khi tập viết chữ hoa. Tôi nhận thấy lớp học sinh lớp 1B
trường Tiểu học Đỗ Động có nhiều tiến bộ.
3. Biện pháp thứ ba: Rèn chữ viết đúng với các nhóm chữ cụ thể
Nhóm 1: 16 con chữ có chiều cao 1 đơn vị: a, ă, â o, ô, ơ, e, ê, i, u, ư, c, n, m,
x, v.
Nhóm 2: 4 con chữ có chiều cao 2 đơn vị: d, đ, p, q.
Nhóm 3: 1 con chữ có chiều cao 1,5 đơn vị: t
Nhóm 4: 2 con chữ cao 1,2 đơn vị: r, s
Nhóm 5: 6 con chữ cao 2,5 đơn vị: b, h, k, l, g, y.
Tôi đặt ra kế hoạch rèn chữ theo từng nhóm chữ ở hàng tuần, hàng tháng
một cách cụ thể. Mỗi tuần tôi rèn một nhóm chữ nhất định, rèn đúng loại chữ này
thì mới chuyển sang rèn loại chữ khác. Loại chữ này viết đúng kĩ thuật rồi mới
chuyển sang loại chữ khác. Rồi tiến tới rèn viết đẹp nên học sinh rất say mê,
phấn khởi, không căng thẳng lo lắng khi viết. Sau mỗi bài viết cần nhận xét “ nét
nào được, nét nào còn xấu” Tôi cố gắng để tìm nguyên nhân vì sao lại xấu. Tại
GV:
Nguyễn Thị Hoạt
9


GV:
Nguyễn Thị Hoạt
10

- Bảng con cũng là phương tiện hữu hiệu để học sinh luyện kĩ năng viết.
Giáo viên cần rèn cho học sinh cách giơ bảng, lau bảng, cách cầm phấn.
- Mọi hoạt động của thầy và trò được thống nhất theo 1 quy ước chung: kí
hiệu ghi trên góc bảng bên trái.
Ví dụ: B -> bảng
S -> sách
V -> vở
- Cách xác định đường kẻ trên vở tập viết:
Đây cũng là 1 yếu tố giúp học sinh nắm bắt được cách viết các nét chữ. Vì
vậy học sinh cần nắm được một số quy ước về cách gọi:
Ví dụ: 5 li, 6 đường kẻ ngang
Đường kẻ 1 là đường kẻ ngang tính từ dưới lên (dòng kẻ đậm)
Đường kẻ từ trên xuống là đường kẻ dọc
Đường kẻ dọc
+ Quy trình dạy các thao tác viết chữ phải theo một trình tự nhất định từ dễ
đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Ở giai đoạn 1 các em đã bắt đầu áp dụng các
nét cơ bản đã học ở lớp 1 để vận dụng vào bài viết. Ở giai đoạn này giáo viên
cần giúp cho các em nắm chắc tên các nét cơ bản, viết một cách thuần thục,
GV:
Nguyễn Thị Hoạt
11

chính xác đúng quy trình.
Ví dụ:
Khi viết nét cong hở phải: học sinh cần phải biết điểm đặt bút xuất phát từ
dưới đường kẻ ngang trên(đường kẻ thứ 2) kéo thẳng xuống gần đường kẻ ngang

kẻ 1.
Nét 2: Đặt bút trên đường kẻ 1 lia bút viết nét móc hai đầu, dừng bút ở
đường kẻ 2.
* Khi tập viết tiếng, từ, câu ứng dụng học sinh cần biết:
- Học sinh Cần phân tích tiếng, từ
- Độ cao các chữ cái trong câu ứng dụng.
- Cách đặt dấu thanh ở các chữ .
- Khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng.
Ví dụ:
- Khi viết từ ứng dụng: phong cảnh cỡ chữ nhỏ. Học sinh phải thấy được:
- Các chữ h , g cao 2,5 li. Các chữ p cao 2 li. Các chữ còn lại cao 1 li.
- Dâú hỏi đặt trên chữ cái a.
- Khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng bằng khoảng cách viết chữ o.
Sau mỗi phần giáo viên viết mẫu kết hợp giảng giải điểm đặt bút, điểm
dừng bút của chữ cái viết hoa cỡ vừa và từ cỡ nhỏ. Đồng thời chú ý hướng dẫn
học sinh viết liền mạch để liên kết các chữ cái , dấu phụ , dấu thanh .
Đây là việc làm quan trọng trong khi viết. Vì viết liền mạch không chỉ làm
cho tốc độ viết của các em được nâng lên mà còn đảm bảo tính cân đối, yêu cầu
thẩm mĩ của chữ viết .
Trên cơ sở quan sát chữ mẫu, giáo viên cần giúp học sinh phân tích xem
trong từ có bao nhiêu chữ cái, khoảng cách giữa các giữa các chữ cái như thế nào
? Trong từ có bao nhiêu điểm nối các chữ cái, điểm dừng bút, đặt bút để viết cho
đúng. Ở giai đoạn này giáo viên cần phải chú ý cho học sinh khi viết dấu phụ,
dấu thanh.Viết từ trái sang phải, dấu trên viết trước, dấu dưới viết sau. Dấu thanh
phải được đặt ở trên hay ở dưới phụ âm chính của vần. Khi học sinh thực hành
GV:
Nguyễn Thị Hoạt
13

viết các đoạn văn, đoạn thơ bằng cách nhìn trên bảng để chép lại theo cỡ chữ

Ngoài ra để tạo cho học sinh có hứng thú học tập trong giờ dạy tập viết . Tôi
đã xây dựng một số trò chơi học tập như: Trò chơi “Thi viết đẹp , viết đúng,viết
nhanh”
Đối với học sinh lớp 1 việc đánh giá bài viết của các em cũng rất quan
trọng. Vì nó có tác dụng kích thích hứng thú học tập cho các em. Do vậy tôi đã
thường xuyên theo sát các em trong các giờ tập viết, giờ chính tả. Để kịp thời
động viên, khen thưởng các em có chữ viết đẹp sáng tạo. Tôi lấy những bài viết
đẹp đó làm bài viết mẫu cho cả lớp tham khảo.
5. Biện pháp thứ năm: Rèn chữ viết trong tất cả các môn học.
Để rèn luyện kỹ năng chữ viết cho học sinh đạt hiệu quả thì việc rèn chữ
không chỉ trong phân môn tập viết, chính tả mà còn phải tạo thói quen cho các
em có ý thức rèn chữ ở tất cả các môn học khác.
Phối hợp giữa giáo viên với phụ huynh ở nhà, để rèn luyện kỹ năng viết chữ
ở lớp cũng như ở nhà của từng học sinh. Nhờ trực tiếp các bậc phụ huynh kiểm
tra đôn đốc các em học ở nhà. Hôm sau tôi kiểm tra nhận xét nêu ra các nhược
điểm chung để học sinh thấy được sự sai sót của mình để chỉnh sửa. Ngoài ra tôi
phân công các em khá, giỏi kèm các em yếu, như giờ ra chơi em khá đọc cho em
yếu viết, nhắc nhở khi bạn viết xấu, sai. Không chỉ rèn chữ ở tiết tập viết mà tôi
rèn chữ cho các em ở tất cả các môn học khác. Ví dụ ở môn toán em nào đúng,
trình bày đẹp thì được tuyên dương, em nào làm đúng nhưng viết chưa đep thì
khuyến khích động viên.
Cùng với việc rèn chữ là việc giữ vở cũng được tiến hành xong xong. Với
tất cả các loại sách, vở giáo khoa, vở ô li Tôi đều yêu cầu các em về nhờ bố mẹ
đóng bìa, bọc báo cẩn thận. HS nào cũng có quyển nháp riêng, không có hiện
tượng nháp bừa bãi hoặc vẽ bậy vào sách, vở, không để quăn mép Cứ sau hai
tuần hoặc cuối tháng lớp lại tổ chức bình bầu cá nhân, tổ viết chữ đẹp nhất và có
sách, vở đẹp nhất sẽ được cô giáo và cả lớp tuyên dương, khen ngơi cùng một
GV:
Nguyễn Thị Hoạt
15

cả các môn học. Chất lượng môn mĩ thuật, Toán… được nâng cao. Các em biết
yêu cái đẹp và thích làm đẹp cho mình, cho người khác.
Nhìn vào bảng kết quả đánh giá ta thấy kết quả khả quan. Cùng với các đợt
kiểm tra hàng tháng của trường. Số học sinh viết chữ đẹp và giữ vở sạch tăng lên
đáng kể. Có được thành quả này khiến cô trò tôi rất phấn khởi tin tưởng vào việc
làm của mình hơn.
C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1.Những kết luận và đánh giá cơ bản nhất về sáng kiến kinh nghiệm.
- N ội dung:
Từ những kết quả trên tôi nhận thấy việc rèn chữ, giữ vở cho học sinh lớp 1
là một việc làm rất cần thiết và quan trọng. Qua năm học 2013- 2014 tôi đã có
được một số kinh nghiệm sau:
Rèn luyện cho học sinh viết đúng, viết đẹp là quá trình không thể một sớm
một chiểu mà làm được. Vì vậy người giáo viên thực sự phải yêu nghề mến trẻ,
phải tâm huyết với nghề. Phải thường xuyên gần gũi giúp đỡ học sinh vượt qua
khó khăn. Học hỏi đồng nghiệp để nâng cao nghiệp vụ, gây hứng thú học cho
học sinh. Để nâng cao chất lượng học tôi mạnh dạn đưa ra vài biện pháp để
mong có được sự góp ý chân thành của bạn bè, đồng nghiệp cũng như ban lãnh
đạo chuyên môn nhà trường để công tác dạy học của tôi đạt kết quả cao hơn.
- Ý nghĩa:
Việc “Rèn chữ, giữ vở “cho học sinh lớp 1 giúp các em ngay từ đầu đã có
Thói quen kiên trì và tự giác
GV:
Nguyễn Thị Hoạt
17

Rèn viết chữ ở lớp đầu cấp giúp các em viết đúng, viết đẹp, viết không mất
nét, gãy nét, giúp các em vững vàng học tốt môn học khác.
Hiệu quả:
Sau khi thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm này thì kết quả học tập của
Chủ tịch hội đồng.
( Kí tên đóng dấu)

GV:
Nguyễn Thị Hoạt
19

Ý kiến đánh giá và xếp loại của hội đồng khoa học cấp trên.
Chủ tịch hội đồng.
( Kí tên đóng dấu)

GV:
Nguyễn Thị Hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status