luận văn thạc sĩ Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa - Pdf 26

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự tiến bộ của con người được xem là tiêu chuẩn cao nhất
của phát triển xã hội. Sự phát triển xã hội đòi hỏi phải đem lại công bằng,
bình đẳng cho mọi người (cả nam và nữ) trong cơ hội và điều kiện cống hiến
cũng như hưởng thụ các thành quả của phát triển. Điều này hoàn toàn phù
hợp với mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, cuộc cách mạng
được xem là triệt để nhất trong lịch sử nhân loại. Trong công cuộc đổi mới
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi con
người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, việc chăm lo phát
triển nguồn lực con người là một nhân tố quyết định thành công của công
cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chăm lo phát
triển nguồn lực con người hướng vào cả nam và nữ với các tiêu chí: phát
triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tình cảm, đạo đức.
Nông thôn là đơn vị hành chính, vùng cư trú từ rất lâu trong lịch sử.
Cùng với tốc độ phát triển kinh tế đất nước thì nông thôn ngày nay cũng có
những thay đổi khá mạnh mẽ về cả đời sống vật chất lẫn tinh thần. Bên cạnh
đó, nó cũng làm cho nông thôn xuất hiện những vấn đề nổi cộm mang tính
cấp thiết và cần được xem xét để giải quyết. Một trong những vấn đề đáng
quan tâm đó là Bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn.
Bất bình đẳng giới là vấn đề xuất hiện rất lâu trong lịch sử loài người.
Do đó, cũng đã rất lâu cuộc đấu tranh của phụ nữ đấu tranh giành quyền bình
đẳng đối với nam giới đã xuất hiện và phát triển. Đặc biệt ở nước ta bất bình
đẳng giới diễn ra mạnh mẽ ở các vùng nông thôn, chủ yếu là với phụ nữ.
Thực trạng này đã và đang trở thành bài toán nan giải đặt ra với các nhà lãnh
đạo, hoạch định chính sách, các cơ quan chức năng có thẩm quyền, các chính
quyền địa phương. Đồng thời cũng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng
đối với đời sống kinh tế xã hội nói chung. Xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh
1
Thanh Hóa cũng là một vùng nông thôn như bao vùng nông thôn khác của
Việt Nam, nên cũng không nằm ngoài vòng của vấn đề bất bình đẳng giới

nhận được sự quan tâm, bổ sung và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để
bài làm của tôi được hoàn thiện hơn.
2. Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Vấn đề giải phóng phụ nữ được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -
Lê Nin đề cập rất sớm trong nhiều tác phẩm. Ở Việt Nam, vấn đề giải phóng
phụ nữ cũng được Đảng cộng sản Việt Nam quan tâm ngay từ khi mới thành
lập (năm 1930). Từ góc độ nghiên cứu lịch sử, trong tác phẩm "Phụ nữ Việt
Nam qua các thời đại" (1975), của giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết, NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội (tái bản lần thứ hai) đã đề cập khá sâu sắc vị thế người phụ nữ
Việt Nam trong gia đình và ngoài xã hội suốt chiều dài lịch sử, từ khi khai
phá nền văn minh của dân tộc cho đến những năm 60. Song, có lẽ việc
nghiên cứu về phụ nữ và gia đình ở Việt Nam chỉ được đặt ra và giải quyết
như một bộ môn khoa học mới từ năm 1987 với sự ra đời của Trung tâm
Nghiên cứu phụ nữ (sau đổi thành Trung tâm Nghiên cứu khoa học về gia
đình và phụ nữ năm 1993). Cho đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều trung tâm
nghiên cứu về phụ nữ và gia đình như:
- Trung tâm Nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ thuộc Trung
tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia.
- Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển.
- Trung tâm Nghiên cứu lao động nữ thuộc Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội.
- Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo về phụ nữ - Đại học Quốc gia
Việt Nam.
- Khoa Phụ nữ học - Trường đại học Mở, thành phố Hồ Chí Minh.
Mặc dù thời gian chưa nhiều nhưng được sự quan tâm của Đảng, Nhà
nước, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và sự tâm huyết của nhiều nhà khoa
học, một số vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu phụ nữ và gia đình Việt
3
Nam đã được đặt ra, xem xét và có hướng giải quyết đúng đắn, trong đó có
những chủ đề nghiên cứu về phụ nữ, gia đình nông thôn.

ở nông thôn trong công cuộc đổi mới. Trước tình hình đó, tôi chọn đề tài này
mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu "Bình đẳng về
giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh
Thanh Hóa" cả về phương diện lý luận và thực tiễn dưới góc độ chuyên
ngành công tác xã hội.
Vì vậy đã có nhiều các chương trình, dự án nghiên cứu đề ra các biện
pháp nhằm giải quyết vấn đề này. Có một số chương trình, dự án đã mang lại
kết quả và được áp dụng rộng rãi trong thực tế. Tiêu biểu như:
- Chương trình bất bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ của Liên
Hiệp Quốc.
- Chương trình thúc đẩy bất bình đẳng giới để chống buôn bán phụ nữ và
trẻ em.
- Chiến lược quốc gia về bất bình đẳng giới.
- Quy định về các biện pháp bảo đảm về bất bình đẳng giới.
- Chương trình hành động quốc gia nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và
nâng cao năng lực cho phụ nữ.
- Luật bình đẳng giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Hội thảo tham vấn dự thảo chiến lược quốc gia về bình đẳng giới.
- Huấn luyện bình đẳng giới tại cộng đồng.
- Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo luật phòng chống bạo
hành gia đình.
- Bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Trong thực tế, đã có nhiều người nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề
này. Cụ thể như:
- Vấn đề bình đẳng giới của gia đình nông thôn ven đô thành phố Mỹ
Tho – tỉnh Tiền Giang trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa –
Nguyễn Thị Uyên.
5
- Vấn đề giới trong gia đình, nghiên cứu tại xã Chuế Lưu, huyện Hạ
Hòa, tỉnh Phú Thọ - Lê thế Nam.

đồng để nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ của người dân như:
+ Nâng cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở nông thôn.
+ Khẳng định vị trí của người phụ nữ trong gia đình.
+ Tôn trọng ý kiến của người phụ nữ trong gia đình trong việc ra quyết
định quan trọng như: chuyện học hành của con cái, chuyện cưới xin của
con…
+ Thu hút sự tham gia của người phụ nữ vào các công hoạt động sản
xuất kinh tế của gia đình.
+ Nâng cao nhận thức của người nam giới cũng như thái độ, suy nghĩ
của họ về vai trò của người phụ nữ.
+ Thu hút sự tham gia của người nam giới vào các công việc đồng áng,
chăm sóc con cái, …
- Vai trò của nhân viên công tác xã hội.
+ Áp dụng các biện pháp trợ giúp về tham vấn tâm lý cho phụ nữ và
nam giới ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
+ Tổ chức các buổi tập huấn, giao lưu, tuyên truyền về vấn đề bất bình
đẳng giới trong gia đình tại địa phương.
+ Kết nối, khai thác các nguồn lực trong gia đình, tại địa phương để
giúp đỡ giải quyết vấn đề.
+ Tham mưu cùng với các cơ quan chức năng liên ngành trong việc
hoạch định các chính sách và đề ra các biện pháp giải quyết mang lại hiệu
quả cao.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 05 năm 2011.
- Về không gian: Tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
7
4.2. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình nông
thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

góp phần giảm thiểu bất bình đẳng, nâng cao nhận thức của người phụ nữ về
vị thế, vai trò, quyền lợi và tự khẳng định chính mình trong bối cảnh xã hội
hiện nay. Giúp nam giới có cách nhìn khác về phụ nữ, đem lại sự công bằng
cho người phụ nữ.
Việc nghiên cứu đề tài là một cơ hội để em được trải nghiệm thực tế,
áp dụng những kiến thức đã được học, đặc biệt là kiến thức chuyên ngành
công tác xã hội. Qua đó, thu được nhiều kinh nghiệm và bài học bổ ích, cần
thiết cho bản thân.
Và em mong rằng những kết luận, nhận định của đề tài sẽ là tài liệu
tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu vấn đề này sâu hơn và mong được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô, các bạn để đề tài của em hoàn thiện hơn.
8. Kết cấu của đề tài khóa luận
Ngoài phần lời nói đầu thì khóa luận tốt nghiệp gồm có 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan chung về vấn đề bất bình đẳng giới trong gia
đình ở nông thôn
- Chương 2: Thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại
xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
- Chương 3: Vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng vào trợ giúp
giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp,
huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
9
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN
1.1. Khái niệm chung
1.1.1. Giới
Là một khoa học nghiên cứu sự khác biệt về sinh học và mối quan hệ
xã hội giữa nam và nữ về mặt xã hội. Nói về giới là nói về vai trò, trách
nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ.
1.1.2. Giới tính

nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng
thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam
và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng
giới được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích
bình đẳng giới đã đạt được.
1.1.8. Chỉ số phát triển giới (GDI)
Là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên
cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người
của nam và nữ.
1.1.9. Nông thôn
Là một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình lâu trong lịch
sử, có hệ thống độc lập tương đối ổn định; là một tiểu hệ thống không gian –
xã hội. Các thành phần cơ bản của nó đồng nhất với đô thị, song mặt khác lại
tách biệt với đô thị.
1.1.10. Mục tiêu bình đẳng giới
Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội
như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn
nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố
11
quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
và gia đình.
1.2. Lý thuyết ứng dụng
1.2.1. Lý thuyết tiếp cận giới
Quan điểm giới, xuất phát từ những lý thuyết nữ quyền cho rằng nam
giới và nữ giới trải nghiệm thực tế cuộc sống và cảm nhận về đời sống gia
đình rất khác nhau. Từ quan điểm giới, gia đình không phải là một đơn vị hài
hòa, hợp tác, dựa trên cơ sở lợi ích chung và giúp đỡ lẫn nhau, gần giống
quan điểm tiếp cận xung đột mà đây là nơi diễn ra sự phân công lao động
theo giới, quyền lực và cơ hội tiếp cận nguồn lực không ngang nhau và luôn
bất lợi cho phụ nữ.

Đó sẽ là cơ sở để mọi hoạt động của con người hướng tới và chỉ khi nào
quyền của con người được đảm bảo thì xã hội mới phát triển bền vững.
1.3. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam
về bình đẳng giới
1.3.1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bất bình đẳng giới
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phụ nữ là lực lượng
đông đảo của cách mạng. Trong lớp học ở Quảng Châu, khi nói về vai trò
của phụ nữ, Người đã nhắc lại quan điểm của Mác: Ai đã biết lịch sử thì
biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc
không làm nổi. Và Người chỉ rõ Việt Nam Kách mệnh cũng phải có nữ
giới mới thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng vai trò và
khả năng của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội, Người khẳng định:
“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt
thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Dưới chế độ phong kiến, thực dân, phụ nữ là
lớp người bị áp bức bóc lột nhiều nhất, chịu nhiều nỗi bất công, đau khổ
nhất. Thông cảm và bênh vực cho quyền lợi của phụ nữ, Người xác định
giải phóng phụ nữ, giành quyền bình đẳng cho phụ nữ là một trong các
mục tiêu của cách mạng: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải
13
phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng Chủ
nghĩa xã hội chỉ một nửa”. Đây là tư tưởng vừa thể hiện sự kế thừa, vừa
phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê nin về cách mạng giải phóng dân
tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng đó thể hiện quan điểm nhân
đạo thực hiện nam nữ bình đẳng. Quan điểm “nam, nữ bình quyền” của
Đảng và Bác Hồ được xác định ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của
Đảng năm 1930. Trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến
chống đế quốc Mỹ xâm lược, ngày 10-01-1967, Ban Bí thư Trung ương
Đảng đã ban hành Nghị quyết số 152-NQ/TƯ về một số vấn đề lãnh đạo
công tác phụ vận, chỉ rõ: “Tư tưởng phong kiến đối với phụ nữ còn tồn tại
sâu sắc trong một số cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo. Thể hiện rõ

Muốn có phong trào phụ nữ thì phải có cán bộ nữ. Người quan tâm
đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ và nhắc nhở phải đặc biệt chú ý cất
nhắc cán bộ nữ vào các cơ quan lãnh đạo, nhất là các ngành hoạt động
thích hợp với phụ nữ. Cán bộ nữ là mối dây nối liền giữa Đảng với quần
chúng phụ nữ, là những người tiên phong của phong trào phụ nữ.
Bác tin tưởng khả năng to lớn của người phụ nữ. Người nhận thấy
cán bộ nữ có nhiều ưu điểm: “ít mắc tệ tham ô, lãng phí, không hay chè
chén, ít hống hách, mệnh lệnh như một số cán bộ nam”. Những ưu điểm đó
xuất phát từ đặc điểm tâm lý, đức tính tốt đẹp của phụ nữ là cẩn thận, chu
đáo, tiết kiệm trong chi tiêu, gần gũi với quần chúng Bố trí cán bộ nữ vào
đúng những vị trí, chức vụ phù hợp với khả năng, chị em phụ nữ sẽ có điều
kiện để phát huy năng lực của mình.
Đối với cán bộ nữ, Bác Hồ dành tình cảm đặc biệt, Người luôn
bao dung, độ lượng, thông hiểu hoàn cảnh và đặc điểm riêng của phụ nữ.
Đến dự hội nghị nào, Người cũng quan tâm đến số lượng, tỷ lệ đại biểu nữ
và ân cần mời chị em lên ngồi hàng ghế đầu, động viên chị em phát biểu ý
kiến. Có lần đến thăm một lớp học của cán bộ huyện vào tháng 1 năm 1967,
Người không hài lòng khi biết chỉ có 16 học viên là nữ trên tổng số 288
15
đồng chí. Bác động viên khuyến khích kịp thời khi cán bộ nữ trưởng
thành. Trong bài nói chuyện nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập
Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bác nói: “Phó tổng tư lệnh quân giải
phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ có nước ta có vị tướng quân
gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”.(Tài liệu
tham khảo19)
Hiểu, thông cảm, động viên và khuyến khích kịp thời để cán bộ nữ
phát huy ưu điểm, đồng thời Bác cũng chỉ ra những thiếu sót để cán bộ nữ
khắc phục. Bác nhắc nhở phụ nữ phải vươn lên để bình đẳng với nam giới về
trình độ, về năng lực quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Muốn vậy phụ nữ
phải cố gắng học tập, chủ động quyết tâm khắc phục khó khăn, phải tự tin,

của các cấp uỷ đảng, trước hết là của người đứng đầu.
Ngay trong Lời kêu gọi tại Hội nghị thành lập Đảng họp ngày 03 tháng
02 năm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã xác định: “Thực hiện nam nữ bình
quyền” là một trong 10 mục tiêu của Đảng khi mới vừa ra đời. Và trong suốt
cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn khẳng định vị trí, vai trò
của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta; Người luôn
căn dặn các cấp uỷ Đảng, cơ quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác vận
động phụ nữ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ…
Và như lời Bác đã viết, cùng với sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn
hóa, pháp luật của đất nước, sự nghiệp “giải phóng phụ nữ”, “nam, nữ bình
quyền”, vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam ngày càng thu được nhiều thành
tựu. Trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và hơn 20 năm thực
hiện đường lối đổi mới, phụ nữ Việt Nam đã luôn vững vàng, cùng sát cánh
với nam giới nỗ lực thi đua, phấn đấu và đóng góp công sức, trí tuệ để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. (Tài liệu tham khảo 19).
1.3.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bất bình đẳng giới
Trong quá trình cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm
đến vấn đề phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Ngay từ những năm
17
đầu thành lập Đảng, trong Án nghị quyết Trung ương toàn thể hội nghị của
Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10-1930) về công tác phụ nữ vận động
đã nhận định “Phải làm cho quần chúng phụ nữ lao khổ tham gia vào những
cuộc đấu tranh cách mạng của công nông, đó là điều cốt yếu nhất, nếu phụ
nữ đứng ngoài cuộc đấu tranh cách mạng của công nông thì sẽ không bao
giờ đạt mục đích phụ nữ giải phóng được”. (Tài liệu tham khảo 19).
Thấm nhuần quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, vì thế
ngay từ những buổi đầu thành lập, Đảng đã khẳng định: trong một nước nửa
thuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam, người phụ nữ chịu nhiều tầng áp
bức (áp bức của thực dân, áp bức của phong kiến), lại thêm sự phân biệt đối
xử “trọng nam khinh nữ”. Do vậy, con đường giải phóng phụ nữ không thể

quyền kiểm soát nguồn lực đó. Việc hưởng thu nhập từ công việc cũng không
công bằng vì phụ nữ thường hy sinh những lợi ích vì chồng con.
Việc tiếp cận và quản lý đất đai đối với phụ nữ cũng hết sức khó khăn.
Ngay giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai ghi tên cả vợ và chồng cũng chỉ
chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Quyền sử dụng đất do nam giới nắm giữ đã ảnh
hưởng rất lớn đến quyền quyết định của họ trong gia đình trên nhiều công
việc quan trọng. Vẫn còn tồn tại khoảng cách khá lớn về giới đối với quyền
sử dụng đất. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cần phải ghi tên cả vợ và chồng đối với đất chung của hai
người. Điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để đảm bảo bình đẳng giới vì
điều đó có liên quan tới sản xuất, thu nhập, khả năng vay vốn tín dụng, quyền
sở hữu tài sản chung cũng như an ninh cho phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, ba
năm sau khi bộ luật này được thông, Tổng cục thống kê thông báo rằng mới
chỉ có 2,3% số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cả vợ và chồng.
Ở nhiều gia đình, khi vợ chồng sống êm đẹp, thường người chồng đứng tên là
chủ sở hữu các tài sản lớn. Khi xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình,
đặc biệt trong khi ly hôn, ly thân hay phân chia tài sản sẽ rất khó khăn.
Trong nhiều trường hợp, người chồng dành hết phần về mình vì theo pháp lý
19
họ đứng tên là người chủ, người vợ ra đi tay không và chịu nhiều thua thiệt.
(Tài liệu tham khảo 18).
Mặc dù Luật Đất đai không phân biệt nam nữ, thế nhưng giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đai trong gia đình lại phổ biến là ghi tên chồng. Mặc
dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ấy không ngăn cấm quyền cùng tiếp
cận và kiểm soát đất đai giữa vợ và chồng, thế nhưng trong thực tế, phần lớn
người chồng có quyền quyết định hơn cả đối với sử dụng đất đai. Cho nên,
trong một điều tra mới đây của Tổ chức Nông Lương thực và Chương trình
phát triển của Liên Hiệp Quốc nhìn toàn bộ diện tích đất canh tác ở nước ta
phân loại theo giới tính (nam, nữ) của người quản lý canh tác thì: "Trung
bình, đất đai canh tác do phụ nữ quản lý chỉ bằng khoảng một nửa đất canh

Việc làm nhiều nghề cùng với sự đảm bảo trách nhiệm theo sự phân
công lao động xã hội – việc nội trợ đã mang lại nhiều bất lợi cho phụ nữ. Đối
với những người bị buộc phải làm thêm, ngày làm việc của họ sẽ bị kéo dài
hơn, đồng thời đối với những người có nghề nghiệp chuyên môn, những trách
nhiệm gia đình có thể là sự cản trở đối với tiến bộ nghề nghiệp.
Người vợ vừa làm nội trợ vừa tham gia vào lĩnh vực sản xuất vì nhu
cầu sản xuất của xã hội, vì sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc đóng
góp thu nhập vào hộ gia đình, thì trong lĩnh vực nội trợ cũng cần đến sự chia
sẽ, tuy nhiên tình hình không hoàn toàn như vậy.
Kết quả phân tích ấy người vợ vẫn là người làm chính các công việc
nội trợ và làm thêm các công việc lao động sản xuất khác trong gia đình như:
làm ruộng, chăn nuôi, buôn bán… Đây là một lĩnh vực của đời sống gia đình
thể hiện sự bất bình đẳng giới. Người phụ nữ gắn liền với vai trò người vợ,
người mẹ, người nội trợ trong gia đình, người phụ nữ phải chịu gánh nặng
kép.(Tài liệu tham khảo 15).
1.4.2.2. Lao động tái sản xuất
Ở Việt Nam phụ nữ thường có vai trò đặc biệt quan trọng trong công
việc nội trợ, vừa là người thực hiện, vừa là người trực tiếp “tay hòm chìa
21
khóa”. Vì vậy sự phân công lao động theo giới đưa tới việc nam là nguồn lo
động, nguồn lao động chính và nữ giới là người quản lý và thực hiện công
việc gia đình, tức là vai trò của “nội tướng”.
Đặc trưng của phân công vai trò theo giới truyền thống trong gia đình là
người chồng giữ vai trò trụ cột về kinh tế, còn người vợ làm nội trợ. Trong mô
hình, cả hai giới đều có quan niệm chung là người phụ nữ gắn liền với vai trò
người vợ, người nội trợ. Quan niệm đó cũng cho rằng công việc nội trợ là công
việc nhẹ, không căng thẳng và điều quan trong là không có giá trị về kinh tế
Phụ nữ Việt Nam trong gia đình được trông đợi là phải sinh con, đẻ cái
quán xuyến việc nhà, cho dù chị ta có tham gia vào lao động tăng thu nhập hay
không. Đó là vai trò tái sản xuất, bao gồm trách nhiệm sinh đẻ hoặc nuôi con và

nông thôn, do tư tưởng trọng nam kinh nữ, đề cao vai trò địa vị của nam giới
nghiên cứu đã nghiên cứu tại các vùng nông thôn trên cả nước ở các thời
điểm khác nhau đều chỉ ra rằng trong các công việc đã có sự bàn bạc giữa hai
vợ chồng, nhưng việc ra quyết định chính vẫn là do người chồng và định kiến
giới chính là yếu tố ảnh hưởng.
Về quyền quyết định các công việc trọng đại của gia đình trong mấy
thập kỷ qua đã có rất nhiều tiến bộ trong gia đình Việt Nam. Quyết định
việc học hành của con cái, hướng nghiệp, cưới xin cho con, đưa người đi
chữa bệnh, quyết định về các chi tiêu lớn như sửa nhà, xây nhà đã có sự
bàn bạc và cùng quyết định, nhiều việc phụ nữ đưa ra cách giải quyết đầy
sức thuyết phục và khi thực hiện rất có hiệu quả. Tuy nhiên, nếu xét tương
quan giữa vợ và chồng thì người có vai trò quyết định cá nhân chiếm tỷ lệ
cao thuộc về người chồng. Song phải thừa nhận rằng khoảng cách giới của
lĩnh vực ra quyết định là không lớn lắm, phụ nữ Việt Nam đã có bước cải
thiện về địa vị rất nhiều so với trước và so với nhiều nước đang phát triển
hiện nay.(Tài liệu tham khảo 9).
Nhìn chung các công việc lớn trong gia đình, đàn ông nắm quyền quyết
định nhiều hơn, nhưng vẫn bàn bạc với vợ. Trong các lĩnh vực mua sắm đồ đạc
23
đắt tiền, quan hệ gia đình họ hàng và quan hệ chung của hai vợ chồng thì quyền
quyết định nhiều nhất vẫn thuộc về cả hai vợ chồng cùng quyết định, tiếp sau đó
là người chồng. Người vợ vẫn là người có tiếng nói quyết định ít nhất.
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quyền quyết định của hai vợ chồng thì
yếu tố đóp góp của người chồng cho kinh tế gia đình hầu như không ảnh hưởng
đến quyền quyết định của họ. Cho dù đóp góp nhiều hay ít thì quyền quyết định
của người chồng hầu như không thay đổi và nếu có thay đổi thì rất ít.
Tuy nhiên yếu tố này lại ảnh hưởng đáng kể đến quyền quyết định của
người vợ. Đóng góp của người vợ cho kinh tế gia đình tăng thì quyền quyết
định của người họ tăng, ngược lại đóng góp của người vợ giảm thì quyền
quyết định giảm.(tài liệu tham khảo 13).

cộng đồng, dòng họ mà còn cả trong gia đình.
Thiên kiến giới tạo cho người phụ nữ có thói quen ít đứng tên sở hữu
các tài sản giá trị trong gia đình.
Chế độ phụ hệ là chế độ mà người phụ nữ trong gia đình không được
nắm giữ quyền lực, quyền lãnh đạo. Hầu hết mọi quyền lực đều nằm trong
tay người chồng, người phụ nữ chỉ là người thực thi quyết định hoặc nếu có
thì cũng chỉ là người được tham gia một phần ý kiến.
Nếp sống gia trưởng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các gia đình ở nông thôn
1.5. Các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước để giải quyết
bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn
1.5.1. Chủ trương, chính sách và pháp luật trên thế giới
Văn bản của Liên hợp quốc đã nói rõ: “Bình đẳng về giới là nam nữ
được công nhận có vị thế xã hội ngang nhau, có những điều kiện như nhau
để thực hiện đầy đủ các quyền con người, có cơ hội như nhau để đóng góp và
hưởng lợi từ sự phát triển chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của đất nước”.
Quyền bình đẳng giữa nam và nữ là một nội dung cơ bản của Luật nhân
quyền quốc tế.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status