Luận văn thạc sĩ : Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại Việt Nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LƢU VIỆT HÙNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƢỜNG TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƢU VIỆT HÙNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị Hà Nội 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví
dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Lƣu Việt Hùng
MỤC LỤC

Lời nói đầu
1
Chƣơng 1
Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý chất thải rắn
thông thƣờng
5
1.1
Các khái niệm: Chất thải, chất thải rắn thông thường, quản lý
chất thải rắn thông thường
5
1.2
Quan niệm và vai trò của pháp luật về quản lý chất thải rắn thông
thường
19
1.3
Các yếu tố tác động tới pháp luật quản lý chất thải rắn thông
thường
27
Chƣơng 2
Thực trạng pháp luật quản lý chất thải rắn thông thƣờng
36
2.1
Các quy định đối với các chủ thể phát sinh chất thải rắn thông
thường
36

chất thải rắn thông thường
94

Kết luận
99

Danh mục tài liệu tham khảo
101

1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới
đã đạt được những thành công lớn nhưng bên cạnh đó cũng còn rất nhiều
vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có vấn đề về môi trường sống. Kinh tế
càng phát triển thì vấn đề về môi trường càng đặt ra cấp bách. Môi trường là
vấn đề quan trọng không chỉ với một ngành, một nghề, không chỉ đối với
một quốc gia mà là vấn đề của toàn nhân loại. Hiện tượng nhiệt độ trái đất
ngày càng nóng lên, băng ở hai đầu cực đang tan dần, lỗ thủng tầng Ozon
ngày càng to ra….đang là mối lo ngại đối với sự tồn tại của loài người. Đã
qua rồi thời kỳ phát triển bằng mọi giá, mà phải gắn phát triển với bảo vệ
môi trường. Nguyên lý phát triển trong thời đại hiện nay là phát triển bền
vững.
Môi trường là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng và cần thiết
với mỗi con người và mỗi quốc gia. Nó là nền tảng của sự tồn tại và phát
triển bền vững của xã hội, bất cứ hoạt động gì của con người cũng diễn ra
trong môi trường và vì thế nó có những tác động nhất định tới môi trường.
Hiện nay, với sự bùng nổ dân số trên toàn cầu và tốc độ công nghiệp hóa cao
đã gây ra những tổn thất to lớn cho môi trường. Theo Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp, vì vậy

Khoa học và Kỹ thuật ấn hành năm 2008; TS. Nguyễn Văn Phương, Chất
thải và quy định quản lý chất thải, được đăng trên tạp chí Luật học Số 4 năm
2003; TS. Nguyễn Văn Phương, Một số vấn đề về khái niệm chất thải, được
3
đăng trên tạp chí Luật học Số 10 năm 2006… Nhưng những bài viết này mới
chỉ dừng lại ở việc đánh giá hay gợi mở một vài khía cạnh của pháp luật
quản lý chất thải nói chung, quản lý chất thải nguy hại nói riêng còn hầu như
không đi sâu nghiên cứu vần đề về quản lý chất thải rắn thông thường. Vì
vậy, với đề tài “Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thƣờng tại Việt
Nam” tôi mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào
việc hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải rắn
thông thường tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
về quản lý chất thải nhằm mục tiêu phát triển bền vững.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về chất thải
rắn thông thường; nghiên cứu nhu cầu điều chỉnh pháp luật, các yếu tố tác
động đối với hoạt động quản lý chất thải; phân tích, đánh giá thực tiễn thực
hiện pháp luật để tìm ra những sai sót, vướng mắc, những vấn đề phát sinh,
các vi pham pháp luật để từ đó phân tích nguyên nhân của tình trạng này; đề
xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện, cơ chế thực hiện pháp luật
về quản lý chất thải rắn thông thường.
* Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về quản lý chất thải là một phạm trù nghiên cứu rộng, vì vậy
Luân văn không thể nghiên cứu hoạt động quản lý của tất cả các loại chất
thải hiện nay, cũng không đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn của
4
quản lý chất thải mà chủ yếu đề cấp đến các vấn đề pháp lý liên quan đến

bỏ đi, không tiếp tục sử dụng nữa. Khi bị thải bỏ, những chất này tồn tại
trong môi trường dưới những trạng thái nhất định và có thể gây ra rất nhiều
tác động bất lợi cho môi trường cũng như sức khoẻ con người. Chất thải,
CTRTT là vấn đề quan trọng trong cuộc sống ngày nay vì vậy chúng ta cần
phải nghiên cứu và tìm hiểu để từ đó biết cách để quản lý, phân loại, và tận
dụng, đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể khi không
tuân thủ quy trình xả, thải theo quy định của pháp luật.
Dưới giác độ ngữ nghĩa, chất thải được hiểu là những “chất” không
còn sử dụng được nữa bị con người “thải” ra trong các hoạt động khác nhau.
Chất thải được sản sinh trong các hoạt động khác nhau của con người thì
được gọi với những thuật ngữ khác nhau như: Chất thải rắn phát sinh trong
sinh hoạt thì gọi là rác thải; Chất thải phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu
trong quá trình sản xuất thì gọi là phế liệu; Chất thải phát sinh sau quá trình
sử dụng nước thì gọi là nước thải… [14, tr. 8].
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “Chất thải là
rác thải và những đồ vật bị bỏ đi nói chung”. Theo cách hiểu của khái niệm
này, chất thải bao gồm rác là những thứ vụn vặt bị vất bỏ vương vãi, làm bẩn
và đồ vật không có giá trị, không có tác dụng nên không giữ lại [14, tr.8].
6
Từ điển môi trường Anh - Việt và Việt – Anh định nghĩa “Chất thải
(waste) là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh ra
nó không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ” [15].
Khái niệm chất thải cũng được sử dụng trong pháp luật quốc tế về môi
trường, được đề cập tại Công ước Basel. Điều 2 khoản 1 Công ước Basel
định nghĩa: “Chất thải là chất hoặc các đồ vật mà người ta tiêu huỷ, có ý
định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ theo qui định của pháp luật quốc gia”. Theo
đó, yếu tố quyết định để xác định một vật chất hoặc một đồ vật đó có bị chủ
sở hữu “tiêu huỷ, có ý định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ” hay không [14, tr.
9].
Khái niệm chất thải còn được đề cập trong pháp luật của khối liên kết

trong các hoạt động của con người và tồn tại dưới các dang khác nhau: Khí,
lỏng, rắn…
Quan niệm về chất thải còn được xem xét trên khía cạnh kinh tế. Theo
quan điểm chung thì chất thải có thể hiểu là chất có thể gây ô nhiễm môi
trường; làm cho môi trường suy thoái, hoặc gây ra sự cố môi trường. Nguồn
gốc phát sinh ra chất thải là những gì mà chủ sở hữu chúng hiện tại không sử
dụng và thải bỏ. Tuy nhiên, việc chủ sở hữu hiện tại không muốn sử dụng và
thải bỏ có thể vì nhiều lý do khác nhau như công nghệ, sở thích, nhu
cầu.v.v Việc thải bỏ bao gồm từ thu gom, xử lý cho đến chôn lấp an toàn
chất thải đều có ý nghĩa là cá nhân hay xã hội phải bỏ ra một khoản chi phí
nhất định. Việc ít thải bỏ chất thải cũng có nghĩa là nguyên vật liệu, năng
lượng … được sử dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong điều kiện ngày càng
8
khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, giá cả nguyên nhiên vật liệu ngày càng
cao thì lợi ích kinh tế của việc phòng ngừa, giảm thiểu chất thải lại càng
quan trọng. Điều đó cũng có nghĩa đối với chất thải, để quản lý tốt không chỉ
là thu gom, xử lý và chôn lấp an toàn mà cần xem xét cả đến lợi ích của nó,
và tuỳ từng loại chất thải có thể tái sử dụng, tái chế hoặc thu hồi cho mục
đích khác mà không phải tốn kinh phí cho việc thải bỏ [23]
Điều 2 khoản 2 Luật bảo vệ môi trường (BVMT) 1993 định nghĩa:
“Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc
các hoạt động khác - chất thải có thể ở dạng khí, lỏng, rắn hoặc các dạng
khác”.
Điều 3 khoản 10 Luật BVMT 2005 định nghĩa: “Chất thải là vật chất
ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc các hoạt động khác”
Từ các định nghĩa và dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có thể phân
loại chất thải thành các nhóm loại khác nhau:
+ Dựa vào dạng tồn tại của chất thải, chất thải tồn tại dưới dạng rắn
(chất thải rắn), lỏng (chất thải lỏng), khí (khí thải), nhiệt lượng, tiếng ồn…

thải.
+ Vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ hoặc bị buộc phải thải bỏ. Nói
cách khác, các dạng vật chất được coi là chất thải khi người chủ sở hữu hay
10
sử dụng chúng thải bỏ một cách chủ động theo ý chí của họ, hoặc phải thải
bỏ một cách bị động theo ý chí của Nhà nước, không sử dụng nó vào bất kỳ
mục đích nào khác.
+ Nguồn gốc phát sinh ra chất thải là từ các hoạt động của con người.
Đó là các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt
động khác [24, tr. 14]
Như vậy, vì CTRTT là một loại chất thải rắn vì vậy muốn xác định
một dạng vật chất có phải là CTRTT hay không cần dựa vào ba tiêu chí đã
được nêu.
Thứ hai, CTRTT không phải là chất nguy thải nguy hại.
Tại Điều 3 Luật BVMT 2005 quy định: Chất thải nguy hại là chất thải
chứa các chất độc hại, phóng xạ, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ
độc hoặc đặc tính nguy hại khác.
Điều 3 khoản 3 Nghị định 59/NĐ – CP định nghĩa: Chất thải nguy hại
chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính: Phóng xạ, dễ
cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy
hại khác. Để phân loại và nhận biết chất thải nguy hại ta có thể xem trong
Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường ban hành danh mục chất thải rắn nguy hại. Theo Quy
chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999: “Chất thải nguy hại là chất thải có
chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp
(dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây
nguy hại khác), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi
trường và sức khoẻ con người”
11
Theo Điểm b mục 1 Thông tư 39/2008/TT- BTC ngày 19 tháng 5 năm

+ Nhóm các chất có thể thu hồi để tái sử dụng, tái chế: Phế liệu thải ra
từ quá trình sản xuất; các thiết bị điện, điện tử dân dụng và công nghiệp; các
phương tiện giao thông; các sản phẩm phục vụ sản xuất và tiêu dùng đã hết
hạn sử dụng; bao bì bằng giấy, kim loại, thuỷ tinh, hoặc chất dẻo khác ;
+ Nhóm các chất thải cần xử lý, chôn lấp: Các chất thải hữu cơ (các
loại cây, lá cây, rau, thực phẩm, xác động vật, ); các sản phẩm tiêu dùng
chứa các hoá chất độc hại (pin, ắc quy, dầu mỡ bôi trơn, ); các loại chất thải
rắn khác không thể tái sử dụng.
Từ các phân tích trên ta nhận thấy mặc dù CTRTT không chứa các
chất nguy hại nhưng nếu cứ xả thải bừa bãi sẽ gây nguy hại đến môi trường
và sức khỏe của con người. Hơn nữa, CTRTT chủ yếu phát sinh từ các hoạt
động của con người mà nhận thức của cộng đông về công tác bảo vệ môi
trường và xử lí chất thải còn yếu kém. Người dân hầu như không nhận thức
được tác hại của rác thải và sự ảnh hưởng của rác thải với sức khỏe và môi
trường sống, ý thức bảo vệ môi trường chưa cao. Người dân thường quan
niệm quản lí chất thải là công việc của nhà nước, pháp luật, chính vì vậy tình
trạng xả thác tràn lan bừa bãi còn phổ biến. Nếu cứ tiếp tục xả rác như hiện
nay thì phải sống chung với rác thải của chính mình.
13
1.1.3. Khái niệm quản lý chất thải rắn thông thƣờng
Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý được hiểu là việc “tổ chức và điều
khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [24, tr. 17]. Trong cuộc
sống hàng ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số lượng lớn
các nguyên liệu, sản phẩm từ thiên nhiên, từ sản xuất để tồn tại và phát triển
đồng thời cũng vứt, thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải,
rác thải. Nền kinh tế - xã hội càng phát triển, dân số tại các vùng đô thị,
trung tâm công nghiệp càng tăng nhanh thì phế thải và rác thải càng nhiều và
ảnh hưởng trực tiếp trở lại đời sống của con người, làm cho môi trường bị ô
nhiễm, con người mắc bệnh tật, giảm sức khoẻ cộng đồng, đất đai bị biến
thành bãi rác, làm mất cảnh quan tại các khu đô thị. Trong lĩnh vực quản lý

thải đã phát sinh tại nguồn thải, nên hiệu quả quản lý tuỳ thuộc chủ yếu vào
công đoạn xử lý chất thải. Nếu công đoạn này không được thực hiện tốt thì
việc phòng ngừa và giảm thiểu những tác động tiêu cực của chất thải hầu
như không thực hiện được. Ngược lại, phương thức quản lý chất thải dọc
theo đường ống sản xuất lại khắc phục được hạn chế này. Nó đảm bảo chất
thải được kiểm soát tại từng công đoạn của quy trình sản xuất, nên nếu có
vấn đề phát sinh tại bất kỳ công đoạn nào cũng có thể được xử lý mà không
bị phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của riêng một công đoạn như phương
thức quản lý cuối đường ống. Cùng với hai phương thức này, hiện nay, một
số quốc gia, chủ yếu là các nước phát triển đã bắt đầu tiếp cận với phương
thức quản lý chất thải nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng. Phương thức này cho
phép các loại chất thải được quản lý trên cơ sở nâng cao nhận thức của
15
người tiêu dùng để khuyến khích họ lựa chọn những sản phẩm thân thiện với
môi trường, qua đó khuyến khích các doanh nghiệp hướng tới sản xuất các
sản phẩm đó để đáp ứng nhu cầu của thị trường [24, tr. 18].
Ở nước ta, theo thống kê hàng năm có: Hơn 15 triệu tấn rác, trong đó
rác sinh hoạt đô thị và nông thôn vào khoảng 12,8 triệu tấn, rác công nghiệp
khoảng 2,7 triệu tấn; rác y tế 2,1 vạn tấn, các chất độc hại trong công nghiệp
là 13 vạn tấn, trong nông nghiệp là 4,5 vạn tấn [22]. Như vậy, tại Việt Nam
nếu chúng ta thực hiện được việc quản lý, thu gom, phân loại và tái chế số
lượng chất thải khổng lồ này thì sẽ góp phần không nhỏ làm tăng ngân sách
nhà nước và tăng lượng sản phẩm xã hội. Nhưng để làm được việc này một
mặt chúng ta cần xây dựng cơ chế quản lý chất thải trong đó có CTRTT, một
mặt đưa ra những biện pháp nhằm phát huy tinh thần hợp tác của nhân dân.
Khái niệm về quản lý chất thải được định nghĩa đầu tiên tại Thông tư
số 1590/TTLT-BKHCN&MT ngày 17 tháng 10 năm 1997 của Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành Chỉ thị số 199/TTg ngày 3
tháng 4 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách trong
quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp: Quản lý chất thải là

hại hay chất thải y tế nói riêng, quản lý CTRTT được thực hiện bởi hai nhóm
chủ thể là nhà nước và các tổ chức, cá nhân.
Nhà nước thực hiện quản lý CTRTT thông qua hoạt động của các cơ
quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường. Đây là hệ thống cơ quan được
tổ chức từ Trung ương đến địa phương, chịu trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức
17
thực hiện và giám sát thực hiện các hoạt động quản lý CTRTT của các tổ
chức, cá nhân trong xã hội, nhằm đạt đến những mục tiêu mà Nhà nước đặt
ra. Hoạt động của hệ thống các cơ quan này giữ vai trò quan trọng quyết
định hiệu quả quản lý CTRTT trong thực tế. Không giống với các lĩnh vực
khác, các vấn đề về quản lý chất thải, trong đó có CTRTT thường dẫn đến sự
mâu thuẫn lợi ích giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; giữa lợi ích của
từng tổ chức, cá nhân với lợi ích chung của cộng đồng. Vì thế, khó có thể
trông chờ vào sự tự giải quyết của các bên mà cần có sự can thiệp mạnh mẽ
mang tính tổ chức quyền lực. Không chủ thể nào có thể đảm nhiệm được vai
trò này tốt hơn Nhà nước, với quyền lực và sức mạnh cưỡng chế của nó.
Cùng với Nhà nước, quản lý CTRTT còn được thực hiện bởi các tổ chức, cá
nhân trong xã hội. Đó là các chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, chủ
xử lý CTRTT; cộng đồng dân cư. Nhóm chủ thể này thực hiện quản lý
CTRTT thông qua việc áp dụng các biện pháp để giảm thiểu CTRTT, phân
loại, thu gom, xử lý, tái chế CTRTT, hay giám sát việc thực hiện quản lý
CTRTT của các chủ nguồn thải… Hiệu quả quản lý CTRTT cũng phụ thuộc
không nhỏ vào mức độ và khả năng thực hiện các hoạt động quản lý của
nhóm chủ thể này.
* Quản lý CTRTT có mục đích của nó.
Mục đích của quản lý chất thải nói chung và CTRTT nói riêng là
phòng ngừa nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng,
khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường. Nếu vì những lý do khác nhau
mà tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra thì việc tiến hành các biện
pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, khôi phục lại môi trường đã bị ô nhiễm

này không đòi hỏi những yêu cầu khắt khe như đối với quản lý chất thải
nguy hại.
* Đối với quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi các chủ thể phải có một
trình độ chuyên môn nhất định để nhận biết, kiểm soát và xử lý. Đáp ứng
yêu cầu này là rất khó bởi không phải bất cứ Chủ nguồn thải nào cũng có đủ
trình độ để nhận biết chất thải nguy hại. Còn đối với CTRTT thì các chủ thể
có thể dễ dàng nhận biết. Chủ nguồn thải có thể nhận biết là làm thế nào để
loại bỏ vật chất do mình sở hữu không còn giá trị sử dụng; hay các cơ sở sản
xuất cũng có thể tự xử lý CTRTT.
Như vậy, từ sự phân tích trên ta có thể nhận biết sự khác nhau thực sự
rõ nét của hoạt động quản lý hai loại chất thải nguy hại và CTRTT hiện nay.
Từ việc nhận biết sự khác nhau này các chủ thể tự xác định trách nhiệm của
mình khi phát thải phải tuân theo các quy định để tránh các nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường và gây hại cho sức khoẻ con người.
1.2. Quan niệm và vai trò của pháp luật về quản lý chất thải rắn
thông thƣờng
1.2.1. Quan niệm pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thƣờng
So với các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật môi trường là một lĩnh
vực khá mới mẻ trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Các
nhà luật học Australia, một trong những quốc gia tiên phong trong bảo vệ
môi trường bằng pháp luật đã đánh giá rằng, không dễ dàng định nghĩa
chính xác phạm vi của Luật môi trường như chúng ta có thể làm với Luật
hợp đồng hay luật về các vi phạm ngoài hợp đồng. Những lĩnh vực đó đã
được định hình vững chắc bởi kinh nghiệm và án lệ qua nhiều thế kỷ. Trong
lúc đó, luật môi trường, nói một cách khái quát nhất, vẫn còn trong thời kỳ
20
thơ ấu của nó, được nảy sinh chủ yếu bằng các hoạt động lập pháp của thế
kỷ XX hơn là thông qua quá trình xử lý các nguyên tắc pháp lý thường
xuyên được tôi luyện, gọt rũa trong các tòa án. Tuy nhiên, cũng có thể nhận
thấy luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status