Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại việt nam002 - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LƢU VIỆT HÙNG

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƢỜNG TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI 2009


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LƢU VIỆT HÙNG

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƢỜNG TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị

Hà Nội 2009



2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
Chƣơng 3
3.1

L
N
th
C
ch
Q
th
C
th
T
C
th
C
C
C
C
C

C
lu
C
th

trong môi trường và vì thế nó có những tác động nhất định tới môi trường.
Hiện nay, với sự bùng nổ dân số trên toàn cầu và tốc độ công nghiệp hóa cao
đã gây ra những tổn thất to lớn cho môi trường. Theo Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp, vì vậy
trong giai đoạn hiện nay cần phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nhưng cũng do vậy khi tốc độ phát triển ngày càng nhanh thì chất thải, chất
thải rắn thông thường ngày càng nhiều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời
sống của con người. Xuất phát từ tầm quan trong của chất thải, nhất là chất
thải rắn thông thường, vấn để quản lý khai thác nó như thế nào để chất thải
trở thành nguồn tài nguyên phục vụ cho đời sống con người là vấn đề hết
1


sức cần thiết. Hiện nay, các hoạt động quản lý chất thải rắn thông thường
còn nhiều bất cập, các quy định của pháp luật về quản lý chất thải rắn thông
thường còn nhiều hạn chế, chưa đầy đủ gây ra rất nhiều khó khăn cho các
chủ thể trong quá trính quản lý . Vì thế việc hoàn thiện pháp luật về quản lý
chất thải rắn thông thường là một nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
ở Việt Nam. Chính vì các nguyên nhân trên nên tôi quyết định lựa chọn đề
tài “Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thƣờng tại Việt Nam” làm
luật văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có một số Luận án Tiến sĩ về quản lý chất thải:
Nguyễn Văn Phương, Pháp luật môi trường Việt Nam về nhập khẩu phế liệu
năm 2007; Vũ Thị Duyên Thuỷ, Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
năm 2009. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hoà Bình, Điều tra, đánh giá tình
hình quản lý chất thải rắn nguy hại của Việt Nam và đề xuất một số giải
pháp quản lý có hiệu quả năm 2004. Bên cạnh đó còn có khoá luận tốt
nghiệp của các sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội: Phạm Thị Liễu,
Đánh giá các quy định của pháp luật về quản lý chất thải năm 2008. Ngoài

các vi pham pháp luật để từ đó phân tích nguyên nhân của tình trạng này; đề
xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện, cơ chế thực hiện pháp luật
về quản lý chất thải rắn thông thường.
* Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về quản lý chất thải là một phạm trù nghiên cứu rộng, vì vậy
Luân văn không thể nghiên cứu hoạt động quản lý của tất cả các loại chất
thải hiện nay, cũng không đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn của

3


quản lý chất thải mà chủ yếu đề cấp đến các vấn đề pháp lý liên quan đến
quản lý chất thải rắn thông thường.
4.

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết luận văn sử dụng
phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương
pháp khảo sát thực tiễn và đánh giá, phương pháp phân tích…
5. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Các kết quả nghiên cứu của Luận văn này có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về Luật học. Một số
kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và tổ
chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về quản lý chất
thải nói chung và pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường nói riêng.
6. Nội dung của luận văn:
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được chia làm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật quản lý chất thải rắn

rác thải và những đồ vật bị bỏ đi nói chung”. Theo cách hiểu của khái niệm
này, chất thải bao gồm rác là những thứ vụn vặt bị vất bỏ vương vãi, làm bẩn
và đồ vật không có giá trị, không có tác dụng nên không giữ lại [14, tr.8].
5


Từ điển môi trường Anh - Việt và Việt – Anh định nghĩa “Chất thải
(waste) là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh ra
nó không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ” [15].
Khái niệm chất thải cũng được sử dụng trong pháp luật quốc tế về môi
trường, được đề cập tại Công ước Basel. Điều 2 khoản 1 Công ước Basel
định nghĩa: “Chất thải là chất hoặc các đồ vật mà người ta tiêu huỷ, có ý
định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ theo qui định của pháp luật quốc gia”. Theo
đó, yếu tố quyết định để xác định một vật chất hoặc một đồ vật đó có bị chủ
sở hữu “tiêu huỷ, có ý định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ” hay không [14, tr.
9].
Khái niệm chất thải còn được đề cập trong pháp luật của khối liên kết
chính trị - kinh tế. Liên minh Châu Âu (EU). Điều 1 Nghị định 259/93 của
EU về vận chuyển chất thải ngày 1/2/1993 có hiệu lực từ ngày 6/5/1994 định
nghĩa: “Chất thải có nghĩa là bất kỳ chất hoặc vật nào nằm trong danh mục
phân loại tại Phụ lục I mà người giữ chúng thải bỏ hoặc có ý định thải bỏ”.
Theo định nghĩa này, một vật chất sẽ là chất thải khi chủ sở hữu hoặc người
chiếm hữu hợp pháp vật chất đó không có ý định sử dụng hoặc không được
tiếp tục sử dụng theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [14, tr.
10].
Theo Điều 3 khoản 1 Luật khuyến khích kinh tế tuần hoàn và đảm bảo
xử lý các chất thải phù hợp với môi trường ngày 27/9/1994 được sửa đổi bổ
sung ngày 25/8/1998 của CHLB Đức: “Chất thải là tất cả các động sản thuộc
Phụ lục I của luật này mà chủ sở hữu từ bỏ, có ý muốn từ bỏ hoặc bắt buộc
phải từ bỏ. Những chất thải có khả năng tái chế được thì chủ sở hữu có nghĩa

lượng … được sử dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong điều kiện ngày càng

7


khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, giá cả nguyên nhiên vật liệu ngày càng
cao thì lợi ích kinh tế của việc phòng ngừa, giảm thiểu chất thải lại càng
quan trọng. Điều đó cũng có nghĩa đối với chất thải, để quản lý tốt không chỉ
là thu gom, xử lý và chôn lấp an toàn mà cần xem xét cả đến lợi ích của nó,
và tuỳ từng loại chất thải có thể tái sử dụng, tái chế hoặc thu hồi cho mục
đích khác mà không phải tốn kinh phí cho việc thải bỏ [23]
Điều 2 khoản 2 Luật bảo vệ môi trường (BVMT) 1993 định nghĩa:
“Chất thải là chất được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc
các hoạt động khác - chất thải có thể ở dạng khí, lỏng, rắn hoặc các dạng
khác”.
Điều 3 khoản 10 Luật BVMT 2005 định nghĩa: “Chất thải là vật chất
ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc các hoạt động khác”
Từ các định nghĩa và dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có thể phân
loại chất thải thành các nhóm loại khác nhau:
+

Dựa vào dạng tồn tại của chất thải, chất thải tồn tại dưới dạng rắn

(chất thải rắn), lỏng (chất thải lỏng), khí (khí thải), nhiệt lượng, tiếng ồn…
+

Phụ thuộc vào sự độc hại của chất thải, chất thải bao gồm chất thải

độc hại nguy hiểm và chất thải thông thường.

Chính phủ Về quản lý chất thải rắn định nghĩa: Chất thải rắn là chất thải ở
thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc các hoạt động khác.
Để xác định một chất là chất thải hay không, cần dựa vào ba tiêu chí
sau:
+

Chất thải tồn tại dưới dạng vật chất ở dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí

hoặc các dạng khác. Những yếu tố phi vật chất không thể được coi là chất
thải.
+

Vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ hoặc bị buộc phải thải bỏ. Nói

cách khác, các dạng vật chất được coi là chất thải khi người chủ sở hữu hay

9


sử dụng chúng thải bỏ một cách chủ động theo ý chí của họ, hoặc phải thải
bỏ một cách bị động theo ý chí của Nhà nước, không sử dụng nó vào bất kỳ
mục đích nào khác.
+

Nguồn gốc phát sinh ra chất thải là từ các hoạt động của con người.

Đó là các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt
động khác [24, tr. 14]
Như vậy, vì CTRTT là một loại chất thải rắn vì vậy muốn xác định

đặc tính như: Dễ gây phản ứng, dễ cháy, dễ ăn mòn, dễ gây độc hại, có tính
phóng xạ…gây nguy hại nghiêm trong cho môi trường và sức khoẻ con
người.
Từ các phân tích trên, ở Việt Nam thuật ngữ CTRTT được định nghĩa
như sau: Chất thải rắn thông thường là một dạng vật chất ở thể rắn, không
phải là thể lỏng, thể khí, không phải là chất thải nguy hại và được thải ra từ
các hoạt động khác nhau của con người.
Như vậy, một vật chất được coi là CTRTT khi:
Là vật chất không phải là thể lỏng, thể khí;
Là chất được thải ra từ các hoạt động khác nhau của con người như:
Sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…;
Là chất không phải là chất thải rắn nguy hại.
Phân loại CTRTT:

11


Theo Điều 77 Luật BVMT 2005, CTRTT được phân thành hai nhóm
chính:
+

Chất thải có thể dùng để tái chế, tái sử dụng;

+

Chất thải phải tiêu huỷ hoặc chôn lấp.

Điều 20 khoản 1 Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm
2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn: CTRTT từ tất cả các nguồn thải
khác nhau được phân loại theo hai nhóm chính:

khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [24, tr. 17]. Trong cuộc
sống hàng ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số lượng lớn
các nguyên liệu, sản phẩm từ thiên nhiên, từ sản xuất để tồn tại và phát triển
đồng thời cũng vứt, thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải,
rác thải. Nền kinh tế - xã hội càng phát triển, dân số tại các vùng đô thị,
trung tâm công nghiệp càng tăng nhanh thì phế thải và rác thải càng nhiều và
ảnh hưởng trực tiếp trở lại đời sống của con người, làm cho môi trường bị ô
nhiễm, con người mắc bệnh tật, giảm sức khoẻ cộng đồng, đất đai bị biến
thành bãi rác, làm mất cảnh quan tại các khu đô thị. Trong lĩnh vực quản lý
chất thải, những hoạt động tổ chức và điều khiển của các cơ quan nhà nước
cũng như việc tổ chức quản lý chất thải của các tổ chức, cá nhân có liên
quan, nhằm giảm bớt những tác động xấu của chất thải đối với môi trường
và sức khỏe con người được hiểu là hoạt động quản lý chất thải. Đây là tổng
hợp các biện pháp, cách thức nhằm kiểm soát quá trình phát sinh, vận
chuyển, xử lý chất thải và những ảnh hưởng, tác động của chất thải đến môi
trường.
Đã từ lâu, ở các nước phát triển, nhà nước và cộng đồng đã đưa ra các
biện pháp xử lý rác thải, đưa vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; xây
dựng hệ thống cống ngầm thoát nước, quy định những nơi chôn rác sinh
hoạt, những quy chế, phương pháp thu gom, phân loại, tái chế và quản lý
rác. Chính vì vậy, những khu dân cư tập trung và cả đến tận thôn xóm vùng
nông thôn của các nước này đều có một cảnh quan đô thị, làng xóm sạch
đẹp, văn minh, con người khoẻ mạnh có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, đặc
biệt là vấn đề vứt rác và thu gom rác. Từ những kết quả thu gom phế liệu,

13


rác thải, con người nhận thấy họ có thể tái chế các nguyên liệu phế thải
thành các sản phẩm tiêu dùng mới vừa tiết kiệm bãi rác vừa tăng sản phẩm

sản phẩm đó để đáp ứng nhu cầu của thị trường [24, tr. 18].
Ở nước ta, theo thống kê hàng năm có: Hơn 15 triệu tấn rác, trong đó
rác sinh hoạt đô thị và nông thôn vào khoảng 12,8 triệu tấn, rác công nghiệp
khoảng 2,7 triệu tấn; rác y tế 2,1 vạn tấn, các chất độc hại trong công nghiệp
là 13 vạn tấn, trong nông nghiệp là 4,5 vạn tấn [22]. Như vậy, tại Việt Nam
nếu chúng ta thực hiện được việc quản lý, thu gom, phân loại và tái chế số
lượng chất thải khổng lồ này thì sẽ góp phần không nhỏ làm tăng ngân sách
nhà nước và tăng lượng sản phẩm xã hội. Nhưng để làm được việc này một
mặt chúng ta cần xây dựng cơ chế quản lý chất thải trong đó có CTRTT, một
mặt đưa ra những biện pháp nhằm phát huy tinh thần hợp tác của nhân dân.
Khái niệm về quản lý chất thải được định nghĩa đầu tiên tại Thông tư
số 1590/TTLT-BKHCN&MT ngày 17 tháng 10 năm 1997 của Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành Chỉ thị số 199/TTg ngày 3
tháng 4 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách trong
quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp: Quản lý chất thải là
các hoạt động nhằm kiểm soát toàn bộ quá trình từ khâu sản suất đến thu
gom, vận chuyển, xử lý (tái xử dụng, tái chế), tiêu huỷ (thiêu đốt, chôn
lấp…) chất thải và giám sát các địa điểm tiêu huỷ chất thải [16].
Ngoài ra trong một số văn bản khác như: Nghị định 175/NĐ-CP ngày
18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật BVMT 1993; Quyết định số
152/1999/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược quản lý chất thải rắn tại các
đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến 2020; Chỉ thị số 23/2005/CT- TTg
ngày 21 tháng 6 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác
quản lý chất thải rắn tại các khu đô thị và công nghiệp; Nghị định
15


80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật BVMT cũng đưa ra các định nghĩa về quản lý
chất thải rắn; Điều 3 Khoản 12 Luật BVMT 2005 nêu ra định nghĩa về quản

khác, các vấn đề về quản lý chất thải, trong đó có CTRTT thường dẫn đến sự
mâu thuẫn lợi ích giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; giữa lợi ích của
từng tổ chức, cá nhân với lợi ích chung của cộng đồng. Vì thế, khó có thể
trông chờ vào sự tự giải quyết của các bên mà cần có sự can thiệp mạnh mẽ
mang tính tổ chức quyền lực. Không chủ thể nào có thể đảm nhiệm được vai
trò này tốt hơn Nhà nước, với quyền lực và sức mạnh cưỡng chế của nó.
Cùng với Nhà nước, quản lý CTRTT còn được thực hiện bởi các tổ chức, cá
nhân trong xã hội. Đó là các chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, chủ
xử lý CTRTT; cộng đồng dân cư. Nhóm chủ thể này thực hiện quản lý
CTRTT thông qua việc áp dụng các biện pháp để giảm thiểu CTRTT, phân
loại, thu gom, xử lý, tái chế CTRTT, hay giám sát việc thực hiện quản lý
CTRTT của các chủ nguồn thải… Hiệu quả quản lý CTRTT cũng phụ thuộc
không nhỏ vào mức độ và khả năng thực hiện các hoạt động quản lý của
nhóm chủ thể này.
* Quản lý CTRTT có mục đích của nó.
Mục đích của quản lý chất thải nói chung và CTRTT nói riêng là
phòng ngừa nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng,
khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường. Nếu vì những lý do khác nhau
mà tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra thì việc tiến hành các biện
pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, khôi phục lại môi trường đã bị ô nhiễm
cũng là mục đích của quản lý CTRTT.
* Nội dung của quản lý CTRTT.
17


Nội dung của quản lý CTRTT mà chủ thể thực hiện phải phù hợp với
từng giai đoạn cụ thể của quá trình quản lý. Có thể thực hiện việc quản lý từ
giai đoạn đầu tiên của hoạt động phát thải CTRTT là quản lý tại nguồn. Ở
giai đoạn này chủ thể quản lý phải nắm bắt toàn bộ các thông tin về CTRTT
như: Thông tin về số lượng nguồn phát sinh, lượng phát sinh, thành phần của

này không đòi hỏi những yêu cầu khắt khe như đối với quản lý chất thải
nguy hại.
*

Đối với quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi các chủ thể phải có một

trình độ chuyên môn nhất định để nhận biết, kiểm soát và xử lý. Đáp ứng
yêu cầu này là rất khó bởi không phải bất cứ Chủ nguồn thải nào cũng có đủ
trình độ để nhận biết chất thải nguy hại. Còn đối với CTRTT thì các chủ thể
có thể dễ dàng nhận biết. Chủ nguồn thải có thể nhận biết là làm thế nào để
loại bỏ vật chất do mình sở hữu không còn giá trị sử dụng; hay các cơ sở sản
xuất cũng có thể tự xử lý CTRTT.
Như vậy, từ sự phân tích trên ta có thể nhận biết sự khác nhau thực sự
rõ nét của hoạt động quản lý hai loại chất thải nguy hại và CTRTT hiện nay.
Từ việc nhận biết sự khác nhau này các chủ thể tự xác định trách nhiệm của
mình khi phát thải phải tuân theo các quy định để tránh các nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường và gây hại cho sức khoẻ con người.
1.2. Quan niệm và vai trò của pháp luật về quản lý chất thải rắn
thông thƣờng
1.2.1. Quan niệm pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thƣờng
So với các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật môi trường là một lĩnh
vực khá mới mẻ trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Các
nhà luật học Australia, một trong những quốc gia tiên phong trong bảo vệ
môi trường bằng pháp luật đã đánh giá rằng, không dễ dàng định nghĩa
chính xác phạm vi của Luật môi trường như chúng ta có thể làm với Luật
hợp đồng hay luật về các vi phạm ngoài hợp đồng. Những lĩnh vực đó đã
được định hình vững chắc bởi kinh nghiệm và án lệ qua nhiều thế kỷ. Trong
lúc đó, luật môi trường, nói một cách khái quát nhất, vẫn còn trong thời kỳ

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status