Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường
tại Việt Nam Lưu Việt Hùng
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Hữu Nghị
Năm bảo vệ: 2009 Abstract: Làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về chất thải rắn thông thường. Nghiên cứu
nhu cầu điều chỉnh pháp luật, các yếu tố tác động đối với hoạt động quản lý chất thải.
Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về việc quản lý chất thải rắn: đối với các
chủ thể; việc thu gom chất thải; vận chuyển chất thải; lưu giữ chất thải; chủ thể xử lý chất
thải; và cơ quan quản lý chất thải để tìm ra những sai sót, vướng mắc, những vấn đề phát
sinh, các vi phạm pháp luật, từ đó phân tích nguyên nhân của tình trạng này. Đề xuất
phương hướng và các giải pháp hoàn thiện, cơ chế thực hiện pháp luật về quản lý chất
thải rắn thông thường nhằm mục tiêu phát triển bền vững
Keywords: Chất thải rắn; Luật kinh tế; Pháp luật Việt Nam; Quản lý chất thải Content
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới đã đạt được những
thành công lớn nhưng bên cạnh đó cũng còn rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có vấn
Luật Hà Nội: Phạm Thị Liễu, Đánh giá các quy định của pháp luật về quản lý chất thải năm
2008. Ngoài ra các nhà khoa học đã có những bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Có
thể kể đến một số bài viết như: Lê Kim Nguyệt, Một cơ chế phù hợp cho quản lý chất thải nguy
hại ở Việt Nam đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 11 năm 2002; TS. Nguyễn Văn
Phương, Khái niệm chất thải và quy định về xuất nhập khẩu chất thải của Cộng hoà liên bang
Đức trong cuốn “Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững” do nhà xuất bản Khoa học và Kỹ
thuật ấn hành năm 2008; TS. Nguyễn Văn Phương, Chất thải và quy định quản lý chất thải, được
đăng trên tạp chí Luật học Số 4 năm 2003; TS. Nguyễn Văn Phương, Một số vấn đề về khái niệm
chất thải, được đăng trên tạp chí Luật học Số 10 năm 2006…. nhưng những bài viết này mới chỉ
dừng lại ở việc đánh giá hay gợi mở một vài khía cạnh của pháp luật quản lý chất thải nói chung,
quản lý chất thải nguy hại nói riêng còn hầu như không đi sâu nghiên cứu vần đề về quản lý chất
thải rắn thông thường. Vì vậy với đề tài “Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thƣờng tại
Việt Nam” tôi mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện pháp
luật về quản lý chất thải.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải rắn thông thường tại
Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải nhằm mục tiêu
phát triển bền vững.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về chất thải rắn thông thường;
nghiên cứu nhu cầu điều chỉnh pháp luật, các yếu tố tác động đối với hoạt động quản lý chất thải;
phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật để tìm ra những sai sót, vướng mắc, những vấn
đề phát sinh, các vi pham pháp luật để từ đó phân tích nguyên nhân của tình trạng này; đề xuất
phương hướng và các giải pháp hoàn thiện, cơ chế thực hiện pháp luật về quản lý chất thải rắn
thông thường.
* Phạm vi nghiên cứu Pháp luật về quản lý chất thải là một phạm trù nghiên cứu rộng, vì vậy Luân văn không
Chất thải, CTRTT là vấn đề quan trọng trong cuộc sống ngày nay vì vậy cho nên chúng ta cần
phải nghiên cứu và tìm hiểu, có như vậy mới biết cách để quản lý, phân loại, và tận dụng, đồng
thời cũng từ đó xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể khi không tuân thủ quy trình xả, thải
theo quy định của pháp luật.
Dưới giác độ ngữ nghĩa, chất thải được hiểu là những “chất” không còn sử dụng được
nữa bị con người “thải” ra trong các hoạt động khác nhau. Chất thải được sản sinh trong các hoạt
động khác nhau của con người thì được gọi với những thuật ngữ khác nhau như: Chất thải rắn
phát sinh trong sinh hoạt thì gọi là rác thải; Chất thải phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu trong
quá trình sản xuất thì gọi là phế liệu; Chất thải phát sinh sau quá trình sử dụng nước thì gọi là
nước thải…
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “Chất thải là rác thải và những đồ
vật bị bỏ đi nói chung”. Theo cách hiểu của khái niệm này, chất thải bao gồm rác là những thứ vụn vặt bị vất bỏ vương vãi, làm bẩn và đồ vật không có giá trị, không có tác dụng nên không
giữ lại
Khái niệm chất thải cũng được sử dụng trong pháp luật quốc tế về môi trường, được đề cập
tại Công ước Basel. Điều 2 khoản 1 Công ước Basel
Khái niệm chất thải còn được đề cập trong pháp luật của khối liên kết chính trị - kinh tế.
Liên minh Châu Âu (EU). Điều 1 Nghị định 259/93 của EU về vận chuyển chất thải ngày
1/2/1993 có hiệu lực từ ngày 6/5/1994 và Điều 3 khoản 1 Luật khuyến khích kinh tế tuần hoàn và
đảm bảo xử lý các chất thải phù hợp với môi trường ngày 27/9/1994 được sửa đổi bổ sung ngày
25/8/1998 của CHLB Đức.
Cả hai định nghĩa trên đều có một điểm chung là “vật chất được xác định là chất thải khi
nó nằm trong Phụ lục I của Luật”. Như vậy, cả hai luật này đều quan tâm đến việc đưa vật chất
nào và không đưa vật chất nào vào trong Phụ lục của mình. Giả sử có những vật chất chưa được
đưa vào Phụ lục nhưng nó lại có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường khi chủ sở hữu thải bỏ
thì sẽ được xác định như thế nào, đây là hạn chế mà các nhà làm luật cần phải bổ sung. Hơn nữa,
điều này sẽ khó khi áp dụng vào Việt Nam bởi chung ta chưa đảm bảo được yếu tố về mặt kỹ
thuật, công nghệ khi xác định các dạng vật chất nằm trong danh mục chất thải thuộc sở hữu của
Là chất được thải ra từ các hoạt động khác nhau của con người như: Sinh hoạt, tiêu dùng,
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…;
Là chất không phải là chất thải rắn nguy hại.
Phân loại CTRTT:
Theo Điều 77 Luật BVMT 2005, CTRTT được phân thành hai nhóm chính:
+ Chất thải có thể dùng để tái chế, tái sử dụng;
+ Chất thải phải tiêu huỷ hoặc chôn lấp
1.1.3. Khái niệm quản lý chất thải rắn thông thƣờng
Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý được hiểu là việc tổ chức và điều khiển các hoạt động
theo những yêu cầu nhất định. Trong cuộc sống hàng ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử
dụng một số lượng lớn các nguyên liệu, sản phẩm từ thiên nhiên, từ sản xuất để tồn tại và phát
triển đồng thời cũng vứt, thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải, rác thải. Nền
kinh tế - xã hội càng phát triển, dân số tại các vùng đô thị, trung tâm công nghiệp càng tăng
nhanh thì phế thải và rác thải càng nhiều và ảnh hưởng trực tiếp trở lại đời sống của con người,
làm cho môi trường bị ô nhiễm, con người mắc bệnh tật, giảm sức khoẻ cộng đồng, đất đai bị
biến thành bãi rác, làm mất cảnh quan tại các khu đô thị.
Đã từ lâu, ở các nước phát triển, nhà nước và cộng đồng đã đưa ra các biện pháp xử lý rác
thải, đưa vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; xây dựng hệ thống cống ngầm thoát nước, quy
định những nơi chôn rác sinh hoạt, những quy chế, phương pháp thu gom, phân loại, tái chế và
quản lý rác.
Để quản lý hiệu quả loại các loại chất thải (bao gồm cả CTRTT), trên thế giới hiện có ba
phương thức quản lý, với ba cách tiếp cận không giống nhau. Đó là phương thức quản lý cuối
đường ống sản xuất, phương thức quản lý dọc theo đường ống sản xuất và phương thức quản lý
nhấn mạnh vào khâu tiêu dung.
Ở nước ta, theo thống kê hàng năm có: Hơn 15 triệu tấn rác, trong đó rác sinh hoạt đô thị
và nông thôn vào khoảng 12,8 triệu tấn, rác công nghiệp khoảng 2,7 triệu tấn; rác y tế 2,1 vạn
tấn, các chất độc hại trong công nghiệp là 13 vạn tấn, trong nông nghiệp là 4,5 vạn tấn. Như vậy,
tại Việt Nam nếu chúng ta thực hiện được việc quản lý, thu gom, phân loại và tái chế số lượng
chất thải khổng lồ này thì sẽ góp phần không nhỏ làm tăng ngân sách nhà nước và tăng lượng sản
phẩm xã hội. Nhưng để làm được việc này một mặt chúng ta cần xây dựng cơ chế quản lý chất
chất thải nguy hại như: Dễ cháy, dễ nổ, dễ lây nhiễm… để biến nó thành CTRTT.
* Quản lý CTNH từ các khâu phân loại, thu gom, bảo quản, vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ đều đòi
hỏi nghiêm ngặt về công nghệ và kỹ thuật. CTNH phải được xử lý tuỳ theo tính chất và thành phần của
từng loại CTNH.
* Đối với quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi các chủ thể phải có một trình độ chuyên môn
nhất định để nhận biết, kiểm soát và xử lý.
1.2. Quan niệm và vai trò của pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thƣờng
1.2.1. Quan niệm pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thƣờng
So với các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật môi trường là một lĩnh vực khá mới mẻ
trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Các nhà luật học Australia, một trong
những quốc gia tiên phong trong bảo vệ môi trường bằng pháp luật đã đánh giá rằng, không dễ
dàng định nghĩa chính xác phạm vi của Luật môi trường như chúng ta có thể làm với Luật hợp
đồng hay luật về các vi phạm ngoài hợp đồng
Khái niệm "quản lý chất thải" được hiểu là tổng thể các hoạt động gồm phân loại, thu
gom, vận chuyển, tái sử dụng, xử lý, tiêu huỷ, thải loại chất thải
Tại Điều 3 Khoản 2 Luật BVMT 2005 và Điều 3 Khoản 1 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP
đưa ra định nghĩa về hoạt động quản lý chất thải rắn
Dựa vào các định nghĩa nêu trên ta có thể đưa ra định nghĩa về pháp luật về quản lý chất
thải rắn thông thường như sau:
Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường là một hệ thống các quy phạm pháp
luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể phát sinh chất thải rắn thông thường với cơ quan
quản lý nhà nước và với nhau để thực hiện liện tục các hoạt động phân loại, thu gom, vận
chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải rắn thông thường nhằm bảo vệ,
tái tạo môi trường và bảo đảm nâng cao sức khỏe cộng đồng.
1.2.2. Vai trò của pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thƣờng Thực tế đã chứng minh, pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội,
luôn có tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội
Theo Khoản 1 Điều 66 Luật BVMT 2005 quy định: “Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm
phát sinh chất thải có trách nhiệm giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng để hạn chế đến mức thấp nhất
lượng chất thải phải tiêu huỷ, thải bỏ
Chủ nguồn thải phải chịu các trách nhiệm sau:
Thứ nhất: Chủ nguồn thải phải chịu trách nhiệm giảm thiểu lượng chất thải phát sinh vào
môi trường;
Thứ hai: Chủ nguồn thải có trách nhiệm phân loại CTRTT tại nguồn;
Thứ ba: Chủ nguồn thải có trách nhiệm nộp phí vệ sinh và phí bảo vệ môi trường.
2.2. Các quy định về thu gom chất thải rắn thông thƣờng
Nhu cầu về một môi trường sạch đẹp càng cao hơn khi trình độ kinh tế - xã hội, dân trí
phát triển ngày một cao. Những năm gần đây, thu nhập của người dân có những thay đổi theo hướng tích cực, nhưng môi trường sống vẫn đang bị xuống cấp. Trong thời gian tới, nạn ô nhiễm
môi trường vẫn cứ nặng nề thì chính sách kiểm soát môi trường sẽ phải có những thay đổi đáng
kể.
Theo Điều 3 Khoản 5 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của
Chính Phủ về quản lý chất thải rắn thì: Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại,
đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
Trách nhiệm của chủ thể thu gom CTRTT được quy định tại Điều 26 Nghị định
59/2007/NĐ-CP.
Trong quá trình thực hiện quy định của pháp luật đối với chủ thể thu gom chất thải trong
đó có CTRTT trên thực tế còn nhiều vấn đề câp bách cần phải đưa ra giải pháp hoàn thiện.
Thực tế hiện nay chủ thể thu gom chất thải thường thu gom lẫn các loại chất thải với nhau
cả CTRTT và chất thải nguy hại.
2.3. Các quy định về vận chuyển chất thải rắn thông thƣờng
Tại Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn định nghĩa:
“Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu
giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng”.
cộng phải phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và bảo đảm tính mỹ quan”. Và Khoản 5: “Thời gian
lưu giữ chất thải rắn không được quá 02 ngày”.
2.5. Các quy định về xử lý chất thải rắn thông thƣờng
Xử lý chất thải rắn là một bài toán hóc búa đối với các nhà nghiên cứu bởi đây là giai
đoạn cuối của quá trình quản lý chất thải, là giai đoạn đảm bảo cho chất thải được đưa vào môi
trường mà không gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ của con người.
Xử lý chất thải, bao gồm các hoạt động tái sử dụng, tái chế, tiêu huỷ. Xử lý, tiêu huỷ chất
thải là khâu rất quan trọng có tính quyết định đối với việc tạo lập một hệ thống quản lý chất thải
hiệu quả, để giảm thiểu các rủi ro đối với môi trường và sức khoẻ con người
Tại Khoản 9 Điều 3 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP đưa ra định nghĩa về xử lý chất thải
rắn như sau: “Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm
giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn; thu hồi, tái
chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn”.
Từ thực trạng quy định của pháp luật đối với hoạt động xử lý chất CTRTT ta thấy các
chủ thể xử lý CTRTT phải có trách nhiệm lựa chọn công nghệ và chu trình xử lý sao cho phù
hợp với từng loại chất thải đã được phân loại.
Khi thực hiện việc xử lý CTRTT cần tuân thủ các giai đoạn quá trình xử lý. Xử lý chất
thải hiện nay thường được áp dụng các công nghệ: Phân loại và xử lý cơ học; công nghệ thiêu đốt;
công nghệ xử lý hoá lý; trich ly; chưng cất; kết tủa- trung hoà; ô xy hoá khử; công nghệ chôn lấp hợp
vệ sinh.
2.6. Các quy định về cơ quan quản lý nhà nƣớc trong hoạt động quản lý chất thải
rắn thông thƣờng
Quản lý CTRTT là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động bảo vệ môi
trường. Vì vậy, có thể hiểu trách nhiệm quản lý CTRTT nói riêng nằm trong trách nhiệm BVMT
nói chung của các cá nhân, tổ chức. Điều 29 Hiến pháp 1992 quy định: Mọi cơ quan nhà nước,
đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội; mọi công dân đều phải có trách nhiệm BVMT.
Theo quy định của pháp luật hiện hành mọi hoạt động liên quan đến quản lý chất thải đều
chịu sự quản lý nhà nước về BVMT thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Theo Nghị định số 80/2006/NĐ-CP về hướng dẫn Luật BVMT 2005 có đưa ra quy định
về trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước trong hoạt động quản lý chất thải rắn nguy hại
xét và đưa tới hoàn thiện. Ta thấy trong quá trình thực hiện quản lý CTRTT còn gặp phải những
hạn chế vì vậy muốn nâng cao hiệu quả của quá trình này cần phải dưa trên những cơ sở sau:
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải rắn thông thƣờng dựa trên quan điểm
của Đảng và Nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện
môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và
thiên nhiên gây ra cho môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
Theo chúng tôi quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác BVMT được thể hiện như sau:
* Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại;
* Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát
triển bền vững.
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải rắn thông thƣờng dựa trên cơ sở các
điều kiện về kinh tế - xã hội Việt Nam
Tăng trưởng kinh tế có thể gây ô nhiễm môi trường đó là điều không thể tránh khỏi ở bất
kỳ quốc gia nào. Vì vậy, bài toán đặt ra cho những người có trọng trách là, chúng ta phải làm gì
và làm thế nào để có chính sách đặc biệt vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững. Công nghiệp hóa, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức về bảo vệ môi
trường
Do vậy, pháp luật về quản lý CTRTT phải phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế, xã hội
Việt Nam.
* Về kinh tế;
* Về mặt xã hội.
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải rắn thông thƣờng cần căn cứ vào thực
trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật quản lý chất thải rắn thông thƣờng ở Việt
Nam
Cơ bản đến nay, hệ thống chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường đã tương đối đầy đủ
và đồng bộ, tạo ra hành lang pháp lý cần thiết cho công tác quản lý nhà nước về BVMT trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.
Việt Nam - quốc gia với nền kinh tế đang phát triển rất cần được sự quan tâm giúp đỡ của
các quốc gia khác trên thế giới và chúng ta cũng đang được sự quan tâm thực sự từ các quốc gia
có nền kinh tế phát triển đặc biệt là sự giúp đỡ trong hoạt động BVMT.
Môi trường trái đất đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Để giảm bớt nguy
cơ đó mỗi quốc gia đã và đang tự xác định cho mình các phương thức BVMT trong đó có hoạt
động quản lý chất thải. Chúng ta có thể tìm hiểu hoạt động quản lý chất thải ở một vài quốc gia
để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.Có thể tìm hiểu công tác bảo vệ môi trường tại Thuỵ
Điển, Singapore; Thái Lan
Từ phương thức BVMT và quản lý chất thải ở một vài quốc gia nêu trên ta có thể rút ra
kinh nghiệm để vận dụng thích hợp vào quá trình hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về
quản lý CTRTT nói riêng ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc hoàn thiện pháp luật về quản lý CTRTT ở
Việt Nam cần chú ý những vấn đề sau: + Không thể áp dụng toàn bộ các công đoạn trong hoạt động quản lý chất thải ở một hay
một vài quốc gia khác bởi nền kinh tế Việt nam không thể đáp ứng đủ các yêu cầu đặt ra. Vì vậy,
chúng ta nên tiếp thu nhưng có chọn lọc những kinh nghiệp từ các quốc gia trên thế giới;
+ Tiếp thu các kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật về quản lý CTRTT phải xuất phát từ
các yếu tố xã hội và môi trường cũng như trình độ nắm bắt khoa học kỹ thuật tiên tiến ở Việt
Nam;
+ Từ kinh nghiệm quốc tế, việc hoàn thiện pháp luật về quản lý CTRTT ở Việt Nam cần
phải được sự quan tâm hơn nữa của Đảng, Nhà nước và các cấp có thẩm quyền như quan tâm
đến việc đầu tư cho hoạt động xử lý chất thải trong đó có CTRTT, đầu tư phương tiện để đáp
ứng như cầu thu gom và vận chuyển chất thải.
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thƣờng
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
thông thƣờng
Từ những bất cập đã trình bày trên chúng tôi đưa ra các giải pháp nhằm mục đích hoàn
thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển và xử lý CTRTT như sau.
Thứ nhất: Hoàn thiện quy định của pháp luật về quản lý chất thải và đặc biệt đó là quản
Đây là mức phạt thấp so với chi phí để khắc phục tình trạng ô nhiễm
theo chúng tôi cần:
+ Tăng mức xử phạt hành chính cao hơn cụ thể: Phạt tiền đến 500.000.000đ theo Điểm đ
Khoản 2 Điều 14 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008.
+ Tăng thẩm quyền xử phạt của cơ quan địa phương. Cụ thể Uỷ ban Nhân dân cấp xã,
phường, thị trấn: Tăng từ 500.000đ theo Nghị định số 81/2006/NĐ-CP lên 2.000.000 theo khoản
2 Điều 28 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008.
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong
việc quản lý chất thải rắn thông thƣờng
Quyền và nghĩa vụ luôn đi cùng nhau. Theo quy định của pháp luật thì không ai được
hưởng quyền mà không phải thực hiên nghĩa vụ và cũng không có ai chỉ phải thực hiện nghĩa vụ
mà không được hưởng quyền.
Tuy nhiên, việc quy định quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể trong hoạt động quản lý
CTRTT còn nhiều bất cập do các nguyên nhân:
+ Quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong việc quản lý CTRTT không được quy định cụ thể
trong các văn bản pháp luật hiện hành;
+ Thực tế các quy định về quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể quản lý chất thải hầu hết
được quy định tại các văn bản dưới luật và không thống nhất, còn nhiều khe hở vì vậy tính pháp
chế của nó không cao;
+ Thiếu sự can thiệp của Nhà nước với những quy định cấm, bắt buộc do vậy không thể
đảm bảo được lợi ích kinh tế của các chủ thể với lợi ích môi trường.
Từ một số nguyên nhân nêu trên ta có thể đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện về
việc quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc quản lý CTRTT.
* Đối với Chủ nguồn thải CTRTT cần quy định một cách cụ thể hơn các nghĩa vụ mà chủ
thể này phải chịu
Bên cạnh đó có chế độ khen thưởng kịp thời khi họ phát hiện ra các hành vi vi pham. Cụ
thể:
+ Thực thi quyết định của cơ quan có thẩm quyền khi xác địch một vật chất thuộc sở hữu
của mình không còn giá trị sử dụng và có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường. Tuy nhiên,
khi thực hiện hoạt động này cũng nên quy định rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tránh
phạm pháp luật hoặc vi phạm quyền và lợi ích của người khác gây ảnh hưởng đến trật tự pháp
luật. Vì vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp chưa hình thành một cách rõ ràng và cơ quan tòa án
cũng chưa thực sự tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp môi trường. Song do đòi hỏi của
thực tế đời sống, hoạt động giải quyết tranh chấp đã được áp dụng ở một số địa phương, thông
qua những cơ chế khác của pháp luật
Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp môi trường. Đây là điều cầu làm ngay bởi
các tranh chấp môi trường hiện nay thường chưa được giải quyết một cách triệt để bởi sự xung
đột pháp luật giữa trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự. Cụ thể:
Ban hành văn bản riêng về giải quyết tranh chấp môi trường, trong đó có giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực pháp luật quản lý CTRTT bởi hiện tại theo quy định tại khoản 3 Điều 129
Luật BVMT 2005 thì việc giải quyết tranh chấp về môi trường được thực hiện theo quy định của
pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng và các quy định khác của pháp luật có
liên quan
3.3. Các giải pháp hoàn thiện cơ chế thực hiện pháp luật về quản lý chất thải rắn
thông thƣờng
3.3.1. Hoàn thiện sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền trong việc
hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thƣờng
Sự phối hợp của các cơ quan, cấp hành chính trong hoạt động quản lý và thực thi công vụ
là một nhu cầu tất yếu khách quan. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
việc hoàn thiện pháp luật nhất là pháp luật về quản lý CTRTT càng quan trong hơn vì không có
bất cứ cơ quan, cấp hành chính nào thực hiện được chức năng quản lý, hoàn thành được nhiệm
vụ của mình một cách biệt lập.
Đối với vấn đề phối hợp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc hoàn thiện
pháp luật về quản lý CTRTT cần xác định trách nhiệm và phân công hợp lý nhiệm vụ quản lý
chất thải nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung giữa các ngành, các cấp. Rà soát, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhằm khắc phục triệt để tình trạng trùng lặp, chồng
chéo, ôm đồm về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong cùng hệ thống. Trên cơ sở đó, sắp
xếp lại về tổ chức bộ máy cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng loại cơ quan này nhằm
Thứ hai: Tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục tạo sự chuyển biến về
nhận thức và hành động của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cán bộ,
đảng viên và các tầng lớp nhân dân về công tác bảo vệ môi trường trong đó có hoạt động quản lý
CTRTT
Thứ ba: Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường; tăng đầu tư và sử dụng đúng
mục đích, hiệu quả các nguồn chi cho công tác bảo vệ môi trường của địa phương Thứ tư: Cần phối hợp một cách có hiệu quả với Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm đẩy mạnh
hơn quá trình đưa giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân.
Thứ năm: Thường xuyên tổ chức các cuộc thi, các GameShow về công tác bảo vệ môi
trường trong cộng đồng dân cư, trong trường học. Nhằm tạo thói quen bảo vệ môi trường cho
mọi người.
KẾT LUẬN
Từ việc nghiên cứu tình hình chất thải rắn thông thường, thực tiễn quản lý và thực trạng
pháp luật về chất thải rắn thông thường, chúng tôi rút ra những kết luận chủ yếu sau:
Một là, chất thải rắn thông thường là một dạng vật chất ở thể rắn, không phải là thể lỏng,
thể khí, không phải là chất thải nguy hại và được thải ra từ các hoạt động khác nhau của con
người. Chất thải rắn thông thường là nguồn nguyên liệu quan trọng cho sản xuất kinh doanh
nhưng nếu ta không biết cách quản lý thì sẽ gây ảnh hưởng rất xấu đền môi trường và sức khoẻ
của con người.
Hai là, quản lý CTRTT là một đòi hỏi tất yếu của mọi quốc gia trong tiến trình phát triển
gắn với bảo vệ môi trường theo quan điểm phát triển bền vững. Đây là tổng hợp những hoạt
động mà các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân thực hiện để phòng ngừa, giảm thiểu
những tác động xấu của CTRTT, đảm bảo sự an toàn cho môi trường và sức khoẻ cộng đồng.
Hoạt động này có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó, quản lý chất thải
rắn thông thường bằng pháp luật là vấn đề đã được chú trọng ở Việt Nam.
Ba là, quản lý chất thải rắn thông thường hiện nay chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố
khác nhau như: Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; ý thức của người dân; trình độ
dẫn Luật bảo vệ mụi trường 2005, Hà Nội
5. Quốc hội (1993), Luật bảo vệ mụi trường, Hà Nội
6. Quốc hội (2005), Luật bảo vệ mụi trường, Hà Nội
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC
7. Quỳnh Anh (2008), Xử lý rỏc thải bằng cụng nghệ vi sinh: Giải phỏp tối ưu
cho mụi trường, Hà Nội mới số thỏng 3/2008
8. Bộ Tài nguyờn và Mụi trường (2006), Bỏo cỏo hiện trạng mụi trường toàn
quốc năm 2005 - Phần tổng quan
9. Bộ Tài nguyờn và Mụi trường (2005), Bỏo cỏo diễn biến mụi trường Việt
Nam năm 2004 – Chất thải rắn
10. C.Mỏc, Ph.Ăng-ghen toàn tập, Tập 20, Nxb Chớnh trị Quốc gia, Hà Nội,
1994
11. Đức Trường, Quản lý chất thải và chất lượng mụi trường, Hà Nội mới
11/6/2008
12. Dương Thị Thơ, Tụ Kim Oanh(2003), Bỏo cỏo nghiờn cứu tổng quan, Nõng
cao vai trũ và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ mụi trường thụng
qua tăng cường cụng tỏc phổ biến thụng tin mụi trường cho cộng đồng, Hà
Nội mới 12/2003
13. Khỏnh Khoa (2009), Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đạt 80%, Hà Nội mới
7/2009
14. Nguyễn Văn Phương (2007), Phỏp luật mụi trường về hoạt động nhập
khẩu phế liệu ở Việt Nam, Luận ỏn tiến sĩ Luật học 15. Nguyễn Văn Phương (2006), Một số vấn đề về khỏi niệm chất thải, tạp chớ
Luật học số 10/2006
16. Nguyễn Văn Phương(2003), Chất thải và quy định về quản lý chất thải, Tạp
chớ Luật học số 4/2003
17. Số liệu quan trắc của CEETIA
18. Sở Tài nguyờn và Mụi trường thành phố Hải Phũng, Phũng Tài nguyờn và
http://vietnamnet.vn/khoahoc/2008/09/805033/
30. Hải Chõu(2008), Nhiều nơi thưởng cho dõn bắt ụtụ đổ trộm phế thải;
http://www.tin247.com/nhieu_noi_thuong_cho_dan_bat_oto_do_trom_phe_
thai-1-55153.html
31. Hạn chế sử dụng tỳi nylon, Muộn cũn hơn khụng;
http://www.vacne.org.vn/TTHD_5/MTDD_0808.html
32. Huỳnh Hải, Long An đỡnh chỉ hoạt động 10 doanh nghiệp vi phạm mụi
trường; http://dantri.com.vn/c20/s255-344847/dinh-chi-hoat-dong-10-
doanh-nghiep-vi-pham-moi-truong.htm
33. Kiờn Cường (2008), 75% chất thải vệ sinh đổ bậy ra mụi trường Sài Gũn;
http://www.tin247.com/75_chat_thai_ve_sinh_do_bay_ra_moi_truong_sai_
gon-1-44724.html
34. Mức độ thực hiện cỏc cụng nghệ than thiện mụi trường ở Việt Nam cũn
thấp;
http://www.vista.gov.vn/portal/page?_pageid=33,411096&_dad=portal&_sc
hema=PORTAL&pers_id=408481&item_id=439194&p_details=1
35. Nhà mỏy xử lý chất thải rắn Hải Phũng hoạt động;
http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/doisong/12947/ 36. Nhõn dõn Quận 6 tớch cực tham gia ngày hội tỏi chế chất thải lần 2/2009;
http://www.quan6.hochiminhcity.gov.vn/web/tintuc/default_opennew.aspx?
news_id=3658
37. Những bài học quản lý đụ thị ở Singapore; http://thuvien-
ebook.com/forums/archive/index.php/t-8325.html
38. Phõn loại và thu gom chất thải rắn tại nguồn ở Biờn Hoà , VietNam.Net
ngày 04/7/2009
39. Phan Vừ Thu Phong (2008), Biến rỏc thải thành tiền, Nhõn dõn 6/2008;
http://svren.org/bai-viet/2008040665
40. Quản lý chất thải nguy hại trong sản xuất cụng nghiệp, Bỏo Vĩnh Phỳc
_dien_tu/MagazineName.2004