Pháp luật về quản lý chất thải rắn y tế từ thực tiễn các bệnh viện tỉnh ninh bình - Pdf 50

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của TS. Lưu Ngọc Tố Tâm. Các nội dung nghiên cứu, kết quả
trong luận văn này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước
đây. Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác
giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo.
Ngoài ra trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số
liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn
gốc.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
nội dung luận văn của mình.
Hà Nội, ngày

tháng 10 năm 2017
TÁC GIẢ

Phùng Thị Đức Hạnh

1


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Giảng viên hướng dẫn TS. Lưu Ngọc Tố
Tâm đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt
nghiệp này.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong khoa Luật Kinh tế - Viện
Đại học Mở Hà Nội đã giảng dạy tận tình cung cấp cho tôi những kiến thức bổ ích,
cũng như sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến để tôi hoàn
thành luận văn.

1.2.3. Vai trò của pháp luật quản lý chất thải rắn y tế............................................. 23
1.2.4. Nội dung cơ bản của pháp luật quản lý chất thải rắn y tế .............................. 27
Chương 2............................................................................................................... 35
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y
TẾ VÀ THỰC TIẾN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN TỈNH NINH BÌNH ................................................ 35
2.1. Thực trạng các quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam về quản lý chất thải rắn
y tế………….. ....................................................................................................... 35
2.1.1. Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân - chủ nguồn thải chất thải rắn y tế
…………………………………………………………………………………….....40
2.1.2. Hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý chất thải rắn y tế 46
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện tỉnh Ninh
Bình....................................................................................................................... 51
2.2.1. Thực tiễn thi hành tại các bệnh viện tỉnh Ninh Bình..................................... 51
2.2.2. Thành tựu và nguyên nhân ........................................................................... 57
2.2.3. Hạn chế và nguyên nhân .............................................................................. 60

3


Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT
THẢI RẮN Y TẾ TẠI VIỆT NAM TỪ THỰC TIẾN THI HÀNH TẠI CÁC BỆNH
VIỆN TỈNH NINH BÌNH …………………………………………………….…...65
3.1. Yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn y
tế……………………………………………………………………………………65
3.1.1. Việc hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn y tế phải đảm bảo quyền
con người được sống trong môi trường trong lành ................................................. 65
3.1.2. Việc hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn y tế phải phù hợp với điều
kiện phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam .............................................................. 67
3.1.3. Việc hoàn thiện pháp luật phải đảm bảo tính thống nhất và phù hợp giữa pháp

Điều dưỡng và Phục hồi chức năng, Bệnh viện Mắt) và Trung tâm cấp cứu 115;
tuyến huyện bao gồm 7 bệnh viện đa khoa (Bệnh viện đa khoa huyện Kim Sơn,
Bệnh viện đa khoa huyện Nho Quan, Bệnh viện đa khoa huyện Gia Viễn, Bệnh viện
đa khoa thành phố Tam Điệp, Bệnh viện đa khoa huyện Hoa Lư, Bệnh viện đa khoa
huyện Yên Khánh, Bệnh viện đa khoa huyện Yên Mô) và 12 phòng khám đa khoa
khu vực trực thuộc bệnh viện đa khoa huyện. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
có Bệnh viện Quân Y5 thuộc Quân khu III, Bộ Quốc phòng, Bệnh viện Công an
tỉnh thuộc Bộ Công an, Bệnh viện Chỉnh hình – Phục hồi chức năng Tam Điệp
thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Quân y tỉnh đội, Bệnh xá quân đoàn I.
Bên cạnh việc thực hiện các hoạt động chuyên môn, các hoạt động của bệnh viện
phát sinh ra chất thải y tế nguy hại làm ảnh hưởng đến môi trường, ảnh hưởng đến
sức khỏe cộng đồng.

1


Tại tỉnh Ninh Bình, năm 2015 khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh mỗi ngày
từ các cơ sở khám chữa bệnh công lập, ngoài công lập trên địa bàn tỉnh khoảng
3.400kg chất thải y tế các loại, trong đó có 2.500kg chất thải sinh hoạt, 400kg chất
thải tái chế, 480kg chất thải lây nhiễm và 20kg chất thải nguy hại không lây nhiễm.
Trong thời gian qua, ngành y tế tỉnh Ninh Bình đã phối hợp với các cơ quan
liên quan tích cực triển khai công tác quản lý chất thải rắn y tế. Tuy nhiên vẫn còn
một số cơ sở y tế chưa thực hiện đầy đủ các quy định của nhà nước về bảo vệ môi
trường trong hoạt động quản lý chất thải y tế. Để có góc nhìn tổng quát về hiện
trạng quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, từ đó đưa ra các giải
pháp quản lý chất thải rắn y tế phù hợp, tác giả thực hiện đề tài: “Pháp luật về quản
lý chất thải rắn y tế từ thực tiễn các bệnh viện tỉnh Ninh Bình”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Lĩnh vực bảo vệ môi trường luôn dành được sự quan tâm nghiên cứu của
nhiều chuyên gia, đặc biệt là về các khía cạnh pháp lý vì pháp luật là công cụ quản

rắn y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”; Luận văn thạc sỹ kỹ thuật, Đại học Đà
Nẵng, năm 2013,
Lê Phương Linh, “Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và thực tiễn áp
dụng trên địa bàn Hà Nội”; Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội,
năm 2012;
Đinh Phượng Quỳnh, “Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam, thực trạng
và giải pháp”; Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011;
Lưu Việt Hùng, “Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại Việt
Nam”; Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, năm 2010;
Trần Thị Hiền Hà, “Quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị ở Việt Nam”;
Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2006;
* Về các bài tạp chí:
Nguyễn Điếu , bàn về “Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại thành phố Đà
Nẵng” đăng trên Tạp chí Môi trường số 9-2015;
Nguyễn Văn Lâm, “Tình hình quản lý chất thải rắn tại Việt Nam. Đề xuất các
giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn chất thải”, trích dẫn
từ kỷ yếu Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ IV, Bộ Tài nguyên và Môi trường,
3


Hà Nội, đăng ngày 29/9/2015;
Lê Thị Kim Oanh, bàn về áp dụng nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả
tiền” trong chính sách môi trường, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà
nẵng – Số 4 (39) năm 2010;
Vũ Thị Duyên Thuỷ, “Vai trò của pháp luật quản lí chất thải nguy hại ở Việt
Nam”, Tạp chí luật học, số 3/2009;
Vũ Thu Hạnh, “Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường”, Tạp
chí khoa học pháp lí, số 3/2007;
Nguyễn Văn Phương, “Một số vấn đề về khái niệm chất thải”, được đăng trên
tạp chí luật học, số 10/2006.

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm các quy định pháp luật về chất thải rắn y tế, hoạt
động quản lý chất thải rắn y tế từ thực tiễn các bệnh viện tỉnh Ninh Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tác giả đi sâu vào nghiên cứu khía cạnh
pháp lý trong hoạt động quản lý chất thải rắn y tế từ thực tiễn các bệnh viện tỉnh
Ninh Bình.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ năm 2012 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Phương pháp luận của đề tài nghiên cứu là phép duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, dựa trên cơ sở của Chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm của Đảng, Nhà
nước Việt Nam đối với công tác bảo vệ môi trường đóng vai trò là nền tảng tư
tưởng và kim chỉ nam cho việc nghiên cứu đề tài luận văn. Các quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam về bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước trong tiến trình xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; phát huy quyền làm
chủ của nhân dân; về cải cách hành chính .v.v. là cơ sở lý luận cho việc phân tích,

5


đánh giá các nội dung cho luận văn. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội bằng
pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; quan điểm của
các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của tỉnh Ninh Bình về phát huy dân chủ ở cơ sở,
đảm bảo công bằng xã hội, về vai trò của quản lý nhà nước về môi trường đối với
việc bảo đảm lợi ích của công dân, tổ chức trong xã hội .v.v. mang tính xuất phát
điểm khi nghiên cứu đề tài của luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử của triết học mác-xít, luận văn này sử dụng các phương pháp nghiên

chương, 6 tiết.
Chương 1. Những vấn đề chung về quản lý chất thải rắn y tế và pháp luật
quản lý chất thải rắn y tế.
Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về quản lý chất thải rắn y tế và
thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện tỉnh Ninh
Bình
Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý chất thải rắn y tế
tại Việt Nam từ thực tiễn thi hành tại các bệnh viện tỉnh Ninh Bình.

7


Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
Y TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
1.1. Những vấn đề chung về quản lý chất thải rắn y tế
1.1.1. Khái niệm và phân loại chất thải rắn y tế
1.1.1.1. Khái niệm
* Chất thải y tế
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: Chất thải y tế là tất cả các loại chất
thải phát sinh trong các cơ sở y tế, bao gồm cả các trung tâm nghiên cứu, phòng thí
nghiệm, và các hoạt động y tế tại nhà.[47]
Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC) định nghĩa: Chất thải y tế bao gồm toàn
bộ chất thải thải ra trong các hoạt động y tế và hoạt động chuẩn đoán.[47]
Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (USEPA) định nghĩa: Chất thải y tế là
tổng hợp các chất thải phát sinh từ các cơ sở y tế như bệnh viện, phòng khám bệnh,
phòng khám nha khoa, ngân hàng máu, và phòng khám thú y, trạm y tế cũng như
các trung tâm nghiên cứu và thí nghiệm.[47]
Như vậy, theo WHO, ICRC, USEPA, chất thải y tế có một số đặc điểm cơ bản

dạng vật chất ở dạng rắn.
Hai là, nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế đó là từ hoạt động y tế như: chẩn
đoán, xét nghiệm, khám chữa điều trị, các nghiên cứu liên quan
Ba là, chất thải rắn y tế bao gồm: chất thải rắn y tế nguy hại, chất thải rắn y tế
thông thường.
1.1.1.2. Phân loại chất thải rắn y tế
Chất thải y tế được phân loại chất thải y tế thông thường và chất thải y tế nguy
hại cho nên chất thải rắn y tế sẽ bao gồm: chất thải rắn y tế thông thường và chất
thải rắn y tế nguy hại.

9


Chất thải rắn y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe
con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ,
dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu
hủy an toàn. Chất thải rắn y tế nguy hại chiếm từ 10-25% tổng luợng chất thải y tế.
[6], [47]
Chất thải rắn y tế thông thường là chất thải không chứa các yếu tố: lây nhiễm,
hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: Chất thải sinh hoạt phát sinh từ
các buồng bệnh (trừ buồng bệnh cách ly), từ các hoạt động chuyên môn y tế như
chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh,… mà không dính máu, dịch sinh học,… Và chất
thải phát sinh từ các công việc hành chính, chất thải từ các khu vực ngoại cảnh như
lá cây,… Chất thải y tế thông thuờng chiếm từ 75-90% tổng lượng chất thải y tế.
[6], [47]
Chất thải rắn y tế sau khi phát sinh tại các nguồn được phân loại, thu gom, sau
đó được vận chuyển nội bộ đến các nơi lưu giữ tại các cơ sở y tế. Tiếp theo, tuỳ vào
tính chất độc hại, chất thải sẽ được xử lý tại chỗ hoặc vận chuyển đến các cơ sở có
khả năng xử lý an toàn và cuối cùng sẽ được tiêu huỷ.
1.1.2. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường, sức khỏe con người và

cơ ảnh hưởng của môi trường có thể tác động đến hệ sinh thái và sức khỏe của con
người trong thời gian dài.
Chất thải rắn y tế từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra
tác động xấu tới môi trường không khí. Trong các khâu phân loại, thu gom, vận
chuyển, chất thải rắn y tế có thể phát tán vào không khí bụi rác, bào tử vi sinh vật
gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất,... Trong khâu xử lý, chất thải rắn y tế có thể phát
sinh ra các chất khí độc hại như dioxin, furan,… từ lò đốt và CH4 , NH3 , H2 S,… từ
bãi chôn lấp.
* Đối với môi trường nước:
Nguy cơ chất thải độc hại có trong chất thải rắn y tế có thể làm cho nguồn
nước của môi trường sống bị nhiễm bẩn. Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây
bệnh, kim loại nặng, chủ yếu là chất thủy ngân từ nhiệt kế bị vỡ và chất bạc từ quá
trình tráng rửa phim X quang. Ngoài ra một số loại dược phẩm được thải ra.
11


1.1.3. Khái quát về quản lý chất thải rắn y tế
1.1.3.1. Khái niệm và đặc điểm
Xét về phương diện pháp lý, hoạt động quản lý chât thải rắn y tế được hiểu
theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, quản lý chất thải rắn y tế là quá trình Nhà nước bằng các
cách thức, công cụ và phương tiện khác nhau tác động đến hoạt động của các cơ sở
y tế nói chung nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm môi trường do
chất thải rắn y tế gây ra.
Theo nghĩa hẹp, quản lý chất thải rắn y tế là toàn bộ hoạt động của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý chất thải rắn y tế của
nhà nước bao gồm các hoạt động ban hành pháp luật, thanh tra, kiểm tra, giám sát
và xử lý vi phạm… nhằm kiểm soát, phòng ngừa và khắc phục hậu quả đối với môi
trường do chất thải rắn y tế gây ra.
Tại Khoản 3, Điều 3, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT

chất thải được đưa ra nơi xử lý cuối cùng. Chất thải rắn y tế dùng với mục đích tái
sử dụng và tái chế sẽ được lưu giữ riêng, nơi lưu giữ chất thải rắn y tế thường được
bố trí cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và những khu tập trung đông
người. Nhà lưu giữ chất thải rắn y tế thường có mái che, có hàng rào bảo vệ chung
quanh để hạn chế sự tiếp xúc của con người và các loại côn trùng xâm nhập. Tùy
vào khối lượng chất thải phát sinh mà mỗi cơ sở y tế xây dựng nhà chứa rác thải với
diện tích phù hợp.
Hai là, vận chuyển chất thải rắn y tế là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi
phát sinh đến nơi xử lý ban đầu, lưu giữ và tiêu hủy. Vận chuyển chất thải rắn y tế
gồm có hai quá trình riêng biệt:
Thứ nhất, vận chuyến chất thải rắn y tế trong cơ sở y tế thường được thực hiện
bởi hộ lý của các khoa, phòng hay nhân viên vệ sinh của cơ sở y tế. Chất thải rắn y
tế được vận chuyển từ nguồn phát sinh đến nơi lưu giữ ít nhất 01lần/ngày và vận
chuyển khi cần thiết. Tùy vào điều kiện thực tế của mỗi cơ sở y tế mà việc vận
chuyển chất thải rắn y tế có thể bằng xe chuyên dụng hay sách tay. Trong quá trình

13


vận chuyển phải đảm bảo không gây ảnh hưởng tới hoạt động chung của cơ sở y tế
và không làm rơi vãi chất thải ra bên ngoài.
Thứ hai, vận chuyến chất thải rắn y tế bên ngoài cơ sở y tế, các cơ sở y tế có
thể ký hợp đồng với cơ sở có tư cách pháp nhân trong việc vận chuyển và tiêu hủy
chất thải. Nếu địa phương chưa có đơn vị chuyên về vận chuyển chất thải thì nhân
viên bệnh viện phải chịu trách nhiệm vận chuyển chất thải rắn y tế ra nơi tiêu hủy.
Chất thải rắn y tế nguy hại trước khi vận chuyển phải được đóng gói vào trong các
thùng để tránh bị bục hoặc vỡ trên đường vận chuyển.
Ba là, xử lý chất thải rắn y tế: xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt
khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi phát sinh trước khi chuyển nơi
lưu giữ hoặc tiêu hủy. Mục đích của xử lý ban đầu là giảm tính độc hại của chất thải

trường sống của con người có thể bị xâm hại, vì vậy quản lý chất thải rắn y tế giữ
vai trò không thể thiếu.
Hai là, quản lí chất thải rắn y tế góp phần thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng
khoa học kĩ thuật tiên tiến để bảo vệ môi trường trong hoạt động y tế, bảo vệ sức
khỏe người lao động.
Trong bảo vệ môi trường nói chung và quản lí chất thải rắn y tế nói riêng, kĩ
thuật công nghệ là một trong những yếu tố hết sức quan trọng. Trong số các biện
pháp bảo vệ môi trường đang được áp dụng trên thế giới hiện nay, biện pháp công
nghệ được coi là biện pháp hữu hiệu giải quyết tận gốc vấn đề ô nhiễm môi trường.
Thông qua việc ứng dụng các quy trình công nghệ tiên tiến, quy trình công nghệ
sạch, quy trình công nghệ ít chất thải, con người có thể loại bỏ được chất gây ô
nhiễm, nguyên nhân cơ bản nhất gây ô nhiễm môi trường.
Ba là, quản lí chất thải rắn y tế góp phần thay đổi và nâng cao nhận thức của
cộng đồng theo hướng có lợi cho bảo vệ môi trường.
Môi trường là không gian sống của mỗi cá nhân trong xã hội, có ảnh hưởng
trực tiếp mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của họ. Chính vì lẽ đó,
bảo vệ môi trường không còn là trách nhiệm của Nhà nước mà phải được thực hiện

15


bởi mỗi cá nhân. Tuy nhiên, con người chỉ có thể làm được điều đó khi có nhận
thức đúng đắn về bảo vệ môi trường. Nói cách khác, trong bảo vệ môi trường, trình
độ nhận thức của cồng đồng là yếu tố giữ vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định
không nhỏ đến hiệu quả của công tác này.
1.2. Những vấn đề chung về pháp luật quản lý chất thải rắn y tế
1.2.1. Khái niệm pháp luật về quản lý chất thải rắn y tế
1.2.1.1. Định nghĩa
Hệ thống các quy phạm pháp luật quản lý chất thải rắn y tế thường tập trung
điều chỉnh ba nhóm nội dung chủ yếu, đó là các quy định pháp luật về kiểm soát

định riêng về việc bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế. Và mới đây nhất là thông
tư liên tịch số 58 giữa Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường có hiệu lực từ ngày
01/01/2016 quy định chi tiết Khoản 6,7, Điều 49, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP
ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu.
Như vậy, dựa trên cách thức tiếp cận và điều chỉnh của pháp luật ở các quốc
gia đối với các hoạt động có liên quan đến chất thải rắn y tế, có thể định nghĩa pháp
luật quản lý chất thải rắn y tế như sau: “Pháp luật quản lý chất thải rắn y tế là một
bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm các quy phạm pháp luật, các nguyên
tắc pháp lý điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong quá trình con người tiến
hành các hoạt động liên quan đến việc giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển,
quá cảnh, lưu giữ, xử lý, tái chế, thu hồi, tiêu hủy chất thải rắn y tế”.[27]
1.2.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng và thực hiện pháp luật quản lý
chất thải rắn y tế
Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước
ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu,
định hướng cụ thể. Cũng giống như pháp luật nói chung, nội dung của pháp luật
quản lý chất thải rắn y tế cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó
có thể thấy sự ảnh hưởng rõ rệt nhất từ các yếu tố như sau:

17


Một là, đường lối chính sách của Đảng định ra mục tiêu và phương hướng
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định, định ra những
phương pháp cách thức cơ bản để có thể thực hiện những mục tiêu và phương
hướng đó. Những mục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức đó sẽ được
nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế. Vì thế
đường lối chính sách của Đảng là một trong những yếu tố có sức ảnh hưởng lớn
nhất đến nội dung của pháp luật. Nội dung các quy định trong tất cả các văn bản
quy phạm pháp luật, từ Hiến pháp, luật cho đến các văn bản dưới luật đều phải phù

nằm trong giai đoạn đất nước đang trên đà phát triển, chiến tranh đã qua đi con
người đang bước vào một giai đoạn phát triển mới nhưng nhận thức của chúng về
vấn đề môi trường vẫn còn nhiều hạn chế do vậy việc quản lý chất thải còn khá lỏng
lẻo, chưa nghiêm túc trong đó có chất thải rắn y tế.
1.2.2. Nguyên tắc trong điều chỉnh pháp luật quản lý chất thải rắn y tế
1.2.2.1. Nguyên tắc “phòng ngừa - giảm thiểu”
Như chúng ta đã biết trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đếu có nguyên tắc phòng
ngừa - giảm thiểu. Trong lĩnh vực y tế nguyên tắc phòng ngừa - giảm thiểu là
nguyên tắc được ưu tiên trong quản lý chất thải rắn y tế. Bởi chất thải rắn y tế nếu
không được phân loại, thu gom, quản lý và xử lý tốt sẽ là nguồn lây lan bệnh tật,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người. Việc phát sinh các
loại chất thải rắn y tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy định cách quản lý, loại
hình cơ sở y tế, bệnh viện chuyên khoa, tỷ lệ các vật tư tái sử dụng được dùng trong
hoạt động của bệnh viện và tỷ lệ bệnh nhân được chăm sóc và điều trị tại cơ sở
trong ngày.
Việc thực hiện tốt nguyên tắc phòng ngừa - giảm thiểu chất thải rắn y tế sẽ
mang lại nhiều lợi ích khác nhau, cụ thể:
Thứ nhất, tiết kiệm chi phí cho việc xử lý chất thải và thực hiện quy trình tái
sử dụng và tái chế;
Thứ hai, lợi ích cho môi trường: giảm nhu cầu và tần xuất xử lý chất thải rắn
y tế, giảm tiêu thụ các nguồn tài nguyên năng lượng khác nhau và giảm khối lượng
chất thải phải tiêu hủy sau khi đã được xử lý;

19


Thứ ba, sức khỏe và an toàn - đảm bảo cho nhân viên y tế, bệnh nhân và
cộng đồng qua việc giảm thiểu phơi nhiễm với mầm bệnh từ chất thải lây nhiễm và
tổn thương do vật sắc nhọn
Để giảm thiểu nguồn phát sinh chất thải rắn y tế, các cơ sở y tế cần thực hiện

tại thời điểm phát sinh;
Hai là, từng loại chất thải rắn y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng
cụ, thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định tại Điều 5, Thông tư liên tịch số
58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 giữa Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về chất thải y tế. Trường hợp các chất thải rắn y tế nguy hại
không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp
xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa;
Ba là, khi chất thải rắn y tế lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại
thì hỗn hợp chất thải đó phải được thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây
nhiễm.
Việc thực hành phân loại đúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác
quản lý chất thải y tế, góp phần giảm thiểu nguy cơ phát tán các tác nhân gây bệnh,
các yếu tố độc hại, nguy hiểm. Phân loại đúng còn góp phần giảm thiểu số lượng
chất thải y tế nguy hại phải tiêu hủy, xử lý. Trong thời gian tới các cơ sở y tế cần
thực hiện các giải pháp như định kỳ tổ chức đào tạo, truyền thông, phổ biến các quy
định về quản lý chất thải y tế cho công chức, viên chức, người lao động của đơn vị
và các đối tượng có liên quan, nhằm nâng cao năng lực trong quản lý chất thải rắn y
tế, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường sống của chúng ta một cách
bền vững.
Áp dụng nguyên tắc này nhằm mục đích tăng cường, tái sử dụng, tái chế. Thực
hiện tốt điều này không những mang lại một nguồn thu cho ngân sách bệnh viện,
mà còn góp phần giảm bớt đi lượng chất thải cần xử lý thiêu hủy ở những khâu sau.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status