Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục lục
lời nói đầu
Khi thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế cũ sang nền kinh tế thị tr-
ờng(KTTT) định hớng xã hội chủ nghĩa(XHCN), Việt Nam phải chấp nhận
những qui luật của nền KTTT. Và cạnh tranh là một quy luật khách quan, rất
cần thiết để phát triển kinh tế. Việt Nam đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn trong
quá trình phát triển kinh tế. Nhng ngoài những thành tựu đó thì nền kinh tế nớc
ta đang đối mặt với một khó khăn và thách thức khá quan trọng. Đó là khả năng
cạnh tranh của nền kinh tế nớc ta còn non yếu. Việt Nam cần phải nâng cao
năng lực cạnh tranh để có thể phát triển nền KTTT định hớng XHCN. Đặc biệt
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nớc và t nhân.
Vì vậy mà chúng ta cần có một chính sách cạnh tranh đúng đắn.
Cạnh tranh là một cơ chế vận hành chủ yếu của nền KTTT, nó là động lực
thúc đẩy kinh tế phát triển. Nhiều nớc trên thế giới đã vận dụng tốt qui luật cạnh
tranh vào phát triển kinh tế và đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn. Từ khi đổi mới
nền kinh tế chúng ta cũng đã áp dụng qui luật này và đã thu đợc một số thành
tựu: Đời sống nhân dân đợc cải thiện, xã hội phát triển hơn, kinh tế phát triển ổn
định những lợi ích ấy ch a phải là lớn lao nhng cũng đã giúp chúng ta định h-
ớng cho chính sách phát triển kinh tế.
Để có một môi trờng cạnh tranh lành mạnh đang là vấn đề quan trọng đợc
đặt ra với thực trạng hiện nay của nớc ta.
I. lí luận về cạnh tranh:
1. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng(KTTT) là một tất yếu
khách quan
Hình thức đầu tiên của nền KTTT là kinh tế hàng hoá. Kinh tế h ng hoá
là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà trong đó sản phẩm sản xuất ra để trao đổi
và buôn bán trên thị trờng. Nền KTTT là hình thức phát triển cao của nền kinh
tế hàng hoá, mà ở đó mọi yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất đều đ-
tranh nhằm giành giật lấy những điều kiện có lợi cho sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả của sự cạnh tranh này là hình
thành nên giá trị thị trờng của từng loại mặt hàng. Đó là giá trị của hàng hoá đ-
ợc tính dựa vào điều kiện sản xuất trung bình của toàn xã hội. Nếu nh doanh
nghiệp nào có điều kiện sản xuất dới mức trung bình sẽ bị lỗ. Còn những doanh
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghiệp có điều kiện sản xuất trên mức trung bình của xã hội sẽ thu đợc lợi
nhuận thông qua sự chênh lệch về điều kiện sản xuất.
Ngoài cạnh tranh trong nội bộ ngành còn có cạnh tranh giữa các ngành
với nhau. Đây là tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng khác
nhau. Mục đích của cạnh tranh này là tìm nơi đầu t có lợi hơn. Các doanh
nghiệp tự do di chuyển t bản của mình từ ngành này sang ngành khác. Cạnh
tranh này dẫn đến hình thành nên tỉ suất lợi nhuận bình quân, và giá trị hàng
hoá chuyển thành giá cả sản xuất.
Việc hình thành nên giá thị trờng của hàng hoá và tỉ suất lợi nhuận bình
quân là điều quan trọng trong nền KTTT. Với giá trị thị trờng của hàng hoá cho
biết doanh nghiệp nào làm ăn có lãi hoặc không có hiệu quả. Từ đó sẽ có những
thay đổi trong sản xuất để nâng cao năng suất lao động. Với tỉ suất lợi nhuận
bình quân cho biết lợi nhuận của các nhà t bản sẽ là nh nhau cho dù đầu t vào
những ngành khác nhau với lợng t bản nh nhau.
Thứ hai: Cạnh tranh giúp phân bổ lại nguồn lực của xã hội một cách hiệu
quả nhất. Các doanh nghiệp sản xuất cùng một loại hay một số loại hàng hoá
cạnh tranh nhau về giá cả, hình thức sản phẩm, chất lợng sản phẩm trong quá
trình cạnh tranh đó doanh nghiệp nào có điều kiện sản xuất tốt, có năng suất lao
động cao hơn thì doanh nghiệp đó sẽ có lãi. Điều đó giúp cho việc sử dụng các
nguồn nguyên vật liệu của xã hội có hiệu quả hơn, đem lại lợi ích cho xã hội
cao hơn. Nếu cứ để cho các doanh nghiệp kém hiệu quả sử dụng các loại nguồn
lực thì sẽ lãng phí nguồn lực xã hội trong khi hiệu quả xã hội đem lại không
cao, chi phí cho sản xuất tăng cao, giá trị hàng hoá tăng lên không cần thiết.
và ngời thua. Kẻ mạnh càng ngày càng mạnh lên nhờ làm ăn hiệu quả. Kẻ yếu
thì bị phá sản. Sự phá sản của các doanh nghiệp không hoàn toàn mang ý nghĩa
tiêu cực. Bởi vì có nh vậy thì các nguồn lực của xã hội mới đợc chuyển sang cho
những nơi làm ăn hiệu quả. Việc duy trì các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ dẫn
đến sự lãng phí các nguồn lực xã hội. Do đó muốn có hiệu quả sản xuất của xã
hội cao buộc chúng ta phải chấp nhận sự phá sản của những doanh nghiệp yếu
kém. Sự phá sản này không phải là sự huỷ diệt hoàn toàn mà đó là sự huỷ diệt
sáng tạo.
3. Những điều kiện tạo nên cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh:
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
a) Điều kiện về các yếu tố pháp lý - thể chế đối với hoạt động kinh
doanh
Ngày nay trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng thì các thể chế
pháp lý không chỉ do nhà nớc ban hành mà còn đợc ban hành bởi các tổ chức
kinh tế quốc tế ban hành. Yếu tố pháp lý - thể chế là nhân tố quan trọng hình
thành nên môi trờng kinh doanh. Mỗi yếu tố pháp lí - thể chế đều tác động vào
một lĩnh vực nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Các chủ thể kinh
tế muốn tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nào đều
phải dựa vào các thể chế - pháp lí đã đợc ban hành đối với lĩnh vực đó để tham
gia hoạt động kinh tế. Mặc dù chỉ có định hớng trong một lĩnh vực nhất định,
song trong một nền kinh tế thống nhất để tạo nên sự hoạt động đồng bộ cho
guồng máy kinh tế thì các yếu tố thể chế - pháp lí này đều phải đảm bảo các
điều kiện sau:
Thứ nhất: Đảm bảo sự đồng bộ trong toàn bộ hệ thống thuộc mọi lĩnh vực
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân. Nh vậy mọi lĩnh vực
của hoạt động sản xuất kinh doanh đều đợc điều chỉnh bởi các thể chế - pháp lí.
Thứ hai: Các thể chế - pháp lí do Nhà nớc ban hành phải phù hợp với tình
hình thực tế để có hiệu quả cao trong việc điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh
doanh. Ngoài ra các qui định này phải rõ ràng, dễ hiểu, tránh việc hiểu theo
Ngày nay quá trình hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới
nên việc nâng cao năng lực quản lý kinh tế là điều kiện hết sức quan trọng để
tạo nên môi trờng cạnh lành mạnh.
c) Điều kiện về trình độ văn hoá, đạo đức xã hội của nhân dân và các
chủ thể kinh doanh
Các chủ thể kinh tế là đối tợng tác động của các văn bản pháp lí - thể chế.
Nhà nớc ban hành và giám sát, chỉ đạo các chủ thể kinh tế thi hanh các qui định
của văn bản pháp lí - thể chế. Để các qui định đợc thực hiện tốt thì ngoài vai trò
quản lí tốt của Nhà nớc còn có hành vi thực hiện của các chủ kinh doanh và
nhân dân. ý thức thực hiện các qui định văn bản của các chủ thể khi tham gia
hoạt động kinh tế là điều kiện đủ để tạo nên cạnh tranh và chống độc quyền
trong kinh doanh. Năng lực của các cơ quan quản lí là có hạn cho nên trong quá
trình quản lý không thể không mắc sai lầm, thiếu sót. Đó sẽ là điều kiện tốt cho
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
những tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Trong những tình huống nh vậy
để tạo nên cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền rất cần có tinh thần, ý
thức của các chủ thể kinh doanh cũng nh của nhân dân. Tinh thần trách nhiệm,
ý thức tốt của các chủ thể kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của
các cơ quan quản lý.
II. Thực trạng cạnh tranh ở Việt Nam
1. Những thay đổi về nhận thức đối với cạnh tranh:
Sau khi đất nớc thống nhất, cả nớc bắt tay vào công cuộc xây dựng đất n-
ớc, đa đất nớc tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Nhng mô hình kinh tế sau chiến tranh
là nền kinh tế tập trung bao cấp, của cải xã hội bị tàn phá nặng nề. Việc áp dụng
mô hình kinh tế này trong chiến tranh đã đem lại hiệu quả cao, và đợc coi nh
mô hình u việt. Nhng trong thời bình, nó đã không còn phù hợp và Việt Nam đã
phải trả giá cho việc áp dụng nền kinh tế này đó là: nền kinh tế suy thoái trầm
trọng: Chi vợt thu, lạm phát cao, tiền mất giá, phơng tiện kĩ thuật lạc hậu, chậm
đợc đổi mới, năng lực sản xuất non kém. Trong nền kinh tế cũ - nền kinh tế tập