MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên
khắp thế giới thì quá trình hội nhập kinh tế - văn hóa - xã hội giữa các nước là tất
yếu khách quan. Quá trình này không chỉ tác động đến nền kinh tế các nước trong
khu vực hội nhập mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp trong mỗi quốc gia. Nó đem lại cho các doanh nghiệp những
thị trường mới, sân chơi mới, nhưng đồng thời cũng tạo ra không ít những rào cản,
những khăn. Mở rộng thị trường đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp sẽ phải mặt
với ngày càng nhiều các đối thủ cạnh tranh khác nhau trên toàn thế giới, sự cạnh
tranh ngày càng diễn ra khốc liệt hơn. Vì thế, để có thể tồn tại trên thị trường và
nâng cao kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các công ty cần xây
dựng cho mình những bước đi đúng đắn, chú trọng quan tâm đúng mức đến hoạt
động Marketing mục tiêu của doanh nghiệp, vì nó chính là nền tảng là cơ sở cho
các quyết định quản trị Marketing. Song song với hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp là sự biến động của môi trường và thị trường. Vậy các công
ty đã thích ứng với sự biến động ấy như thế nào? Các quyết định xúc tiến ra sao?
Để đánh giá được vấn đề đó, nhóm 11 đã quyết định lựa chọn đề tài: “Phân tích
nội dung Marketing mục tiêu của một công ty kinh doanh cụ thể. Đánh giá sự
thích ứng các quyết định các xúc tiến của công ty trên với sự thay đổi tình thế
của môi trường và thị trường”.
1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH MARKETING MỤC
TIÊU.
1.1. Bản chất của quá trình marketing mục tiêu.
Marketing mục tiêu là quá trình xác định các thị trường trung tâm, đặt mục tiêu
cùng các nỗ lực marketing cho các phân đoạn được lựa chọn. Thực chất của
marketing mục tiêu là xuất phát từ nhu cầu của thị trường rất đa dạng và khác biệt.
Trong các công ty sản xuất kinh doanh, marketing mục tiêu là một quá trình được
quản lý. Như vậy, marketing mục tiêu không phải là một hành vi riêng lẻ mà nó
động tìm kiếm đoạn thị trường có hiệu quả đòi hỏi việc phân đoạn thị trường phải
đảm bảo được những yêu cầu cơ bản sau:
+ Đo lường được: Phân đoạn thịt rường phải đảm bảo đo lường được quy mô,
sức mua và các đặc điểm khác của khách hàng ở từng giai đoạn. Yêu cầu này là tối
cần thiết để dự báo khối lượng tiêu thụ, chi phí sản xuất, doanh thu và lợi nhuận.
Yêu cầu đo lường được các mối quan hệ khá chặt chẽ với những cơ sở được sử
dụng để phân đoạn. Trên thực tế có nhiều cơ sở để phân đoạn thijt rường rất dễ đo
lường (ví dụ: tuổi, thu nhập ) nhưng lại có một số khác rất khó đo lường (ví dụ:
những người thuận tay trái, tâm lý ).
+ Có quy mô đủ lớn: Việc phân đoạn thị trường phải hình thành được những
nhóm khách hàng có quy mô đủ lớn húa hẹn khả năng sinh lợi, nghĩa là tạo được
doanh thu lớn hơn chi phí khi cung ứng trên đoạn thị trường đó.
+ Có thể phân biệt được: Mục đích của phân đoạn thị trường là xác định được
thị trường mục tiêu. Nếu các đoạnt hị trường được hình thành không có sự khác
biệt có thể nhận thấy được thì khó lòng thiết kế được các chương trình Marketing
riêng.
+ Có tính khả thi: Sau khi phân đoạn sẽ có vô số các đoạn thị trường khác
nhau với các cơ hội kinh doanh khác nhau. Với mỗi doanh nghiệp những đoạn thị
trường có giá trị phải là những đoạn mà doanh nghiệp có khả năng tiếp cận được.
“Khả năng tiếp cận” có nghĩa là: các hoạt động Marketing của doanh nghiệp phải
tiếp cận được với khách hàng và phải có đủ nguồn lực để xây dựng, thực hiện các
chương trình Marketing hiệu quả, có khả năng thu hút, thỏa mãn được nhu cầu của
khách hàng ở phân đoạn đó.
c, Cơ sở phân đoạn thị trường.
3
- Phân đoạn thị trường người tiêu dùng: Marketing thường sử dụng bốn cơ sở
chính để phân đoạn thị trường, bao gồm: địa lý, nhân khẩu, tâm lý, hành vi. Các cơ
sở này đều là nguồn gốc tạo nên sự khác biệt nhu cầu, ước muốn, các đặc điểm về
hành vi là những đòi hỏi Marketing riêng. Mỗi một cơ sở lại bao gồm nhiều tiêu
thức (biến số cụ thể hàm chứa một ý nghĩa riêng trong việc phản ánh đặc điểm của
Mục đích của đánh giá phân đoạn thị trường là nhận dạng được mức độ hấp dẫn
của chúng trong việc thực hiện mục tiêu doanh nghiệp. Khi đánh giá các đoạn thị
trường người ta sử dụng ba tiêu chuẩn cơ bản:
+ Quy mô và mức tăng trưởng của đoạn thị trường.
Một đoạn thị trường được coi là có hiệu quả nếu nó đầy đủ tầm cỡ để bù đắp lại
những nỗ lực Marketing không chỉ trong hiện tại mà trong cả tương lai cảu doanh
nghiệp. Vì vậy, việc xác định đúng đắn quy mô và khả năng tăng trưởng luôn được
coi là vấn đề đầu tiên khi lựa chọn lựa thị trường mục tiêu. Đoạn thị trường có quy
mô lớn và mức tăng trưởng cao luôn hứa hẹn mức tiêu thụ và lợi nhuận cao trong
tương lai song quy mô và mức tăng trưởng cao chắc chắn sẽ có nhiều đối thủ cạnh
tranh.
+ Mức độ hấp dẫn về cơ cấu thị trường.
Áp lực cạnh tranh, theo M.Porter có 5 áp lực cạnh tranh: đe dọa thừ gia nhập của
đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, sức ép từ phía nhà cung ứng, sức ép từ phía khách
hàng, đe dọa của sản phẩm thay thế, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
ngành.
+ Các mục tiêu và khả năng của doanh nghiệp: nguồn lực, tào chính, nhân sự, công
nghệ, năng lực quản lý
b, Lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu.
Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầu hoặc
mong muốn mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng, đồng thời cấc hoạt động
marketing của doanh nghiệp có thể tạo ra ưu thế so với đối thủ cạnh tranh và đạt
được các mục tiêu kinh doanh.
Lựa chọn thị trường mục tiêu với 5 phương án:
+ Tập trung vào một đoạnt hị trường.
+ Chuyên môn hóa tuyển chọn.
+ Chuyên môn hóa theo đặc tính thị trường.
+ Chuyên môn hóa theo đặc tính sản phẩm.
5
+ Bao phủ toàn bộ thị trường.
2.1. Khái quát về công ty sữa Vinamilk.
Vinamilk là tên viết tắt của công ty sữa Việt Nam, được thành lập trên quyết
định số155/2003QĐ-BCN ngày 10 năm 2003 của Bộ Công nghiệp về chuyển
doanh nghiệp Nhà nước Công Ty sữa Việt Nam thành Công ty Cổ Phần Sữa Việt
Nam. Giấy phép đăng ký kinh doanh: Lần đầu số 4103001932 do Sở Kế hoạch và
Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/11/2003. Lần 8 số: 0300588569 cấp
ngày 12/10/2009. Tên giao dịch theo tiếng anh là: “VIETNAM DAIRY
PRODUCTS JOINT STOCK COMPANY”.
Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Năm 1976: tiền thân là công ty Sữa, Cafè Miền Nam, trực thuộc Tổng cục Công
nghiệp thực phẩm, với 6 đơn vị là Nhà máy sữa Thống Nhất, Nhà máy sữa Trường
Thọ, Nhà máy sữa Dielac, Nhà máy Café’ Biên Hòa, Nhà máy bột Bích Chi và
Lubico.
Năm 1978: Công ty được chuyển cho Bộ Công nghệp thực phẩm quản lý và đổi
tên thành Xí Nghiệp Liên Hợp Sữa Café và Bánh kẹo I.
Năm 1992: Chính thức đổi tên thành Công ty Sữa Việt Nam và thuộc sự quản lý
trực tiếp của Bộ Công nghiệp nhẹ.
Năm 1996: liên hiệp với công ty cổ phần Dông lạnh Quy Nhơn lập xí nghiệp
liên doanh sữa Bình Định.
Năm 2003: Chính thức chuyển đổi thành công ty Cổ phần vào tháng 11/2003 và
đổi tên thành công ty Cổ phần Sữa Việt Nam.
Năm 2004: Mua công ty Cổ phần sữa Sài Gòn, tăng vốn điều lệ của công ty lên
1590 tỷ đồng.
Năm 2005: Mua số cổ phần còn lại của đối tác liên doanh trong công ty liên
doanh sữa Bình Định. Khánh thành nhà máy sữa Nghệ An vào ngày 30/06/2005
(đặt tại khu công nghiệp Cửa Lò- Nghệ An). Liên doanh với công ty SABmiller
Asia B.V để thành lập công ty TNHH lên doanh SABMiller Việt Nam vào tháng
8/2005. Sản phẩm đầu tiên của công ty liên doanh mang thương hiệu Zorok tung
ra thị trường vào giữa năm 2007.
7
Với nguồn lực của doanh nghiệp khá lớn, mức độ có thể đa dạng hóa sản phẩm
cao nên sữa nước Vinamilk lựa chọn chiến lược tập trung toàn bộ thị trường với
mỗi đoạn thị trường mỗi đối tượng khách hàng đều có những sản phẩm phù hợp.
8
+ Đối với trẻ nhỏ dưới 6 tuổi thì có sữa hộp 110ml, trẻ từ 6 tuổi trở lên và người
lớn thì có hộp 180ml-200ml. Có nhiều cách đóng gói như hộp giấy, bịch giấy để
tiện lợi khi sử dụng, mang theo dễ dàng
+ Người bình thường thì có thể dùng được nhiều loại sữa: sữa thanh trùng, tiệt
trùng có đường, không đường, sữa hương dâu, hương socola
+ Người bị suy dinh dưỡng hay người già thì dùng sữa tiệt trùng giàu canxi
+ Người bị bệnh tiểu đường, béo phì thì dùng sữa ít béo flex không đường, tiệt
trùng không đường.
→ Tuy nhiên đối tượng khách hàng mục tiêu mà Vinamilk hướng đến đó là trẻ em
và thị trường tầm trung bình dân.
Đánh giá mức độ cạnh tranh trên đoạn thị trường: thông qua mô hình SWOT:
S (điểm mạnh) W (điểm yếu)
- S
1
: Vinamilk là công ty sữa hàng đầu
Việt Nam được sự hỗ trợ bởi truyền
thống hoạt động uy tín, cũng như
thương hiệu đã được xây dựng lâu năm.
- S
2
: Sản phẩm đa dạng thích hợp cho
các độ tuổi và đáp ứng cac snhu cầu
khác nhau của khách hàng.
- S
3
: Vinamilk có mạng lưới kênh phân
phận đối tượng người tiêu dùng trong
nước có thể tiếp cận với các sản phẩm
của đối thủ cạnh tranh.
- W
3
:Thị phần lớn, thương hiệu mạnh
nhưng nếu so sánh về giá cả thid các sản
phẩm của công ty chưa có tính cạnh
tranh cao so với các sản phẩm khác.
O (cơ hội) T (thách thức)
- O
1
: Thị trường sữa Việt Nam ngày
càng phát triển do thu nhập người dân
ngày càng được cải thiện, nhu cầu tiêu
dùng cac sản phẩm tăng cường sức khỏe
như sữa ngày một gia tăng.
- O
2
: Với lợi thế là một doanh nghiệp
- T
1
: Sữa (đặc biệt là sữa bột nhập khẩu
dành cho trẻ em) hiện nay vẫn nhận
được sự quan tâm cảu nhiều người tiêu
dung trong nước. Sữa nước, sữa chua và
sữa đặc là những sản phẩm mà Vinamilk
đã chiếm được thị phần lớn. Tuy nhiên
9
nội địa trong ngành Vinamilk sẽ dễ dàng
2
: Thị trường xuất khẩu chỉ đóng góp
tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu doanh thu của
Vinamilk, hiện naychur yếu tiêu thụ các
sản phẩm sữa đặc và sữa bột. Tuy nhiên
những thị trường xuất khẩu này cũng
đang tiềm ẩn nhiều rủi ro chính trị: Thái
Lan, Irac
- T
3
: Sữa ngoại đang thao túng phân
đoạn thị trường suwaax Việt Nam, gây
khó khăn trong cạnh tranh của công ty.
- T
4
: Sữa nhiếm Melamin tại Trung
Quốc ảnh hưởng tới tâm lý người tiêu
dùng sữa trong nước, làm quá trình tiêu
thu sữa trững lại.
- T
5
: Dòng sữa tươi và sữa nước có sản
phẩm thay thế như nước uống có ga,
nước tăng lực
2.2.3. Định vị thị trường.
a) Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường:
Có nhiều lợi thế cạnh tranh nhưng theo nghiên cứu về hành vi mua của người
tiêu dùng thì khách hàng quan tâm đến chất lượng hơn đồng thời chất lượng cũng
là lợi thế cạnh tranh mạnh nhất của Vinamilk.
b) Sự khác biệt về hình ảnh, thương hiệu:
chấp nhận hạ giá bán tới mức có thể để đạt quy mô thị trường lớn nhất. Vinamilk
chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của Dutch Lady (Cô gái Hà Lan), Netslé, Mộc Châu
và Hà nội Milk
- Các chiến lược về giá của Vinamilk trong thời gian qua.
+ Chính sách giá của Vinamilk khá ổn định:
Trong đợt tăng giá sữa của các công ty sữa từ giữa năm 2008 Chỉ có hai
hãng Vinamilk và Nutifood không tăng giá, mặt khác giá sữa tươi nguyên liệu
giảm.
+ Chính sách đắt tiền hơn để có chất lượng tốt hơn:
Một loạt nhãn hiệu được nâng cấp như Dielac lên Dielac Alpha có sữa non
colostrum của Vinamilk, Friso lên Friso Gold, 123 456 nâng cấp với TT ratio của
Dutch Lady, Dumex nâng cấp thành Dumex Gold của Dumex. Nếu như các sản
11
phẩm hiện tại có giá trị định vị thấp thì thường các công ty sử dụng hình thức định
vị giá trị cao hơn nhưng giữ nguyên giá. Rõ nét nhất là Vinamilk khi Vinanmilk
định vị dòng sữa tiệt trùng và sữa chua của họ.
+ Chính sách về giá thu mua sữa tươi của Vinanmilk.
Chủ trương: Vùng có nhiều đồng cỏ, không có đô thị hóa, có điều kiện chăn
nuôi tốt nhưng phải vận chuyển sữa đi xa thì giá thấp hơn. Vinamilk luôn điều
chỉnh giá mua sữa theo mùa vụ và theo tình hình giá sữa thế giới. Vinamilk xây
dựng một loạt trang trại chăn nuôi bò quy mô lớn nhằm hạn chế gánh nặng
nguyên vật liệu đầu vào cho sữa tươi của mình.
+ Chiến lược phân phối:
- Các đại lý: Hệ thống đại lý của công ty phân thành hai loại:
Với nhóm sản phẩm về sữa (sữa đặc, sữa bột…) : không bán bất kỳ sản phẩm
sữa nào khác.
Với nhóm sản phẩm kem, sữa chua, sữa tươi: Công ty chủ trương mở rộng rãi và
không hạn chế ngặt nghèo về các điều kiện của đại lý.
Hiện tại Vinamilk đưa sản phẩm tới khách hàng qua hai kênh phân phối:
- Phân phối qua kênh truyền thông.
trọng nhiều nhất nhằm định vị sản phẩm có chỗ đứng vững chắc trong lòng khách
hàng. Tới giai đoạn bão hòa và suy thoái thì ngân sách dành cho quảng cáo thường
giảm xuống. Đặc biệt sau cuộc cải tổ hình ảnh thương hiệu 1 cách toàn diện và các
chiến dịch quảng cáo mạnh mẽ, đặc biệt là nhãn hàng sữa tươi của Vinamilk đã đạt
13
được thành công khi tạo ra hình ảnh mới cho sản phẩm của mình đó là "sữa tươi
tiệt trùng 100%" đã đánh trúng tâm lý khách hàng muốn có sản phẩm từ thiên
nhiên, giàu dinh dưỡng và tốt cho sức khỏe. Năm 2010, Vinamilk tung ra sản phẩm
mới sữa tươi 100% thanh trùng. Đây là sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu sữa
bò tươi nguyên chất 100% được sản xuất theo quy trình khép kín, hiện đại: “Sữa
tươi 100% tiệt trùng đã tốt sữa 100% thanh trùng còn tốt hơn”.
- Quyết định thông điệp quảng cáo.
Yếu tố sáng tạo trong quảng cáo là một yếu tố quan trọng và không thể thiếu
trong một chương trình quảng cáo chất lượng. Khi xây dựng chiến lược sáng tạo
phải trải qua 3 bước: hình thành thông điêp, đánh giá và lựa chọn thông điệp, thực
hiện thông điệp.
+ Hình thành thông điệp:
Quảng cáo với thông điệp "sữa tươi nguyên chất 100%"( trăm phần trăm,
trăm phần trăm, sữa tươi nguyên chất trăm phần trăm) để thu hút và lấy lại lòng tin
của khách hàng sau vụ sữa nhiễm melamin của công ty Meji gây hoang mang cho
người tiêu dùng. Chớp lấy cơ hội đó Vinamilk đã tung ra quảng cáo với thông điệp
sữa tươi nguyên chất 100% đối với sản phẩm của mình để người tiêu dùng quay
sang mua sản phẩm của Vinamilk. Công ty cũng đã đưa ra thị trường sản phẩm sữa
tươi 100% tanh trùng với thông điệp quảng cáo "Giữ tốt nhất dưỡng chất từ sữa bò
tươi nguyên chất". Sữa tươi thanh trùng được xử lý ở nhiệt độ thấp hơn 75
0
C trong
khoảng 30 giây sau đó được làm lạnh đột ngột xuống 4
0
C. Do được xử lý ở nhiệt
miễn phí cho trẻ em nghèo Việt Nam đã tạo điều kiện giúp cá trẻ em nghèo khắp
cả nước thưởng thức nguồn sữa giàu dinh dưỡng và đem lại sức khỏe mà các em
từng mơ ước. Quảng cáo cho chương trình "6 triệu ly sữa cho trẻ em nghèo" là một
quảng cáo thành công cả về nội dung, âm thanh, hình ảnh. “Sống trong đời sống
cần có một tấm lòng, để làm gì…, để gió cuốn đi”, bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công
Sơn cất lên trong mẩu quảng cáo Quỹ 6 triệu ly sữa cho trẻ em nghèo Việt Nam
của Vinamilk. Chỉ một câu đọc trầm ấm: “Hãy uống sữa Vinamilk để đóng góp 6
triệu ly sữa cho trẻ em nghèo trên khắp Việt Nam” cũng làm lòng yêu thương trong
mỗi chúng ta trỗi dậy. Mỗi khi đứng trước kệ hàng, phải phân vân chọn giữa Dutch
Lady và Vinamilk, mọi người vẫn thường chọn Vinamilk vì nghĩ rằng mình sẽ
đóng góp một phần nhỏ bé cho trẻ em nghèo.
Năm 2009-2010 là năm thứ 7 liên tiếp quỹ học bổng "Vinamilk- Ươm mầm tài
năng trẻ" được triển khai. Đây là hoạt động nhằm tạo điều kiện và động viên các
em phấn đấu trở thành nhân tài đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước.
Ngoài ra, Vinamilk đã nhận phụng dưỡng suốt đời 20 bà mẹ Việt Nam anh
hùng ở tỉnh Bến Tre và Quảng Nam, xây dựng 72 căn nhà tình nghĩa, 120 nhà tình
thương, đóng góp quỹ tình đền ơn đáp nghĩa, quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ vì
15
người nghèo, quỹ tài năng trẻ, quỹ nạn nhân chất đọc màu da cam; hỗ trợ tiền phẫu
thuật hở môi, hàm ếch cho trẻ em dị tật, Mới đây, nhân ngày kie niệm 300 năm
thành lập công ty đã trích 7 tỷ đồng hỗ trợ cho hoạt động từ thiện hướng tới các trẻ
em nghèo, khuyết tật trên toàn quốc thông qua Qũy Bảo trợ Trẻ em Việt Nam.
Ngoài các hoạt động trên, Vinamilk còn dành hơn 1 tỷ đồng tham gia các hoạt
động từ thiện khác: hỗ trợ đồng bào lũ lụt Miền Trung, tài trợ 500 triệu đồng xây
dựng cầu Chôm Lôm-Nghệ An
Với chương trình tiếp cận khách hàng thường xuyên và thân thiện hơn
Vinamilk đang và sẽ có thêm nhiều chương trình hướng tới cộng đồng trong tương
lai.
3.1.3. Xúc tiến bán.
Mục đích của xúc tiến bán là kích cầu tiêu dùng, thúc đẩy người tiêu dùng mua
lãnh thổ trên thế giới. Qua đó, các bé sẽ hiểu và nhớ kiến thức ngoại khóa bổ ích
như lá cờ, trang phục hay danh thắng nổi tiếng. Khuyến mại được áp dụng khi mua
một lốc sữa Vinamilk ADM+ Bổ Sung Vi Chất loại 180ml hoặc 110ml trên phạm
vi toàn quốc và sẽ kết thúc vào ngày 5/7/2013 hoặc cho đến khi hết hàng khuyến
mãi.
- Chương trình khuyến mãi “Quà xinh tặng Mẹ và Bé” từ ngày 15/10/2013-
23/12/2013: Cho tất cả khách hàng mua sản phẩm Dielac Alpha 123, Dielac Alpha
456, Dielac Mama. Trong thời gian khuyến mại, nếu khách hàng mua 04 hộp thiếc
loại 900g trong danh sách sản phẩm khuyến mại nêu trên sẽ được tặng 01 trong 04
phần quà hấp dẫn sau:
+ 1 áo khoác bé 3 tuổi
+ Hoặc 1 áo khoác bé 6 tuổi
+ Hoặc 1 áo khoác mẹ
+ Hoặc 1 balo cho bé.
+ Quy đổi 02 hộp thiếc hoặc 02 hộp giấy loại 400g thành 01 hộp thiếc 900g.
3.1.4. Marketing trực tiếp.
17
Vinamilk cũng quan tâm đến marketing trực tiếp, song chủ yếu thông qua các
kênh trung gian như đại lý, siêu thị để phân phối sản phẩm của mình tới tay người
tiêu dùng. Vinamilk đã quảng bá sản phẩm rộng rãi tới người tiêu dùng qua các
phương tiện thông tin đại chúng: tivi, tạp chí, Internet, poster…. với hình ảnh cánh
đồng cỏ xanh bát ngát, đầy nắng gắn liền với nó là những chú bò vui vẻ nhảy múa,
hát ca thể hiện sự gần gũi với thiên nhiên, tràn đầy sức sống. Ta mới thấy công ty
Vinamilk đã có dịch vụ chăm sóc khách hàng và phản hồi thông tin cho khách
hàng. Chúng ta có thể vào trang chủ của công ty Vinamilk để biết rõ
http://vinamilk.com.vn trong mục phản hồi thông tin có các phần:
• Hỏi – đáp.
• Phản hồi từ báo chí.
• Phản hồi từ người tiêu dùng.
• Bộ quy tắc ứng xử - Vinamilk.
trường xuất khẩu với việc đưa sản phẩm sữa tới 16 quốc gia trên thế giới, trong đó
có: Mỹ, Úc, Canada, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Sri Lanka, Philippines, Hàn Quốc…
Trong bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn, thách thức Vinamilk vẫn tăng
trưởng và phát triển vững mạnh mẽ, duy trì tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu và
đặc biệt là nộp ngân sách nhà nước, giữ vững thị trường nội địa và phát triển thị
trường xuất khẩu. Năm 2012, Vinamilk đã đạt doanh thu hơn 27.300 tỷ đồng, trong
đó kim ngạch xuất khẩu đạt gần 180 triệu USD, nộp ngân sách nhà nước hơn 2.900
tỷ đồng. Năm 2012 cũng là năm sản lượng tiêu thụ của Vinamilk đạt được cao nhất
từ trước tới nay với trên 4 tỷ sản phẩm. Năm 2012, tình hình kinh tế trong nước và
thế giới vẫn gặp nhiều khó khăn, nhưng Vinamilk vẫn luôn đạt mức tăng trưởng
ngoạn mục. Ngoài thị trường trong nước, sản phẩm của Vinamilk có mặt tại 23
quốc gia trên thế giới. Trong chiến lược phát triển, Vinamilk phấn đấu để lọt vào
top 50 doanh nghiệp sữa lớn nhất thế giới với doanh số3 tỷ USD vào năm 2017.
Trải qua các giai đoạn phát triển, Vinamilk đã không ngừng mở rộng về quy mô
lẫn thị trường và đặc biệt cho ra đời nhiều sản phẩm có giá trị cao không chỉ đáp
ứng nhu cầu trong nước, mà còn hướng xuất khẩu.
Nhiều năm qua, với những nỗ lực phấn đấu vượt bậc, Vinamilk đã trở thành
mộttrong những doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trên tất cả các mặt, thành
tựu của Công ty đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước.
3.2.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân gây ra, giải pháp.
Hạn chế.
19
Hoạt động xúc tiến bán hàng của Vinamilk chưa được chú trọng nhiều. Cụ
thể là như hầu như Vinamilk chỉ mới quan tâm đến các đại lý phân phối của mình,
ít có các hoạt động trưng bày, triểm lãm, chưa có hoạt động xúc tiến bán ở tại nơi
bán hàng của nhân viên.Vinamilk ít quan tâm đến marketing trực tiếp, chủ yếu
thông qua các kênh trung gian như: các đại lý, siêu thị để phân phối sản phẩm của
mình tới tay người tiêu dùng.
Vinamilk chưa có một cơ quan độc lập để kiểm tra chất lượng sản phẩm và công
mạnh hoạt động xúc tiến để đưa ra các quyết định xúc tiến hợp lý, hiệu quả sao
cho phù hợp với thị trường.
Nắm bắt sự thay đổi của môi trường và thị trường rất quan trọng. Điều đó
quyết định đến hoạt động xúc tiến của công ty. Hơn nữa, trước tình hình thị trường
đang ngày càng có nhiều biến động như hiện nay thì công ty cần phải thật nhanh
nhạy để có thể thích ứng và bắt kịp với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường
và thị trường; đồng thời từ đó có thể đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn
và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
21