tiểu luận Tư tưởng của M.Gandhi và sự lãnh đạo của Đảng Quốc Đại ấn Độ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chống thực dân Anh - Pdf 26

Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương
A. MỞ ĐẦU
1. LÝ do chọn đề tài
Từ lâu, đối với người Phương Tây, Ên Độ là đất nước thần kì và giàu
có. Chính sự giàu có đó đã thôi thúc các nước Phương Tây sớm tìm đến xứ
sở đã có thời gian được xem là một "Phương Đông" này. Ên Độ với lịch sử
lâu đời đã được coi là cái nôi của một nền văn minh lớn và phong phó.
Chính sách thống trị của thực dân Anh làm cho mâu thuẫn giữa toàn
dân téc Ên Độ và thực dân Anh trở nên gay gắt. Nó đã châm ngòi bùng nổ
phong trào đấu tranh giải phóng dân téc. Cuộc đấu tranh giải phóng dân téc
của nhân dân Ên Độ là một bộ phận của cuộc đấu tranh của nhân dân, của
nhân dân thế giới góp phần đánh bại chủ nghĩa thực dân. Vì thế, cuộc đấu
tranh đó không chỉ quan trọng với lịch sử Ên Độ mà còn có ảnh hưởng rất
lớn đối với tất cả các dân téc bị áp bức, nô dịch trên thế giới.
Thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh giải phóng dân téc thường diễn ra
với hai con đường: Vô sản và tư sản. Nếu như ở Việt Nam, Trung Quốc
giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc đấu tranh để đi đến độc lập tự do thì ở Ên Đé
lại chọn con đường do giai cấp tư sản lãnh đạo để đi đến thành công cuối
cùng. Bằng sức mạnh của đông đảo quần chúng nhân dân, với đường lối
"bất lao động" và "bất hợp tác" của Gandhi và sự lãnh đạo của Đảng Quốc
Đại đã buộc thực dân Anh phải từng bước trao trả độc lập cho Ên Độ.
Nghiên cứu và nhận định con đường giải phóng dân téc của Ên Độ,
chúng ta không thể không nghiên cứu tư tưởng, đường lối của M.Gandhi và
sự lãnh đạo của Đảng Quốc Đại. Vì tư tưởng "bất hợp tác trong bất bạo
động" của Gandhi đã chi phối toàn bộ hoạt động của Đảng Quốc Đại, trở
thành cương lĩnh đấu tranh của Đảng Quốc Đại để lãnh đạo nhân dân vươn
tới mục tiêu độc lập.
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương
Nghiên cứu phong trào đấu tranh giải phóng dân téc Ên Độ còn có ý

nước Châu Á" - Đỗ Thanh Bình (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia, 1989.
Giáo trình lịch sử thế giới cận đại và giáo trình lịch sử thế giới hiện đại của
Nguyễn Anh Thái đã đề cập nhiều đến tình hình Ên Độ từ xưa đến nay,
phong trào đấu tranh đi đến độc lập và con đường phát triển sau khi giành
độc lập.
Ngoài ra, còn có nhiều đề tài nghiên cứu về vai trò của M.Gandhi
hoạt động của Đảng Quốc Đại, các luận văn, luận án, các tạp chí nghiên
cứu lịch sử đã cung cấp nhiều tư liệu cần thiết để tôi tham khảo tìm hiểu
hoàn thành nghiên cứu đề tài:
"Tư tưởng của M.Gandhi và sự lãnh đạo của Đảng Quốc Đại Ên Độ
trong cuộc đấu tranh giải phóng dân téc chống thực dân Anh."
3. Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài.
3.1. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này chủ yếu tập trung tìm hiểu vÒ tư tưởng, đường lối của
M.Gandhi và ảnh hưởng của nó với hoạt động của Đảng Quốc Đại trong
cuộc đấu tranh giành độc lập cho Ên Độ khỏi sự thống trị của thực dân Anh
thời kì 1917 - 1950.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài.
Đề tài này tập trung làm rõ tư tưởng, đường lối của M.Gandhi và sự
lãnh đạo của Đảng Quốc Đại Ên Độ trong phong trào giải phóng dân téc
chống thực dân Anh. Đề tài cũng đề cập khái quát tới chính sách thống trị
của thực dân Anh và yêu cầu của lịch sử Ên Độ làm nền cho nội dung
chính của đề tài. Qua đó, trình bày vai trò của Gandhi và Đảng Quốc đại rót
ra nhận xét và kết luận.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương
Việc lùa chọn phương pháp nghiên cứu là một vấn đề quan trọng. Để
hoàn thành đề tài này, em đã sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử :
Tìm tòi nghiên cứu các tài liệu liên quan đến phong trào đấu tranh chống

nhất định và luật lệ riêng của các thủ lĩnh địa phương.
Cùng với sự đông đúc về dân cư là sự phức tạp về chủng téc và sự đa
dạng về ngôn ngữ. Căn cứ các tài liệu, người ta cho rằng dân cư bản địa
của Ên Độ là người Đraviđa. Song đông nhất là người Arya có gốc gác từ
vùng Trung Á, di cư xuống vào khoảng giữa thế kỷ II trước Công nguyên
(năm 1600 Trước công nguyên). Lần lượt vào thời gian đó người Hy Lạp,
người ARập và người Mông Cổ từ phía Bắc và Tây Bắc xâm nhập vào Ên
Độ. Bán đảo này trở thành chiếc nôi thu nạp nhiều téc người. Ngoài téc
người kể trên, qua quá trình thôn tính lẫn nhau trong thời cổ đại còn có cả
người Do Thái, người Xích, người Kim. Dù các téc người sống xen kẽ,
nhưng do nguyên nhân về địa lý, lịch sử nhất định, họ vẫn giữ được dáng
vẻ, phong tục, ngôn ngữ của riêng mình. Chính điều này làm cho Ên Độ
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương
ngày càng trở nên phức tạp về téc người và là những trở ngại cho sự phát
triển của đất nước, cho quá trình chống ngoại xâm sau này.
Bên cạnh những khác biệt về lối sống, tập quán giữa các chủng téc,
còn phải kể đến những khác biệt về ngôn ngữ. Đến nay nhiều ngôn ngữ dù
biến mất nhưng "theo những cách tính khác nhau, tài liệu dè dặt nhất cũng
kể đến 200 ngôn ngữ, có tài liệu nâng lên đến 1500 ngôn ngữ, trong đó chỉ
có độ 60 ngôn ngữ có chõng 100 người sử dụng [8.9] . Theo hiến pháp Ên
Độ công nhận 15 ngôn ngữ chính thức. Đó là các ngôn ngữ: "Hinđu,
Asamain, Bengali, Gugiarati, Kanmara, Kasmiri, Marati, Malagan,
Pengơabi, Sanscrit, Sinđhi, Famin, Kêlugu, Uôcđu" [1.19]. Trên thực tế chỉ
có hai ngôn ngữ sử dụng rộng rãi là tiếng Hinđu và tiếng Anh. Sự đa dạng
ngôn ngữ đã tạo nên bản sắc riêng biệt về văn hoá trong các téc người và
nó gây ra không Ýt khó khăn phức tạp trong quá trình giao lưu. Ngay trên
đồng tiền 10 rupi - đồng tiền được lưu hành trong toàn quốc - người ta phải
cho in tới 12 thứ tiếng tương đương 12 ngôn ngữ địa phương. Chính điều
này đã chứng tỏ rằng việc tạo ra một khối đoàn kết là rất khó khăn với Ên

Họ bị coi là những người "không thể tiếp xúc được", "những người không
thể sê mó" (Untouchable). Họ hầu như bị loại ra khỏi đời sống xã hội bình
thường.
Tất cả những sự phân biệt đẳng cấp đến mức kỳ cục, vô nhân đạo đó
lại được củng cố bởi những thành kiến tôn giáo lạc hậu và phản động đã
được duy trì rất lâu trong lịch sử Ên Độ. Hơn thế, nó còn được quy định
bằng luật và dần dần trở thành tập quán vững chắc, ăn sâu trong tâm trí con
người Ên Độ. Nó đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển và bảo
vệ đất nước. Nó trở thành một vấn đề trong nhiều vấn đề mà "muốn được
độc lập nhân dân Ên Độ phải giải quyết được những xích mích trong nước
còn tiếp tục phát triển trên đất Ên Độ [16.8], đây được xem như là một trở
ngại lớn trên con đường đấu tranh đưa Ên Độ đến độc lập.
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương
Như vậy, chúng ta thấy rằng: Ên Độ là một xứ sở "đa dạng và phức
tạp". Trải dài trên một diện tích lớn, lại luôn tồn tại yếu tố chia cắt đã tạo ra
cho Ên Độ sự khó khăn không nhỏ. Hơn thế, Ên Độ lại là nước đông dân,
có nhiều téc người và tôn giáo. Phức tạp hơn, xã hội Ên Độ lại bị phân chia
theo chế độ đẳng cấp nặng nề. Tất cả những điều này là trở ngại lớn trong
quá trình đánh đuổi kẻ thù, đưa Ên Độ đến độc lập. Muốn đấu tranh chống
thực dân Anh thành công, dân téc Ên Độ muốn có độc lập thực sự, bắt buộc
Ên Độ phải giải quyết được những khó khăn "xuất phát" từ chính đất nước
Ên Độ - đất nước "đa dạng và phức tạp" - Chỉ khi có một cộng đồng thống
nhất, khối đoàn kết dân téc vững chắc, Ên Độ mới thực sự là một "dân téc"
theo đúng nghĩa của nó. Dân téc đó sẽ dùng chính sức mạnh tinh thần dân
téc đập tan âm mưu nô dịch của kẻ thù.
1.2. Sự xâm lược, thống trị của thực dân Anh và yêu cầu của lịch
sử Ên Độ.
1.2.1. Sự xâm lược, thống trị của thực dân Anh.
Từ lâu đối với người Phương Tây, Ên Độ là một đất nước thần kỳ và

đẩy mạnh việc thu thuế ruộng đất. Trong lĩnh vực công thương nghiệp,
chính quyền Anh áp dụng biện pháp để vơ vét nguyên liệu, tiền của phục
vụ cho nền công nghiệp Anh, biến Ên Độ thành nơi tiêu thụ hàng hoá cho
công nghiệp Anh. Khoảng từ năm 1814 - 1835, số vải bông của Anh xuất
khẩu sang Ên Độ tăng [3.96]. Hàng vải lụa của Anh đã bóp chết ngành dệt
vải lụa có tiếng của Ên Độ một cách không thương tiếc. Hàng vạn thợ dệt
Ên Độ thất nghiệp, các thành phố dệt truyền thống của Ên Độ trở nên
hoang vắng, tiêu điều.
Vào những năm cuối thế kỉ XIX, nền tài chính Ên Độ hoàn toàn bị lệ
thuộc vào nước Anh "Sự bóc lét Ên Độ của tư bản tài chính đã trở thành
đặc điểm chủ yếu hồi thế kỷ XIX" [15.48]. Ngân hàng Luân Đôn cho chính
phủ Anh ở Ên Độ vay từ 4 triệu bảng lên tới 133 triệu bảng trong nửa sau
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương
thế kỷ XIX. Sự đầu tư của Anh vào Ên Độ ở lĩnh vực cơ sở hạ tầng, xây
dựng xí nghiệp chế biến, hệ thống đường bộ, đường sắt để tạo điều kiện vật
chất nhằm mở rộng việc vơ vét nguồn tài nguyên giàu có của đất nước này.
Đồng thời với những chính sách về kinh tế, chính trị, thực dân Anh
còn thi hành những biện pháp về văn hoá - xã hội nhằm đưa xã hội Ên Độ
vào vùng ngu tối. Về giáo dục, Anh thi hành chính sách ngu dân. Về xã
hội, Anh tìm cách duy trì các đẳng cấp và sự phân biệt đối xử, nhằm đẩy
Ên Độ luôn ở tình trạng mâu thuẫn đối lập nhau, đặc biệt là mối liên quan
giữa người Hinđu và người Hồi giáo luôn bị Anh biến thành "tai hoạ" bất
cứ lúc nào. Bên cạnh đó, thực dân Anh còn khuyến khích những tập quán
cổ xưa, phản động của tôn giáo Ên Độ. Những việc làm của thực dân Anh
là những việc làm của "một chế độ phản động cố duy trì địa vị của nó để
chống lại phong trào nhân dân" của dân téc Ên Độ đang chuẩn bị bùng lên.
1.2.2. Yêu cầu lịch sử của Ên Độ.
Thực dân Anh đã hoàn thành cuộc xâm lược Ên Độ vào giữa thế kỷ
XIX. Sự áp bức, bóc lột nhân dân đè nặng lên nhân dân Ên Độ. Nền độc lập

Hương
Chương 2
TƯ TƯỞNG CỦA M.GANDHI VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
QUỐC ĐẠI ÊN ĐỘ TRONG CUỘC ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG
DÂN TÉC CHỐNG THỰC DÂN ANH
2.1. Tư tưởng, đường lối của M.Gandhi
2.1.1 Vài nét về Gandhi.
Mohandas Karamhand Gandhi sinh ngày 2/10/1869 ở Bang
Gugiarat, miền Tây Ên Độ. Cha ông là một quan chức cấp cao của chính
quyền địa phương, những có tinh thần dân téc, ghét bọn thực dân Anh. Mẹ
ông là người phụ nữ hết lòng mộ đạo, chịu ảnh hưởng sâu sắc những tinh
thần và nguyên lý của đạo Giaina, nhất là quan điểm "Ahimsa". Bà chăm đi
lễ chùa, ăn chay và suốt đời hi sinh phục vụ cho chồng, cho con . Tấm
gương tận tuỵ và lòng nhân ái tràn đầy của bà đã có ảnh hưởng lớn đÕn tư
tưởng và tình cảm cảu Gandhi về sau này.
Khi còn ở tuổi thiếu niên, Gandhi là một cậu học sinh chín chắn, đạo
đức, gương mẫu, tính tình nhót nhát và trầm tính. Từ năm 1888 - 1891
M.Ganđhi du học ngành luật học ở Anh và sau đó ông hành nghề với tư
cách là một luật sư Nam Phi (1893 - 1919). Tại Nam Phi, Gandhi đã chứng
kiến những cảnh bất công và tủi nhục của đồng bào ông và những người da
màu khác do chính sách phân biệt chủng téc của thực dân Anh gây nên.
Thời gian này, Gandhi đã hình thành những quan điểm chính trị và đường
lối đấu tranh của mình, nhân sinh quan và thế giới quan của ông đã chuyển
biến: Ông đã từ chủ nghĩa cá nhân của giai cấp tư sản, biến thành người có
tư tưởng chủ nghĩa dân téc, tha thiết đến việc đấu tranh để giải phóng cho
dân téc Ên Độ; từ chỗ hết sức sùng bái niềm văn minh phương Tây, trở
thành người phê phán đối với nền văn minh đó. Chịu ảnh hưởng của các
tôn giáo Ên Độ nhất là của đạo Giaina với quan điểm bất mưu hại Ahimsa
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương

Đường lối của Gandhi bao gồm cả một hệ thống các nguyên tắc được
hình thành từ các nguyên tắc triết học, tôn giáo đạo Giaina và thực tiễn xã
hội Ên Độ đặt ra. Tư tưởng chính trị và phương thức đấu tranh của Gandhi
trở thành cơ sở khoa học và thực tiễn phong trào giải phóng dân téc Ên Độ
kiểm nghiệm.
Đường lối cách mạng của Gandhi được hình thành từ sổ triết học tôn
giáo. Ên Độ là quê hương của những tôn giáo lớn và là nơi tồn tại nhiều tôn
giáo. Ngoài hai tôn giáo lớn là đạo Hinđu và đạo Hồi còn có đạo Xích và
đạo Phật. Sự phân chia đẳng cấp trong xã hội Ên Độ diễn ra khá phức tạp:
Đó là chế độ đẳng cấp Vác na, chia cư dân Ên Độ thành bốn đẳng cấp:
Bàlamôn, Xatơria, Vaixia và Xuđơra. Ngoài ra, còn một tầng líp bị coi là
thấp hèn nhất "ngoài lề đẳng cấp" - những người cùng đinh gọi là những
người Paria và Chamđala. Họ bị coi là những người "không thể tiếp xúc
được". Thực dân Anh đã lợi dụng những sự khác biệt về chủng téc, ngôn
ngữ và tôn giáo nhằm đẩy cộng đồng nhân dân Ên Độ đến chỗ chia rẽ.
Xuất thân từ một gia đình theo đạo Hinđu dòng Giaina các nguyên
tắc của đạo Giaina đã ăn sâu trong gia đình ông, đồng thời những tư tưởng
nó cũng theo ông suốt cuộc đời làm cách mạng. Từ các nguyên tắc của đạo
Giaina, Ganghi đã xây dựng nên một hệ thống tư tưởng chính trị của mình.
Hai nguyên tắc cơ bản nhất của đạo Giaina là: "Ahimsa" và "Satyagraha" là
cơ sở lí luận cơ bản của đường lối cách mạng Gandhi.
2.1.2.2. Nội dung đường lối cách mạng của Gandhi.
Có ý kiến đánh giá rằng: Tư tưởng của Gandhi là hiện thân của tư
tưởng mới hỗn hợp với tư tưởng thời trung cổ. Ông chủ trương duy trì chế
độ đẳng cấp và giữ thế lực mê tín. Những có ý kiến đánh giá rằng ông là
nhạc trưởng của một dàn đồng ca vĩ đại, người " thấm nhuần những giá
trị của quá khứ, người sống hoàn toàn bằng hiện tại nhưng với sự quan tâm
tới tương lai".
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương

Tư tưởng "bất hợp tác" trong "bất bạo động", "bất bạo lực" của
Gandhi được xem là biện pháp đảm bảo cho sự thắng lợi của cuộc đấu
tranh. Theo chính sách này, muốn đánh đổ đế quốc Anh, dân téc Ên Độ
phải không làm việc cho người Anh, không mua vải cho người Anh, không
theo pháp luật người Anh, không nép thuế cho người Anh [10.16].
Cùng với tư tưởng " bất bạo lực", Gandhi đề ra tư tưởng "bất hợp
tác". Ông cho rằng "ngay cả đến những kẻ thống trị hùng mạnh nhất cũng
không thể thống trị được nếu không có sự hợp tác của những người bị trị.
Cho nên, nếu người Ên Độ không chấp nhận mối quan hệ hợp tác thì cuối
cùng thực dân Anh phải thua.
Để thực hiện thành công "bất hợp tác", "bất bạo lực" nhất thiết phải
"kiên trì chân lý". Đây có thể xem là phương thức, phương pháp hay hình
thức đấu tranh, chúng có quan hệ chặt chẽ, mật thiết không thể tách rời.
Theo Gandhi, người bất hợp tác còn can đảm hơn người bất bạo
động nhiều. Từ đó ông đưa ra tư tưởng:" bất hợp tác trong bất bạo động".
Để đảm bảo cho công cuộc giải phóng Ên Độ theo đường lối "bất hợp tác
trong bất bạo động", Gandhi chủ trương đoàn kết dân téc. Để vận động
quần chúng, thực hiện chủ trương này, Gandhi đã sống chung với những
người mà xã hội Ên Độ gọi là "không thể sê mó" (Untouchable) và nhận cô
bé Lakchimi thuộc đẳng cấp này làm con nuôi. Ông luôn tìm cách thuyết
phục sự hoà hợp giữa các tôn giáo trong đời sống nhân dân Ên Độ.
Trong tư duy của Gandhi, "lòng nhân" được tôn lên trên hết thảy, nó
chi phối cả hệ thống tư tưởng của ông khẳng định: "nếu buộc phải dùng
đến khí giới ví dụ chúng ta có thắng chăng nữa lòng tôi cũng không thoả
nguyện. Tôn giáo không dạy chúng ta ghét bỏ người ngoại quốc. Tôi còn
để lòng nhân lên tấm lòng yêu nước của tôi".
Học thuyết Gandhi về bất bạo lực thể hiện tính chất hai mặt trong lập
trường tư tưởng của tư sản dân téc Ên Độ. Một mặt, do sù gia tăng mâu
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương

Daminda. Giai cấp tư sản Ên Độ, nói chung luôn bị tư sản người Anh chèn
Ðp. Muốn phát triển kinh doanh, họ phải đấu tranh chống lại sự Ðp buộc
bất bình đẳng của chính quyền thực dân.
Cuối thế kỷ XIX nhiều phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản Ên
Độ đã trở nên sôi nổi, đưa ra một số yêu sách đòi quyền tự do dân chủ đòi
quyền bình đẳng, phát triển CNTB lên án chính sách bóc lột thống trị của
thực dân Anh.
Theo đà thức tỉnh về ý thức dân téc của giai cấp tư sản Ên Độ ngày
càng cao, vào thập niên 70 và 80 của thế kỷ XIX tại ba khu vực CNTB phát
triển tương đối nhanh đã xuất hiện ba tổ chức kinh tế chính trị của giai cấp
tư sản đó là " Hiệp hội Ên Độ" được thành lập năm 1876 tại Bongala;
"Hiệp hội khu vực BomBay" thành lập năm 1885 tại BomBay; và "Hội
thân sĩ Madras" thành lập năm 1884 tại Madras. Trên cơ sở đó, ngày
28/12/1885 tại Hội trường Đại học Gokuldas Jeipal Sancrut College -
BomBay, các đại biểu của Ên Độ đã tiến hành Hội nghị thành lập một tổ
chức chính trị mang tính toàn quốc: Đảng Quốc dân đại hội Ên Độ (Indian
National Congress) - gọi tắt là Đảng Quốc Đại.
Lúc đầu Đảng là một tổ chức cải lương do thực dân Anh lập ra để
đánh lạc hướng cuộc đấu tranh dân téc. Đảng Quốc Đại đại diện cho quyền
lợi líp trên của giai cấp tư sản và địa chủ Ên Độ có tinh thần yêu nước: 50%
đại biểu của 6 kì họp đầu tiên là các trí thức - địa chủ, 25% xuất thân từ
tầng líp thương nhân, cho vay lãi và 25% là địa chủ. Như vậy, thoạt đầu
như chính phủ Hume nói: Đảng Quốc Đại chỉ là "một cái nắp an toàn" cần
thiết cho chính quyền thực dân Anh.
Sù ra đời của Đảng Quốc Đại là một sự kiện quan trọng, nó làm nổi
bật sự thức tỉnh của dân téc Ên và sự phát triển tất yếu của cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa đế quốc. Với tư cách là một chính Đảng đầu tiên của giai
cấp tư sản Ên Độ, trái với ý muốn của Anh dần dần Đảng Quốc đại chuyển
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương

ban cho nã".
Cuối thế kỷ XIX Đảng Quốc đại chưa có đường lối cương lĩnh đúng
đắn. Trong khi Đảng Quốc đại đang khủng hoảng về đường lối thì M.
Gandhi (1869 - 1998) xuất hiện. J.Nêhru đánh giá M.Ganghi : "Ganghi tới
không khác gì một luồng gió trời mát mẻ, mạnh mẽ khiến chúng ta tự phơi
mình ra và hít thở thật sâu. Ông như một chùm ánh sáng chọc thủng màn
đêm và lật đổ những gì che mắt chúng ta "
Khi bước lên vũ đài đấu tranh chính trị đường lối đấu tranh của Đảng
Quốc đại được đổi mới. Từ thực tiễn Ên Độ M.Gandhi đã tiến hành tổng
kết hệ thống triết học tư sản Ên Độ, dùa trên cơ sở đó ông đề ta đường lối
đấu tranh riêng cho Ên Độ. M.Gandhi đã biến Đảng Quốc đại "thành một tổ
chức quần chúng"
Năm 1920, tại Hội nghị Nagpu đã đề ra mục đích của Đảng Quốc đại
và đấu tranh đòi quyền tự trị cho Ên Độ bằng các biện pháp và trở thành
một đảng chính trị "bước vào một cuộc xung đột liên tiếp với chính quyền
Anh"[6.147]
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, liên tiếp giai cấp tư sản luôn cố
tìm các hình thức đấu tranh khác nhau, mặc dù có nhiều tổ chức ra đời (liên
đoàn tự trị của Tilắc, Đảng các mạng Bengan ) nhưng cuối cùng đều bị
phân tán. Đảng Quốc đại với phương thức đấu tranh "ôn hoà" và tiếp nhận
tư tưởng "bất bạo lực" của M.Gandhi đã ảnh hưởng tới phong trào quần
chúng nhân dân. Đảng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh giải
phóng dân téc và thành lập nước Cộng hoà Ên Độ.
2.2.2. Sự lãnh đạo của Đảng Quốc Đại Ên Độ trong cuộc đấu
tranh giải phóng dân téc chống thực dân Anh.(1917 - 1950).
Sù ra đời của Đảng Quốc đại có một ý nghĩa lớn lao. Nó là sự "kết
tinh của phong trào dân téc Ên Độ về chính trị và tổ chức" [19.94], nó phản
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương
ánh nguyện vọng của dân téc thông qua tầng líp "tinh hoa có giáo dục" của

cửa hiệu". Phong trào đã lôi kéo mọi tầng líp nhân dân tham gia. Trước sự
kiện Amitsa hàng nghìn người bị giết ngày 13/4/1919, Ên Độ trở nên sôi
sục. Đảng Quốc đại đã tiến hành cải tổ lại cơ cấu chính trị, tuyên bố tẩy
chay cải cách Môngtagô - Sennơpho và đưa ra đường lối "bất hợp tác trong
bất cứ bạo động" để đảm bảo vị trí lãnh đạo của mình.
Vì thế, Đảng Quốc Đại phát triển rất nhanh chóng, thu hót công
nhân, nông dân và những người làm nghề thủ công vào Đảng. Từ đó, Đảng
Quốc Đại có cơ cấu tổ chức từ Trung ương tới cơ sở, trở thành một chính
đảng hiện đại và hoàn thiện của giai cấp tư sản. Đảng Quốc Đại được
Gandhi chủ trì khởi thảo bản chương mới. Trong bản chương mới này quy
định mục tiêu đấu tranh của Đảng Quốc Đại là: "dùng tất cả các phương
pháp hợp pháp để thực hiện Swaraj (tiếng Ên Độ có nghĩa là tự trị). Sau hội
nghị thường niên của Đảng Quốc Đại tại Amađabat 12/1921, phong trào
dần phát triển lên đỉnh cao.
Như vậy, trong cuộc đấu tranh đòi quyền tự trị của Ên Độ, Đảng
Quốc Đại luôn đóng vai trò là người tổ chức, lãnh đạo. Các cuộc đấu tranh
của nông dân nổ ra, bùng lên ở Punjap và trong cả nước. Trong quá trình
đấu tranh, Đảng Quốc Đại luôn tự biến đổi để đáp ứng các yêu cầu và
nguyện vọng của dân téc, đại diện cho dân téc Ên Độ. Phong trào tự trị như
một chiếc cầu nối giữa Đảng với quần chúng, làm cho Đảng gần gũi hơn
với phong trào quần chúng J.Nehru đã nhận xét: "Thực tế, bản thân Đảng
Quốc Đại cũng là một thứ liên minh hoặc một mặt trận liên hiệp của nhiều
nhóm khác nhau ràng buộc với nhau bởi sự thôi thúc giành lại độc lập cho
dân téc Ên Độ. Bất chấp sự đa dạng đó nó đã trở thành một kỷ luật, một
quan niệm xã hội và một khả năng đấu tranh theo đường lối hoà bình của
nã"[6.25]
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương
Tuy nhiên, sau sự kiện "Chauri - Chaura" (tên một làng nhỏ của tỉnh
liên hiệp, nhân dân căm phẫn nổ súng vào đồn cảnh sát, giết 22 tên, đốt

Motilan Nêru, dùng các biện pháp đấu tranh nghị trường, tham gia ứng cử
hội đồng lập pháp địa phương để tiến tới mục tiêu tự trị. Nhóm tả do J.
Nêru, chủ trương đẩy mạnh những hoạt động chính trị trong và ngoài nước.
Mục tiêu của nhóm này là " Độc lập hoàn toàn" (Purna Swaraj).
Năm 1929, mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt và xuất hiện thời cơ để
phát động chiến dịch chính trị mới. M. Gandhi thấy rằng đã đến lúc phải có
áp lực dứt khoát đối với chính quyền thực dân. Đại hội Đảng Quốc đại ở
Lahor (12 /1929) bầu nhà lãnh đạo trẻ tuổi J.Nêru làm chủ tịch Đảng và
thông qua nghị quyết tiến hành chiến dịch bất hợp tác toàn dân "tranh thủ
nền độc lập hoàn toàn cho Ên Độ". Đây là bước tiến mới trong phong trào
đòi độc lập của Ên Độ.
Vào đêm cuối năm 1929, bước sang năm 1930 J.Nêru trịnh trọng kéo
lá cờ ba sắc đỏ, trắng, xanh lá cây (sau này mầu đỏ được thay bằng màu
vàng nghệ) được chọn làm quốc kỳ của nước Ên Độ độc lập trong tiếng hô
vang của các đại biểu: "Cách mạng muôn năm". Ngay sau đó, nhiều cuộc
biểu tình rầm ré được tổ chức ở toàn Ên Độ vào ngày 26/1/1930. Ngày này
được coi là ngày độc lập đầu tiên của Ên Độ. Hàng năm cứ đến 26/1 nhân
dân Ên Độ lại kỉ niệm "ngày độc lập" của mình.
Ngày 26/1/1930, Gandhi đưa ra yêu sách 11 điểm đòi thực dân Anh
phải cải cách kinh tế, trả tù chính trị, phải bỏ chính sách độc quyền về
muối Chính quyền Anh bác bỏ, lập tức Gandhi đã phát động chiến dịch
"phản kháng bất bạo lực" mới được gọi là "chiến dịch đi lấy muối". Tháng
2 năm 1930, ông đã cùng 78 đồ đệ đi 300 km về Dandi (Cutgiơva). Sau đó
theo ông hàng chục vạn dân chóng Ên Độ đã ra bờ biển lấy muối, tự do bán
Bài tập chuyên đề Đinh Thị Thu
Hương
muối một cách công khai khắp nơi, bất chấp luật độc quyền muối của nhà
nước thực dân.
Tháng 4 - 1930, phong trào "bất hợp tác" được Gandhi chính thức
phát động với mục tiêu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status