Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Kỳ Nghỉ Việt trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi. Các
doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải chứng tỏ được năng lực cạnh
tranh của mình trước các đối thủ khác. Ngành du lịch cũng không nằm ngoài
quy luật đó. Trong những năm gần đây, đời sống của người dân được nâng
cao hơn và nhu cầu đi du lịch trở nên phổ biến hơn nhiều. Các doanh nghiệp
lữ hành liên tục được thành lập. Đặc biệt, trong xu hướng mở cửa hội nhập
của Việt Nam, tiêu biểu là việc gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO
của Việt Nam khiến cho hàng loạt các công ty du lịch nước ngoài “nhảy vào”
Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước đứng trước những khó khăn to lớn.
Do đó, để có thể đứng vững trên thị trường, các doanh nghiệp phải biết xây
dựng cho mình những lợi thế, công cụ để nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình như các nguồn lực về tài chính, nguồn lực con người, công nghệ … So
với các đối thủ trong ngành thì đây là một thách thức lớn đối với công ty
TNHH Kỳ Nghỉ Việt.
Sau một thời gian thực tập, tìm hiểu và nhận thức được tính cấp thiết của
vấn đề này, em đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của
công ty TNHH Kỳ Nghỉ Việt trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO”
Mục đích nghiên cứu: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh và đề xuất
một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Kỳ Nghỉ
Việt.
Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Kỳ Nghỉ
Việt
Phạm vi nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của công ty THNN Kỳ Nghỉ
Việt từ khi thành lập đến năm 2010.
1
Phương pháp nghiên cứu: Thu thập thông tin,quan sát thực nghiệm, phân
tích, dự báo, đánh giá, thống kê mô tả
Kết cấu của đề tài
Chương I: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ
hành

kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và
hiệu quả cao nhất. Cạnh tranh là so sánh với đối thủ trực tiếp của doanh
nghiệp.
Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người có
khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản
phẩm có khả năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực
cạnh tranh hay sức cạnh tranh
3
b. Vai trò của cạnh tranh
- Vai trò của cạnh tranh với nền kinh tế
+ Cạnh tranh là động lực để nền kinh tế phát triển, nâng cao năng suất
lao động xã hội
+ Cạnh tranh hoàn hảo: Nếu các doanh nghiệp cùng nhau phát triển, giúp
nhau cùng đi lên thì nền kinh tế đất nước phát triển bền vững. Nếu các doanh
nghiệp phát triển chỉ vì mục đích riêng, bất chấp mọi thủ đoạn để đạt mục
tiêu, bỏ qua lợi ích chung của đất nước sẽ dẫn đến cạnh tranh không lành
mạnh: đầu cơ, phá giá,…sẽ làm giảm uy tín của các doanh nghiệp trong quốc
gia trên thị trường Quốc tế.
+ Cạnh tranh độc quyền: ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, tạo môi
trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn quyền lợi và lợi ích
trong xã hội nền kinh tế không ổn định.
- Vai trò của cạnh tranh với người tiêu dùng
+ Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp làm cho người tiêu dùng được lợi.
Trong cạnh tranh, người tiêu dùng được hưởng nhiều lợi ích do các doanh
nghiệp cạnh tranh để gây dựng hình ảnh, uy tín và làm tăng chỗ dựa trong
lòng khách hàng.
+ Khách hàng tác động trở lại quá trình cạnh tranh của các doanh nghiệp
thông qua các thông tin phản hồi về hàng hóa, giá cả, chất lượng…Góp ý, gợi
mở cho các doanh nghiệp những sai sót, chỗ chưa phù hợp. Để từ đó doanh
nghiệp điều chỉnh hợp lý.

5
b. Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành
- Khái niệm: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành là việc
phát hiện và sử dụng tốt hơn nữa các yếu tố trong môi trường kinh doanh nội
bộ vào sản xuất và kinh doanh.
- Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lữ hành: Năng
lực cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương
trường. Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở
năng lực cạnh tranh. Để từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá
trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của
các doanh nghiệp Việt Nam. Như vậy:
+ Doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại
Doanh nghiệp nào cũng vậy, sau khi thành lập luôn luôn muốn doanh
nghiệp mình phải tồn tại, phát triển và có một chỗ đứng trong ngành cũng như
trong nền kinh tế đất nước. Trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong thời kỳ
hội nhập như hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại được thì phải sản xuất
ra những hàng hóa, dịch vụ phong phú và có chất lượng tốt. Mặt khác những
mặt hàng này phải được khách hàng chấp nhận và doanh nghiệp phải thu
được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của mình. Để làm được điều này có
một khó khăn lớn là làm sao cho khách hàng ưa thích và mua sản phẩm của
công ty mình nhiều hơn so với các doanh nghiệp cùng kinh doanh giống
mình. Như vậy doanh nghiệp phải cạnh tranh với các đối thủ của mình. Muốn
vậy doanh nghiệp phải thỏa mãn tốt hơn những nhu cầu của khách hàng bằng
những sản phẩm tốt nhất, dịch vụ hoàn hảo và chi phí hợp lý nhất. Doanh
nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, cung cấp cho họ những dịch
vụ thuận tiện và tốt nhất với mức giá phù hợp nhất thì doanh nghiệp đó mới
có khả năng tồn tại được trong điều kiện hiện nay. Do vậy, nâng cao năng lực
cạnh tranh là cần thiết để doanh nghiệp tồn tại.
6
+ Doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển

tranh, có những biện pháp thu hút khách hàng đến với doanh nghiệp nhiều
hơn…
Nói tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc làm
quan trọng và hết sức cần thiết. Muốn nâng cao được năng lực cạnh tranh của
mình, doanh nghiệp cần phải tìm hiểu rõ thị trường, phân tích và dự báo chính
xác các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của công ty cũng như các
đối thủ cạnh tranh.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
a. Kinh tế
Kinh tế bao gồm các yếu tố: tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập kinh tế
quốc dân, lạm phát, thất nghiệp. Chẳng hạn tăng trưởng kinh tế ,GDP cao sẽ
làm thu nhập của dân cư tăng lên. Thu nhập của dân cư tăng lên có ảnh hưởng
đến khả năng thanh toán của họ và điều đó có nghĩa là họ có thể tiêu dùng
những sản phẩm, dịch vụ với chất lượng và yêu cầu cao hơn. Đồng thời chấp
nhận với giá thanh toán cao hơn. Tuy nhiên khi GDP tăng lên cũng có nghĩa
là chi phí tiền lương của các doanh nghiệp cũng tăng lên. Đây là nhân tố giảm
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
b. Khoa học – công nghệ
Nhân tố khoa học công nghệ ngày càng quan trọng và có ý nghĩa quyết
định đến môi trường cạnh tranh. Trên thế giới đã chuyển từ cạnh tranh giá cả
sang cạnh tranh về chất lượng sản phẩm và dịch vụ có áp dụng công nghệ cao.
8
Trong thời kỳ khoa học công nghệ phát triển như vũ bão thì vòng đời của sản
phẩm sẽ bị rút ngắn lại. Do vậy để chiến thắng trong cạnh tranh thì doanh
nghiệp phải luôn đổi mới trang thiết bị, sử dụng các công nghệ hiện đại để tạo
ra những lợi thế hơn hẳn so với đối thủ cạnh tranh. Ngày nay công nghệ hiện
đại còn cung cấp cho doanh nghiệp thông tin về thị trường, đối thủ cạnh tranh
một cách nhanh chóng và chính xác. Khoa học hiện đại sẽ tạo ra thế hệ mới ,
vừa nâng cao hiệu quả sản xuất vừa bảo vệ được môi trường và như vậy trong

phương diện quốc tế đối với các doanh nghiệp có ít nhiều khác biệt nếu chỉ
lấy môi trường bên ngoài trong phạm bị của một nước Việt Nam. Thực vậy,
môi trường quốc tế sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh hơn theo quan điểm từ những
khác biệt về xã hội, văn hóa, cấu trúc thể chế, chính sách và kinh tế…
Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN đã và đang tạo ra nhiều vận hội
cho các doanh nghiệp Việt Nam về đầu tư, về thị trường nhưng cũng đang có
nhiều thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu. Tự do hóa
thương mại khu vực, phá bỏ hàng rào thuế quan là những đe dọa rất lớn đối
với các doanh nghiệp Việt Nam. Hơn nữa, bản thân ASEAN cũng phải đặt
trong mối quan hệ toàn cầu của cạnh tranh thế giới, chẳng hạn với khối EU,
Bắc Mỹ (NAFTA), với Nhật Bản, Trung Quốc,…
Kể từ năm 1988, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Diễn
đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)
Gần đây nhất, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại quốc tế
(WTO). Việt Nam sẽ được mở rộng thị trường xuất khẩu ra nhiều nước trên
thế giới, được hưởng quy chế tối huệ quốc, không bị đối xử phân biệt trong
10
thương mại quốc tế. Nhưng chiều ngược lại, những thách thức trong cạnh
tranh thế giới sẽ quyết liệt hơn.
1.2.2. Các yếu tố thuộc môi trường ngành
Mô hình 5 lực lượng của M.Porter
Mô hình 1: mô hình 5 lực lượng của M. Porter
a. Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Lực lượng thứ nhất trong số 5 lực lượng của mô hình M. Porter là quy mô
cạnh tranh trong số các doanh nghiệp hiện tại của ngành. Nếu các đối thủ
Những người
muốn vào mới
(cạnh tranh tiềm
tàng)
Doanh nghiệp

không có khả năng cạnh tranh.
- Rào cản gia nhập và rút lui là mối đe dọa cạnh tranh nghiêm trọng khi cầu
của ngành giảm mạnh hoặc tăng nhanh. Hàng rào gia nhập và rút lui là kinh
tế, là chiến lược và là quan hệ tình cảm giữ doanh nghiệp trụ lại. Nếu rào cản
gia nhập và rút lui cao, các doanh nghiệp có thể bị khóa chặt trong một ngành
12
sản xuất không ưa thích, khó khăn trong vấn đề gia nhập một lĩnh vực kinh
doanh khác.
b. Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Lực lượng thứ hai cần phân tích là phán đoán đối với doanh nghiệp là các
đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh
nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất, nhưng có khả
năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành. Đây là đe dọa
cho các doanh nghiệp hiện tại. Các doanh nghiệp hiện tại cố gắng ngăn cản
các đối thủ tiềm ẩn muốn gia nhập ngành bởi vì càng nhiều doanh nghiệp có
trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn, thị trường và lợi
nhuận sẽ bị chia sẻ, vị trí của doanh nghiệp sẽ thay đổi.
c. Sức ép của khách hàng
Đây là lực lượng tạo ra khả năng mặc cả của người mua. Người mua có
thể được xem như là một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc doanh nghiệp
giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn. Ngược lại, khi
người mua yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp một cơ hội để tăng giá kiếm
được lợi nhuận nhiều hơn. Người mua gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các
nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ) và các nhà mua công nghiệp.
Áp lực của khách hàng thường được thể hiện trong các trường hợp sau:
- Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp. Trong khi
đó người mua là một số ít và có quy mô lớn. Hoàn cảnh này cho phép người
mua chi phối các công ty cung cấp.
- Khách hàng mua một khối lượng lớn. Trong hoàn cảnh này người mua có
thể sử dụng ưu thế mua của họ như một ưu thế để mặc cả cho sự giảm giá

sản phẩm bị thay thế ở các đặc trưng riêng biệt. Sự gia tăng về các loại hình
du lịch là mối đe dọa cho các chương trình du lịch thông thường. Đe dọa này
đòi hỏi các doanh nghiệp cần có sự phân tích, theo dõi thường xuyên những
tiến bộ khoa học – công nghệ, trong đó liên quan đến đổi mới công nghệ, đổi
mới các chương trình du lịch, tạo sức hấp dẫn tới du khách…Hơn nữa sự thay
đổi của nhu cầu thị trường cũng là nhân tố quan trọng tạo ra sự đe dọa này.
1.2.3. Các yếu tố thuộc môi trường nội bộ doanh nghiệp lữ hành
a. Khả năng sản xuất, nghiên cứu và phát triển (R&D)
Nghiên cứu thị trường là hoạt động cần thiết đầu tiên đối với tất cả
cácdoanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh và cả những doanh nghiệp sắp
tham gia trên thị trường. Đó là cơ sở phát triển tìm kiếm thị trường và thiết
lập các chính sách phát triển thị trường cho doanh nghiệp. Nghiên cứu và
phân tích thị trường chính là một cách quan trọng giúp doanh nghiệp nhận
biết và khai thác cơ hội xuất hiện trên thị trường. Một khi doanh nghiệp hiểu
rõ được về thị trường thì khả năng xây dựng, thực hiện và phát triển sản phẩm
sẽ đơn giản hơn rất nhiều.
b. Hoạt động Marketing
- Chính sách sản phẩm: Sản phẩm là vấn đề then chốt để tạo ra hình ảnh của
công ty. Đây là một chức năng rất quan trọng cả marketing. Nội dung của
chính sách sản phẩm bao gồm:
+ Đưa ra sản phẩm mới. Với chính sách này cần một đội ngũ nhân viên
có tính sáng tạo cao, hiểu sâu sắc nhu cầu của khách du lịch, nhạy bén với sự
biến đổi của môi trường. Đưa ra sản phẩm mới hoàn toàn rất khó.
+ Hoàn thiện, bổ sung cho sản phẩm cũ: đó là những sản phẩm truyền
thống của công ty, những sản phẩm mà nhiều công ty cũng có. Sự hoàn thiện
15
này chỉ có thể là tăng cường chất lượng sản phẩm, có thể khiến các kỳ vọng
của khách hàng không chỉ đúng như họ mong muốn mà còn nhỉnh hơn thế
nữa hoặc là những hậu mãi khi kết thúc chuyến đi như quà tặng, mời đi nếu
có dịp tung sản phẩm mới, gửi thư chúc mừng nhân ngày sinh nhật, ngày

Mô hình 2: Hoạt động xúc tiến hỗn hợp
- Hoạt động phân phối
Phân phối là sự lựa chọn và quản lý các trung gian phân phối bảo đảm
đưa sản phẩm tới người tiêu dùng và đưa người tiêu dùng đến nơi tạo ra dịch
vụ mà khách đã đặt mua để thực hiện tiêu dùng du lịch. Chính sách phân phối
là tập hợp những quan điểm, quyết định, phương thức trong quá trình hoạt
động của các doanh nghiệp du lịch nhằm đưa khách hàng đến với sản phẩm
du lịch thông qua các trung gian môi giới. Chính sách phân phối du lịch được
thực hiện qua các kênh phân phối.
Xúc tiến hỗn hợp
(promotion)
Quảng cáo
(advertising)
Tuyên truyền/ quan hệ
Công chúng
Publicity/publircelation
Xúc tiến bán
Sale promotion
Bán hàng trực tiếp
(personal selling)
Marketing trực tiếp
(direct marketing)
Mạng
internet
17
- Chính sách hợp tác giữa các đơn vị cung cấp, giữa khách hàng và nhân viên
Do đặc điểm của dịch vụ du lịch mang tính tổng hợp vì vậy không có nhà
cung cấp đơn lẻ mà phải có các bạn hàng như là đối tác hỗ trợ và bổ sung cho
nhau tạo ra chuỗi dịch vụ du lịch để cung cấp cho du khách. Tất cả các nhà
cung cấp du lịch đều là một phần và đều góp vào sự hợp tác giữa các nhà

năng quản trị nhất định. Cấp quản trị là sự thống nhất tất cả các bộ phận quản
trị phản ánh sự phân chia chức năng quản trị theo chiều ngang, còn số cấp
quản trị thể hiện sự phân chia chức năng quản trị theo chiều dọc.
1.3. Các phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.1 Phương pháp 1: So sánh một số chỉ tiêu giữa doanh nghiệp với đối
thủ cạnh tranh
a. Phân tích một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
- Doanh thu
Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Để đơn giản người ta tính doanh thu theo công thức
M = P*Q
Trong đó M: Doanh thu bán hàng
Q: Số lượt khách du lịch thực hiện
P: Giá bán cho một lượt khách
Từ công thức trên ta có thể tăng doanh thu bán hàng bằng cách tăng số
lượng sản phẩm bán hoặc tăng giá bán. Khi doanh thu bán hàng của doanh
nghiệp càng lớn thì thị phần trên thị trường của doanh nghiệp càng cao.
Doanh thu bán hàng đảm bảo cho doanh nghiệp có doanh thu để trang trải các
chi phí bỏ ra, mặt khác thu được một phần lợi nhuận và có tích lũy để tái mở
rộng của doanh nghiệp. Căn cứ vào doanh thu có thể đánh giá năng lực cạnh
19
tranh của doanh nghiệp thông qua thị phần cả doanh nghiệp. Với thị phần lớn,
doanh nghiệp lợi dụng được việc giảm chi phí do kinh nghiệm mang lại, đồng
thời củng cố lòng trung thành của khách hàng đối với nhãn hiệu sản phẩm.
- Chi phí
Chi phí doanh nghiệp là những khoản chi bằng tiền hoặc tài sản mà doanh
nghiệp bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Trong doanh
nghiệp thương mại thì chi phí kinh doanh bỏ ra nhằm mục đích kinh doanh,
tức là trước hết phải tạo ra doanh thu. Nếu như doanh nghiệp có tốc độ tăng
doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng chi phí thì sẽ làm tăng lợi nhuận, điều đó

cấp). Nếu chất lượng sản phẩm như nhau, điều kiện sử dụng như nhau…công
ty nào có sản phẩm bán với giá rẻ hơn sẽ được lựa chọn nhiều hơn. Tuy nhiên
cũng tùy từng mặt hàng và với một mức giá nào đó, tâm lý của khách hàng là
“của rẻ là của ôi” vì thế mỗi doanh nghiệp phải có những chính sách về giá
phù hợp
c. Sản phẩm
Quan tâm tới sự đa dạng của sản phẩm, chất lượng sản phẩm, sự hấp dẫn
của sản phẩm.
d. Hoạt động xúc tiến, phân phối
Doanh nghiệp sử dụng các kênh phân phối nào mà tiếp cận được với khách
hàng về sản phẩm càng sớm càng tốt. Ngoài ra các vấn đề về thủ tục giấy tờ,
thanh toán càng gọn nhẹ, đơn giản sẽ giúp khách hàng lựa chọn sản phẩm của
công ty bạn hơn.
21
e. Quan hệ với các đơn vị cung cấp, khách hàng, nhân viên, dân cư và
chính quyền địa phương.
Các hoạt động từ khi khách hàng liên hệ với công ty đến khi khách đã
thực hiện xong chương trình du lịch và trở về nước phải được các doanh
nghiệp chú ý và thực hiện bài bản. Doanh nghiệp nào biết quan tâm và hỗ trợ
cho khách hàng của mình sẽ có lợi hơn so với các doanh nghiệp thực hiện
kém. Cũng như quan hệ với khách hàng, quan hệ với các nhà cung cấp của
mình cũng rất quan trọng. Nếu như tạo mối quan hệ xấu, bạn sẽ phải trả giá vì
họ sẽ bán cho bạn những dịch vụ không tốt, hoặc sẽ làm khó dễ cho công việc
của bạn. Nội bộ trong công ty cũng vậy, nhà quản lý phải biết tạo bầu không
khí làm việc vui vẻ, gần gũi, có các hoạt động kích thích nhân viên của mình
làm viêc. Nhân viên mà bỏ việc hay làm qua loa thì doanh nghiệp đó không
thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
Như vậy, muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty với các công ty
khác cần phải chú trọng đến rất nhiều vấn đề. Một trong những vấn đề không
thể quên là tạo mối quan hệ thân thiết, tin cậy, uy tín với khách hàng, nhà

năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, danh mục này thay đổi theo ngành và
sản phẩm cụ thể.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chỉ bao hàm các nhân tố chủ quan,
phản ánh nội lực của doanh nghiệp, không bao hàm các nhân tố khách quan,
các yếu tố môi trường kinh doanh (những nhân tố này rất quan trọng khi
lượng hoá năng lực cạnh tranh quốc gia) và cũng không bao gồm các yếu tố
ngoài nước.
23
Năng lực cạnh tranh trong kinh doanh lữ hành thường bao gồm hệ
thống các năng lực, nhân tố sau đây.
1. Năng lực nghiên cứu, phân tích và dự báo về thị trường du lịch
2. Năng lực tìm kiếm khách hàng và đối tác tin cậy có năng lực hợp tác
kinh doanh có hiệu quả với doanh nghiệp.
3. Năng lực tổ chức thiết kế và thực hiện các chương trình du lịch, dịch vụ
có khả năng cạnh tranh trên thị trường .
4. Năng lực về thủ tục thanh toán quốc tế
5. Các nhân tố về công nghệ: khả năng sử dụng các công nghệ tin học, các
trang thiết bị hiện đại đảm bảo cung cấp và thu thập được thông tin nhanh
nhất, chính xác nhất cho khách hàng, các nhà cung ứng…
6. Các nhân tố liên quan tới nguồn nhân lực: nguồn nhân lực có trình độ
và kỹ năng chuyên môn cao, bí quyết quản lý chất lượng, đội ngũ chuyên gia
về thiết kế sản phẩm hoặc về loại công nghệ quan trọng, khả năng phát triển
và đổi mới sản phẩm, thời gian phát triển sản phẩm từ ý tưởng tới thị trường
nhanh chóng...
7. Các nhân tố về văn hoá doanh nghiệp
8. Các nhân tố về khả năng thích ứng và quản lý sự thay đổi
9. Các nhân tố về tài chính
10. Các nhân tố về hình ảnh, uy tín
11. Năng lực cạnh tranh về giá và giá thành.
Bước 2: Đánh giá định tính và cho điểm từng nhân tố, năng lực bộ phận

n
1i
ii
f
xf
x
Trong đó: f
i
là quyền số, f
i
thường được chọn sao cho Σf
i
= 1, khi đó

=
=
n
1i
ii
xfx
f
i
được đánh giá theo tầm quan trọng, vị trí của từng nhân tố.
Bước 4: So sánh điểm số của các doanh nghiệp để xác định vị thứ về năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp có thể so sánh, xác định vị trí các doanh
nghiệp theo từng nhân tố, cụm nhóm nhân tố và tổng thể tất cả các nhân tố.
Nếu có chuỗi thời gian về điểm số phản ánh năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp, có thể vận dụng phân tích động thái, phân tích nhân tố nhiều
chiều để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4. Ma trận SWOT về năng lực cạnh tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status