1 | P a g e
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I. Giới thiệu tổng quan về Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh 3
a. Quá trình hình thành 3
b. Chức năng, nhiệm vụ và định hướng phát triển 4
c. Nguồn lực giảng dạy 5
II. Phân tích môi trường bên trong, bên ngoài của khoa Quản trị 6
a. Mục tiêu đào tạo của khoa Quản trị 6
b. Phân tích môi trường bên ngoài 7
c. Phân tích môi trường bên trong 18
d. Phân tích SWOT 20
III. Phát triển chiến lược cho khoa Quản trị 21
LỜI KẾT 24
3 | P a g e
I. Giới thiệu tổng quan về Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh
a. Quá trình hình thành
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh là trường đào tạo luật hàng đầu ở khu vực phía Nam,
đạt chất lượng cao trong giảng dạy và nghiên cứu để góp phần xây dựng cộng đồng, phát triển đất
nước và hội nhập, hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới và các quốc gia trong khu vực.
Năm 1982, sau khi tái thành lập Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ra Quyết định số 199-
QĐ/ĐT ngày 16/10/1982 về việc thành lập Trường Trung học Pháp lý TP Hồ Chí Minh trên cơ sở
Trường Cán bộ tư pháp trước đây. Trường có nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ trung cấp pháp lý.
Từ năm 1983 -1988, Trường phối hợp với Trường Đại học Pháp lý Hà Nội mở lớp đại học
pháp lý.
Ngày 25/12/1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 357-CT về việc thành lập
Phân hiệu Đại học Pháp lý TP Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Tư pháp. Phân hiệu có nhiệm vụ phối hợp
với Trường Đại học Pháp lý Hà Nội đào tạo cán bộ có trình độ đại học pháp lý cho các tỉnh phía
Nam.
Ngày 6/7/1993, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 368/QĐ-TC về việc đổi tên
Phân hiệu Đại học Pháp lý TP Hồ Chí Minh thành Phân hiệu Đại học Luật TP Hồ Chí Minh.
Ngày 30 tháng 3 năm 1996, Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo ký Quyết định số 1234/GD-ĐT
Những định hướng trên của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh đã được khẳng định trong
các văn bản của Đảng, Chính phủ. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Xây dựng Trường Đại học Luật
5 | P a g e
Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm về đào tạo cán bộ
pháp luật”.
c. Nguồn lực giảng dạy
Đến thời điểm tháng 12/2012 số lượng CBGV của Trường đã tăng gần 3 lần so với năm 1996
(từ 115 lên 320 CBGV). Nhà trường có 210 giảng viên, trong đó có 48 tiến sĩ (gấp gần 8 lần so với
năm 1996), 140 thạc sĩ (gấp 23 lần so với năm 1996), 01 GVCC, 38 GVC (tăng gần 4 lần so với năm
1996), Nhà trường hiện đang có 01 Nhà giáo Ưu tú, 01 Giáo sư, 08 Phó giáo sư. Bên cạnh đó, đội
ngũ cán bộ của các phòng, trung tâm của Trường cũng đã tăng (từ 53 người năm 1996 lên 111 người
năm 2012) với chất lượng làm việc cao.
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh hiện có 8 Khoa và bộ môn (thuộc trường) đào tạo đại
học và sau đại học, 2 trung tâm trực tiếp thực hiện công tác đào tạo. Năm học 2009-2010, Trường có
6 chuyên ngành đào tạo đại học (Luật Thương mại, Luật Dân sự, Luật Quốc tế, Luật Hình sự, Luật
Hành chính và Quản trị - Luật), 5 chuyên ngành đào tạo thạc sỹ (chuyên ngành Luật Hành chính,
Luật Hình sự, Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Tội phạm học - Điều tra tội phạm) và 3 chuyên ngành
tiến sỹ (Luật Kinh tế, Luật Hình sự và Luật Hành chính - Nhà nước) với gần 12.000 học sinh, sinh
viên, học viên theo học. Hàng năm, có khoảng 3.300 học sinh, sinh viên, học viên ở các trình độ
trung cấp, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ tốt nghiệp với nhiều chuyên ngành luật khác nhau, bổ sung một
nguồn nhân lực quan trọng cho xã hội nói chung và khu vực các tỉnh phía Nam nói riêng.
+ Các Khoa và Bộ môn: Khoa Khoa học cơ bản, Khoa Luật Thương mại, Khoa Luật Dân
Mục tiêu đào tạo của ngành Quản trị - Luật:
- Về kiến thức: Đào tạo cử nhân ngành Quản trị _ Luật có năng lực chuyên môn cao theo tiêu
chuẩn quốc tế, có phẩm chất chính trị tốt, đạo đức nghề nghiệp, có sức khỏe, đáp ứng được nhu cầu
xã hội. Chương trình đào tạo nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức hiện đại về kinh doanh,
luật. Cử nhân ngành Quản trị _ Luật của trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh có khả năng hoạch
định chiến lược phát triển doanh nghiệp, hiểu biết các vấn đề quản trị, tổ chức phức tạp, đồng thời
nắm vững các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh, điều mà những người ở vị trí
7 | P a g e
lãnh đạo thường phải đối mặt, đáp ứng và thích nghi với môi trường kinh doanh trong nước và quốc
tế luôn biến động trong điều kiện cạnh tranh cao, sử dụng thành tạo Tiếng anh và Tin học ứng dụng.
- Về kỹ năng : Có các kỹ năng chuyên sâu không chỉ về lĩnh vực quản trị kinh doanh mà còn
có cả kỹ năng nhìn nhận, tư duy về các vấn đề pháp lý. Cử nhân Quản trị _ Luật cũng được giáo dục
về thái độ, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tuân thủ đúng pháp luật trong lĩnh vực quản trị kinh doanh.
- Về khả năng công tác: Sau khi tốt nghiệp, sinh viên ngành Quản trị _ Luật của Trường Đại
học Luật Tp. Hồ Chí Minh, với khối kiến thức sâu về quản trị kinh doanh và kiến thức nền tảng về
pháp luật, có thể làm việc trong các lĩnh vực: dịch vụ công cộng, thương mại/kinh doanh quốc tế,
quản trị doanh nghiệp, tài chính, tư vấn quản trị, tư vấn tài chính, tư vấn luật kinh doanh. Có nhiều
thuận lợi khi làm việc tại các ngân hàng thương mại; các định chế tài chính quốc tế; các hiệp hội
ngành nghề; các công ty tư vấn về luật
Mục tiêu đào tạo ngành Quản trị kinh doanh:
- Ngành Quản trị kinh doanh cung cấp cho sinh viên kiến thức hiện đại về quản trị knih doanh
và những bài học kinh nghiệm quản lý của các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm giúp
sinh viên có những kỹ năng cần thiết và phẩm chất phù hợp để quản lý doanh nghiệp một cách khoa
cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập
Không thu thuế giá trị gia tăng đối với đầu vào của giáo dục đại học là sách, báo,
tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu kỹ thuật; Không thu thuế giá
trị gia tăng đối với hoạt động dạy học, dạy nghề của các cơ sở đào tạo (bao gồm cả tiền học,
tiền ở ký túc xá, suất ăn tập thể thu của sinh viên)
Miễn tiền sử dụng đất, miễn tiền thuê đất đối với các dự án đầu tư xây dựng
trường đại học, cao đẳng.
Không thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với nguồn thu sự nghiệp, các khoản
tài trợ nhận được của các cơ sở giáo dục đại học có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước chi trả,
nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân dành cho cơ sở giáo dục đại học.
Ưu đãi thuế ở mức cao nhất dành cho các cơ sở giáo dục đại học mới thành lập
theo diện xã hội hoá như: Miễn tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất; Miễn tiền thuê
9 | P a g e
đất trong trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để đầu tư dự án; Miễn tiền thuế sử dụng đất
hàng năm; Áp dụng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế suất 10% suốt
dự án, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm, giảm thuế 50% trong 5 năm hoặc 9 năm
tiếp theo, tùy thuộc địa bàn thực hiện dự án).
Luật giáo dục đại học Việt Nam, ban hành năm 2012 và có hiệu lực từ đầu năm 2013,
đã khẳng định quyền tự chủ của các trường đại học trong một điều luật riêng – Điều 32 về quyền
tự chủ của cơ sở giáo dục đại học (Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu
thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp
tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ
ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo
dục). Sự kiện này được xem là một bước tiến quan trọng trong quan điểm quản trị đại học của
nhà nước Việt Nam nói chung và Bộ Giáo dục nói riêng, vì đây là lần đầu tiên quyền tự chủ của
trường đại học được đưa vào văn bản pháp luật. (mặc dù quyền tự chủ đã trở thành một quyền
luật định của các trường đại học từ hơn một năm nay, nhưng dư luận xã hội và bản thân các
trường đại học của Việt Nam, kể cả các trường đại học tư thục hoàn toàn không nhận kinh phí
tác dụng quyết định đối với giáo dục trên các mặt: chương trình giáo dục, điều kiện học, quy mô và
tốc độ phát triển giáo dục. Kinh tế quyết định hệ thống, cấu trúc giáo dục.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chững lại:
Năm
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Tổng GDP
6.3
5.3
6.8
5.9
5.25
5.42
Kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng trong năm 2009 vẫn trong thời kỳ
khó khăn do hậu quả của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008. Tuy nhiên chính phủ Việt Nam
đã có những chính sách hiệu quả kiềm chế sự suy thoái và dần dần hồi phục nền kinh tế. Năm 2011
do những bất ổn vĩ mô cuối năm 2010 (Lạm phát tăng nhanh, thâm hụt thương mại lớn, hệ thống tài
chính đứng trước nguy cơ bất ổn cao) và những tác động phụ của việc thắt chặt chính sách tiền tệ và
tài khóa nên tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm. Tiếp nối với những khó khăn của năm 2011, tình hình
phát triển kinh tế của năm 2012 vẫn chủ yếu là khó khăn, vướng mắc kinh tế gắn với khủng hoảng,
bất ổn. Tình hình kinh năm 2013 vẫn còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp như Hàng tồn kho ở
11 | P a g e
Lạm phát tăng sẽ làm cho chi phí cho việc giảng dạy tăng, dẫn đến học phí tăng
Thu nhập của người dân đang tăng, ước tính con số này sẽ lên tới 1.900 USD vào năm 2013.
Thu nhập tăng có khiến cho chi tiêu tăng trong tình hình kinh tế hiện nay hay không? Theo một
nghiên cứu tổng quan về cuộc sống người dân Việt Nam năm 2013 chỉ ra rằng: Thu nhập cá nhân
tăng nhưng tăng là do ảnh hưởng của lạm phát Vì vậy người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu hơn.
13 | P a g e
Thất nghiệp
Trong 6 tháng đầu năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp chung của Việt Nam tăng nhẹ từ 1,71% trong 6
tháng đầu năm 2012 lên mức 2.01%
14 | P a g e Hằng năm Việt Nam có khoảng 223.000 sinh viên tốt nghiệp đại học hệ công lập và 22.700
sinh viên tốt nghiệp đại học hệ dân lập (theo số liệu của Tổng cục Thống kê), nhưng tỷ lệ sinh viên
sau khi tốt nghiệp ra trường bị thất nghiệp là 63% (theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Văn hóa xã hội
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam
theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoávà hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới
cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ
năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất
lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt
chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội.
trị - Luật là ngành duy nhất ở Việt Nam hiện nay mà chỉ có trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh
mới được phép đào tạo. Vì vậy, đây là sản phẩm độc nhất vô nhị tại thời điểm này cho nên sẽ
không có sự cạnh tranh trực tiếp đối với sản phẩm này mà sự cạnh tranh trực tiếp sẽ bắt nguồn từ
ngành Quản trị kinh doanh của khoa. Như vậy, tất cả khoa của các trường đại học có đào tạo
ngành Quản trị kinh doanh sẽ là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của khoa Quản trị nói riêng và đối
thủ cạnh tranh chung hiện nay gồm 89 trường đại học, 25 học viện nằm trong khối công lập trực
16 | P a g e
thuộc cùng lúc bộ giáo dục và bộ ngành đào tạo, hoặc tổ chức, đoàn thể 23 trường đại học công
lập đào tạo tổng hợp dưới sự quản lý của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, 62 trường đại học
ngoài công lập và 222 trường cao đẳng. Với đặc thù của trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh thì
đối thủ cạnh tranh chính của khoa Quản trị sẽ là những khoa cùng ngành của các trường Đại học
nằm trong khối công lập (sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các trường công lập và ngoài công
lập thông qua việc nhà nước bao cấp chi phí đào tạo và các ưu đãi khác cho sinh viên trường công
lập - sinh viên trường công lập được hưởng 70% chi phí trong khi sinh viên ngoài công lập phải
tự chi trả 100% - Ngoài ra, trường ngoài công lập không được hưởng ưu đãi, thiếu đất xây
trường, bị đánh thuế, bị phân biệt đối xử, bị định kiến, khó tuyển sinh…).
Những khoa của trường sẽ trực tiếp cạnh tranh với Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh
tại khu vực Tp.Hồ Chí Minh như:
Khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh
Khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Kinh tế - Luật Tp.Hồ Chí Minh
Khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Công nghiệp Tp.Hồ Chí Minh
Ngành Quản trị kinh doanh Trường Đại Học Ngoại Thương cơ sở 2 tại Thành
phố Hồ Chí Minh
Khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Ngân hàng Tp.Hồ Chí Minh
Mỗi trường đều có những thế mạnh riêng và ở trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh khi học
ngành này sinh viên được trang bị tốt kiến thức về Quản trị kinh doanh và kiến thức cơ bản pháp luật
về kinh doanh.
Áp lực từ phía khách hàng
số lượng sinh viên tốt nghiệp tìm kiếm được việc làm. Vì thế, các trường đại học, đặc biệt là các
trường đại học ngoài công lập muốn khẳng định thương hiệu của mình, đang tập trung đầu tư thu hút
nguồn nhân lực chất lượng cao. Đơn cử là trường Đại học Nguyễn Tất Thành với chính sách “chiêu
hiền đãi sĩ” khá thành công là “chiêu mô ong chúa”. Theo lý giải của lãnh đạo trường, khi “ong
chúa” về thì các “ong thợ” sẽ tự khắc tìm theo. Ý nói có tiến sĩ, giáo sư giỏi, uy tín về trường thì sẽ
có thêm nhiều giảng viên có trình độ tương tự, nghe tiếng về theo. Tính từ khi lên đại học (năm
2008) đến nay đội ngũ cán bộ viên chức của trường Nguyễn Tất Thành đã có một sự thay đổi và phát
triển khá lớn về lượng lẫn về chất với 5 giáo sư, 2 phó giáo sư, 4 tiến sĩ khoa học, trên 100 tiến sĩ…
Như vậy, trong tương lai sự canh tranh giữa các trường đại học (cả trong và ngoài công lập) sẽ rất
khốc liệt.
18 | P a g e Quy định thành lập ĐH mới phải có vốn tối thiểu 250 tỉ đồng trong khi không nói gì đến nhà
đầu tư cũ - trường ĐH cũ. Do đó, thực tế có không ít trường có vốn dưới 250 tỉ đồng nên chất lượng
là vấn đề nói cho vui! Điều đó cản trở các nhà đầu tư mới đầu tư vào giáo dục.
Nhà cung ứng
Nếu đối tượng khách hàng là sinh viên thì nhà cung ứng của trường đại học là lực lượng giảng
viên. Hiện nay, cơ cấu giảng viên của khoa Quản trị là: các giảng viên cơ hữu giảng dạy Ngành
Quản trị kinh doanh, các giảng viên cơ hữu giảng dạy Ngành Luật và các giảng viên thỉnh giảng.
Tính đến thời điểm tháng 12/2012 nhà trường có 210 giảng viên, trong đó có 48 tiến sĩ, 140 thạc sĩ,
01 GVCC, 38 GVC, Nhà trường hiện đang có 01 Nhà giáo Ưu tú, 01 Giáo sư, 08 Phó giáo sư.
Sản phẩm thay thế
Đối với các trường đại học nói chung và khoa quản trị nói riêng thì sản phẩm thay thế của nó
có thể cao đẳng, trung cấp hoặc trường nghề.
c. Phân tích môi trường bên trong
Tài nguyên nhân lực: Tính đến thời điểm tháng 12/2012 nhà trường có 210 giảng viên,
quận 9, thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, nếu so với các trường công lập trong khu vực Hồ Chí Minh thì cơ sở vật chất, hạ
tầng xây dựng còn nghèo nàn, kém phát triển. Như không có ký túc xá hay cơ sở thể dục thể thao
cho sinh viên
Tài sản vô hình:
Ngày 30 tháng 3 năm 1996, Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo ký Quyết định số 1234/GD-ĐT
thành lập Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh trực thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Hơn 18 năm đào tạo và phát triển, hiên nay trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh là trường đào tạo
luật hàng đầu ở khu vực phía Nam, đạt chất lượng cao trong giảng dạy và nghiên cứu để góp phần
xây dựng cộng đồng, phát triển đất nước và hội nhập, hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới và
các quốc gia trong khu vực. Nhà trường đã đào tạo hàng ngàn cử nhân luật cho cả nước, hàng nghìn
Thạc sỹ và Tiến sỹ trong những năm qua. Tạo nên thương hiệu uy tín Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
như ngày hôm nay.
Chuỗi giá trị
20 | P a g e Đầu tiên là các hoạt động chủ yếu:
- Các hoạt động đầu vào: đó là xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực cho
khoa
- Vận hành: là quá trình giảng dạy
- Các hoạt động đầu ra: đưa sản phẩm ra thị trường
- Marketing và bán hàng: tại Việt Nam hầu hết các trường chưa bắt đầu xây dựng thương hiệu
hoặc thực hiện không bài bản, không có kế hoạch và sự đầu tư thích đáng. Khoa Quản trị cũng
phải là một ngoại lệ, việc không chú trọng xây dựng thương hiệu là hệ quả tất yếu của quan
điểm bao cấp cộng với tình trạng thiếu cạnh tranh do cầu vượt xa cung.
- Dịch vụ: hầu như không có dịch vụ hỗ trợ nào khi sản phẩm đã được đưa ra thị trường,
Tiếp đến là các hoạt động hỗ trợ:
- Quản trị nguồn nhân lực: so với các trường khác trong cùng khu vực thì chính sách tuyển
dụng nhân lực của trường còn thiếu hấp dẫn. Cũng như ít có hoạt động đào tạo nguồn nhân
trường thất nghiệp cao
T4. Vào năm 2009 các cơ
sở giáo dục nước ngoài chính
thức đầu tư vào Việt Nam
Điểm mạnh
S1. Chương trình đào
tạo nắm bắt nhu cầu xã hội
S2. Quy trình tổ chức
đào tạo mang lại hiệu quả
cho sinh viên
S3. Đội ngũ giảng
viên giỏi có chuyên môn
S4. Phương tiện
giảng dạy được đầu tư cao
Các chiến lược SO
Chiến lược đa dạng hóa
ngành nghề
Chiến lược đa dạng hóa loại
hình đào tạo
Các chiến lược ST
Chiến lược phát triển
ngành nghề, nâng cao chất
lượng giảng dạy
III. Phát triển chiến lược cho khoa Quản trị
Chiến lược sản phẩm
Đa dạng hóa ngành nghề đào tạo
22 | P a g e
- Mục tiêu: phát triển sản phẩm mới làm đa dạng hóa ngành nghề đào tạo của khoa,
Để phát triển chất lượng đào tạo chúng ta đã thiết lập chuẩn đầu ra tiếng Anh, giảng dạy kỹ năng
mềm như kỹ năng xin việc, kỹ năng viết CV , xây dựng đội ngũ giảng viên chất lượng cao. Vậy
nên, chỉ còn lại việc làm sao để kéo gần lý thuyết và thực tiễn bằng cách giảng dạy hình thức chứ
không chỉ là nội dung. Tức là làm sao để giải quyết một vụ việc cụ thể, từ việc phải gặp ai và làm
những gì, chứ không chỉ học cách giải quyết nội dung.
Chiến lược tiếp thị
Xây dựng hoạt động Marketing bài bản, hiệu quả:
- Mục tiêu: thực hiện hoạt động Marketing một cách có bài bản hơn, giúp học sinh
và phụ huynh cũng như xã hội hiểu rõ về khoa/trường, về ưu thế của các ngành nghề mà
khoa/trường đào tạo qua đó xây dựng thương hiệu cho khoa/trường.
- Phương pháp thực hiện:
+ Đăng quảng cáo trên báo cho những ngành học mới của trường.
+ Có những bài việt PR nói về khoa/ngành.
+ Liên kết các trường phổ thông tổ chức ngày hội tư vấn hướng nghiệp nhằm giúp học
sinh hiểu rõ về ngành nghề đang đào tạo của khoa, tạo hình ảnh tốt.
+ Tham gia tư vấn mùa thi ở các tỉnh thành trong cả nước
+ Thành lập nhóm biên tập viết những bài báo chuyên đề về trường gửi đến:
* Các doanh nghiệp có thể tham khảo, tìm hiểu về các khóa học ngắn hạn ở
trường. Cũng như tạo mối quan hệ, tìm đầu ra cho các sinh viên có thể đến tham
quan, thực tập hoặc làm việc.
* Các trường trung học phổ thông để giới thiệu cho học sinh hiểu rõ về ngành của
khoa, giúp học sinh có định hướng trong việc học
* Các trường bạn để giao lưu học hỏi, tạo mối quan hệ, có những phong trào hoạt
động giới thiệu hình ảnh về trường.
Phối hợp đẩy mạnh công tác quảng bá cho khoa qua các phong trào: hoạt động văn hóa
nghệ thuật thể dục thể thao, các cuộc thi học thuật, hoạt động từ thiện vì cộng đồng qua đó tạo
hình ảnh thân thiện đến với xã hội