MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cộng hòa Pháp là một cường quốc về kinh tế, tài chính, khoa học –
công nghệ ở châu Âu cũng như trên thế giới. Pháp là một trong những
nước có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của
Liên minh châu Âu (EU) và được coi là một trong những trụ cột của Liên
minh này. Pháp không chỉ là quốc gia lớn về diện tích (547.030 km²) và
dân số (56 triệu dân), mà còn là nơi khởi phát những trào lưu tư tưởng
tiến bộ của nhân loại. Vì thế, từ lâu nước pháp đã có ảnh hưởng quan
trọng đến đời sống chính trị của châu Âu và thế giới.
Thế kỷ XV đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của châu Âu với cao
trào Phục hưng bắt nguồn từ Pháp đã “xé toang” màn đêm Trung cổ bao
phủ lục địa này suốt 10 thế kỷ. Sự trỗi dậy của những tự do trong nghệ
thuật làm cho nền văn hóa châu Âu phát triển rực rỡ. Phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa hình thành làm thay đổi sâu sắc bộ mặt nền kinh
tế châu lục. Những biến chuyển đầy ấn tượng đó đã thu hút toàn bộ sự
tập trung của thế giới về phía lục địa châu Âu mà nước Pháp là nơi hội
tụ những biểu hiện sống động nhất của quá trình vận động ấy. Với
những cuộc cách tân trong văn học, nghệ thuật, hội họa, tôn giáo, kiến
trúc, sự phát triển của công nghiệp, thương mại và giao thông…đã sớm
tạo ra quyền lực và vinh quang cho nước Pháp, đồng thời tạo tiền đề cho
1
sự đăng quang những giá trị Pháp vào thế kỷ XVIII – thế kỷ Ánh sang –
một dấu son rực rỡ trong lịch sử châu Âu và lịch sử thế giới cận đại.
Đại cách mạng tư sản Pháp nổ ra năm 1789 làm rung chuyển châu
Âu và thế giới, tôn vinh thêm những giá trị tư tưởng của dân tộc Pháp.
Cuối thế kỷ XIX, thời kỳ đế quốc Pháp chiếm được nhiều thuộc địa nhất,
đặc biệt là ở châu Phi, Đông Nam Á và Thái Bình Dương. Dưới nền Cộng
hòa thứ III liên tục có cuộc xung đột biên giới…Tuy vây, nước Pháp ngoài
vai trò từng là trung tâm văn hóa kinh tế - chính trị của châu Âu thế kỷ
tố đó khiến cho việc phân tích, tổng hợp và nghiên cứu, cập nhật những
diễn biến trong chính sách đối ngoại của Pháp là không thể thiếu đển
nhận thức, hiểu đúng về chính sách đối ngoại của Pháp nói riêng và hệ
thống chính sách đối ngoại của các nước lớn hiện nay nói chung.
Từ những trình bày nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “chính
sách đối ngoại của Pháp sau chiến tranh lạnh và quan hệ Viêt - Pháp”,
không chỉ có ý nghĩa cấp thiết về mặt lý luận và khoa học, mà còn mang
tính chất thực tiễn sâu sắc đối với nước ta.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu: đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ nội dung chính sách
đối ngoại của Pháp sau chiến tranh lạnh, thực trạng quan hệ Việt – Pháp
trên các lĩnh vực từ năm 1991 đến nay; từ đó dự báo triển vọng quan hệ
Việt – Pháp và đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả
mối quan hệ này trong thời gian tới.
3
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: phân tích những nhân tố chủ yếu
tác động đến chính sách đối ngoại của Pháp và quan ệ Việt – Pháp sau
chiến tranh lạnh. Phân tích nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại của
Pháp thời kỳ sau chiến tranh lạnh.Phân tích chính sách đối ngoại của hai
nước đối với nhau và thực trạng quan hệ Việt – Pháp trên các lĩnh vực.
Từ đó đưa ra dự báo triển vọng của quan hệ Việt – Pháp và đề xuất
những khuyến nghị nhằm tăng cường mối quan hệ này trong tương lai.
3. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, đề tài có cấu trúc gồm 2 phần:
Phần thứ nhất: chính sách đối ngoại của Cộng hòa Pháp sau chiến
tranh lạnh
Phần thứ hai: quan hệ Việt Nam – Cộng hòa Pháp từ sau chiến
tranh lạnh đến nay.
4
quan hệ thế giới.
o Đặc điểm thứ sáu: nhân loại đang đứng trước những vấn đề toàn cầu hết
sức cấp bách (ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, bệnh tật, bùng nổ dân
số, khủng bố…) đòi hỏi sự hợp tác chung của cộng đồng quốc tế để từng
bước giải quyết.
Cùng với những đặc điểm chủ yếu trên, thế giới vận động theo nhiều
xu hướng đan xen phức tạp, trong đó nổi lên các xu thế cơ bản trong quan
hệ quốc tế sau:
• Thứ nhất: hòa bình ổn định hợp tác và phát triển là một xu thế lớn, phản
ánh những đòi hỏi bức xúc của các dân tộc trên thế giới.
• Thứ hai: các quốc gia lớn, nhỏ ngày càng tham gia nhiều vào quá trình hợp
tác, liên kết khu vực và quốc tế về kinh tế, chính trị, thương mại và nhiều
6
lĩnh vực khác. Hợp tác ngày càng tăng những canh tranh cũng gay gắt và
quyết liệt.
• Thứ ba: các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự cường, đấu tranh
chống can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền về nền văn hóa
dân tộc, đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế.
• Thứ tư: các nước XHCN, các Đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng
cách mạng, tiến bộ trên thế giới kiên quyết đấu tranh vì hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
• Thứ năm: các nước có thể chế chính trị khác nhau vừa hợp tác vừa đấu
tranh trong cùng tồn tại hòa bình.
Những đặc điểm và xu thế trên đã quy định tính đa phương, đa dạng
hóa quan hệ quốc tế trong chính sách đối ngoại của mỗi nước. Đặc điểm
quan trọng là tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới ngày
một gia tăng, trước hết là kinh tế, khi nước nào hay bất cứ nhóm nước nào
không thể tự giải quyết được những vấn đề chung của thế giới, đồng thời
mối quan hệ qua lại giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực hoạt động trở
thành xu thế tất yếu.
nghèo nhất vẫn cao hơn nhiều so với nhóm người nghèo ở các lục địa
khác. Sự chênh lệch về tài sản của các quốc gia Tây Âu có GDP và mức
sống cao thì nhiều nền kinh tế Đông Âu vẫn bị ảnh hưởng từ cuộc khủng
hoảng sau sự tan rã của Liên Xô và Nam Tư. Từ năm 2008 trở lại đây,
khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo
sự sụp đổ của hàng loạt định chế tài chính khổng lồ, thị trường chứng
khoán khuynh đảo. Vòng xoáy của cuộc khủng hoảng vẫn chưa kết thúc,
đến nay các nền kinh tế thế giới nói chung, các nước EU nói riêng vẫn
đang phải vật lộn chống đỡ với cuộc khủng hoảng tài chính, cuộc “đại
suy thoái kinh tế” toàn cầu nghiêm trọng nhất trong lịch sử với mức
thâm hụt ngân sách và tỷ lệ thất nghiệp cao kỷ lục. Kinh tế của các nước
8
EU đứng trước rất nhiều khó khăn: tốc độ tăng trưởng giảm sút, sản
xuất trì trệ, thất nghiệp gia tăng, thâm hụt ngân sách và khủng hoảng
nợ công của nhiều nước đang ở mức báo động, vượt xa nhiều so với quy
định của Hiệp ước Mastricht. Cuộc khủng hoảng nợ công của các nước
EU cùng với các kế hoạch cắt giảm chi tiêu, cứu trợ kinh tế vẫn đang tiếp
tục là mối đe dọa nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế của khu vực
- Về văn hóa: sự phân chia thành các vùng văn hóa và ngôn ngữ trong
châu Âu ít mang tính chủ quan hơn là phân chia về mặt địa lý và nó thể
hiện mối liên hệ về văn hóa của con người ở đây.
Vài nét về Liên minh châu Âu
EU là một trung tâm chính trị, kinh tế, khoa học, công nghệ và văn
hóa hàng đầu thế giới, một thực thể có vị thế quan trọng trong đời sống
quốc tế hiện đại. EU có 2 trên tổng số 5 ủy viên thường trực HĐBA LHQ, 4
trên tổng số 7 nước công nghiệp hàng đầu thế giới (G7) nằm trong lòng
EU. Eu còn là cái nôi của 2 cuộc cách mạng công nghiệp và đổi mới công
nghệ, có nền tảng vững chắc về phát triển triển xã hội, phúc lợi cộng
đồng, có truyền thống lâu đời về văn hóa, đa dạng về dân tộc và là một
trong những cội nguồn của văn minh nhân loại cới hai nền văn minh rực
Sức hấp dẫn của một trung tâm kinh tế - thương mại, một thị
trường thống nhất 500 triệu người tiêu dùng.
Đồng tiền chung châu Âu Euro: EU đang phấn đấu cho đông Euro có
vị trí là một đối trọng quan trọng với đồng đô la Mỹ trong trảo đổi
thương mại và dự trữ ngoại tệ trong nền kinh tế thế giới.
Chính sách đối ngoại và an ninh chung, chính sách an ninh phòng
thủ chung châu Âu
Tuy nhiên, vị thế và vai trò của EU cũng có những hạn chế sau:
Về thể chế: mặc dù là một tổ chức khu vực có mức độ thể chế hóa
cao nhưng EU còn xa mới trở thành một thực thể thống nhất bởi EU là
tập hợp của các quốc gia có nhiều sự khác biệt về điều kiện lịch sử, chính
10
trị, kinh tế và văn hóa với những lợi ích riêng phức tạp thậm chí mâu
thuẫn.
Về kinh tế - xã hội: mô hình kinh tế - xã hội châu Âu chưa tạo ra tư
thế cạnh tranh vượt trội so với các trung tâm khác như Mỹ và Nhật Bản.
Về quốc phòng an ninh: Năng lực quân sự yếu kém, chưa tự chủ
được trong đảm bảo an ninh, khả năng đối phó giải quyết khủng hoảng
còn hạn chế, ngay cả trong chính lãnh thổ châu Âu, trong khi đó các
nước thành viên liên tục chịu sức ép cắt giảm ngân sách quốc phòng để
tập trung vào vấn đề kinh tế - xã hội.
EU là liên kết khu vực và nhất thể hóa ở trình độ cao nhất hiện nay.
Hơn nửa thế kỷ phát triển, EU đã đạt được những bước phát triển về
chiều sâu với số lượng các thành viên từ 6 tăng lên 28 nước, với nội hàm
phát triển xuất phát từ lĩnh vực than và thép dần chuyển sang các lĩnh
vực liên kết khác, với việc xây dựng thị trường nội địa duy nhất, lưu
hành đồng tiền chung Euro và quá trình hoàn thiện thể chế chính trị.
Năm 2010 là năm đánh dấu giai đoạn 10 năm thực hiện Hiệp ước Lisbon
nhằm hình thành một khuôn khổ hợp chính sách về chính trị, kinh tế, xã
hội trong giai đoạn trung hạn 10 năm để đưa EU trở thành một khu vực
đầu người của Pháp Năm 2010 đạt 33 100 USD/ người, đứng thứ 39
trên thế giới
1
. Kinh tế Pháp chủ yếu là một nền kinh tế dịch vụ, là một
nền kinh tế mở, chiếm vị trí quan trọng trong trao đổi thương mại quốc
tế: nước xuất khẩu hàng hóa đứng thứ 5 trên thế giới (với 402 tỷ eruro,
4% thị phần thế giới) sau Đức, Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản
2
…
Pháp là một trong những nước sang lập ra EU và khu vực đồng
euro. Nền kinh tế của Pháp là một trụ cột của thị trường chung châu Âu.
Chính phủ Pháp nhận định rằng mặc dù Pháp giữ một vị trí đáng them
muốn trong nền kinh tế thế giới song nước Pháp cần làm sao cho hoạt
1 Central Intelligence Agency (US), France sur CIA factbook, https:// www.cia.gov
2 Livre blanc sur la politique étranère et européenne de la France 2008 – 2020. La France et l’Europe dans le
mond sous la Presidence d’Alain Jupe et de Louis Schuweitzer, p.34
12
động kinh tế đối ngoại của Pháp thích ứng với những tiến triển của môi
trường quốc tế, nhất là quá trình TCH, để thu được nhiều lợi ích nhất.
Tuy nhiên ở phạm vi toàn cầu, so với nhiều nước công nghiệp phát
triển khác thì nước Pháp thu được ít lợi ích hơn từ sự tăng trưởng của
các nước mới nổi. Trong khi Mỹ trên phạm vi toàn cầu luôn đứng trong
số 3 nước xuất khẩu hàng đầu, Pháp chiếm thị phần khá khiêm tốn 2,3%
ở các nước mới nổi và 1,15% ở Đông Á, chỉ khoảng 10% các luồng đầu
tư của Pháp sang các nước mới nổi, trong khi các nước này chiếm 1/3
đầu tư trên thế giới
3
.
Từ năm 2008 trở lại đây, nền kinh tế Pháp găp nhiều khó khăn
trong việc đối phó với khủng hoảng và suy thoái toàn câu. Cho đến nay,
Tư tưởng xuyên suốt chi phối chính sách đối ngoại của Pháp từ thời
De Gaulle đến nay luôn là khôi phục địa vị và uy danh của nước Pháp. Dù
trong bất kì thời điểm nào, hoàn cảnh nào, mục tiêu chính sách này cũng
không thay đổi, nó định hình nên các bước đi đối ngoại tiếp theo của
Cộng hòa Pháp.
2. Nguyên tắc đối ngoại cơ bản
Nguyên tắc đối ngoại cơ bản của Pháp là độc lập tự chủ, đoàn kết
và quảng bá những giá trị văn hóa, văn minh Pháp trên trường quốc tế.
Độc lập tự chủ luôn là nguyên tắc số một trong mỗi hành động đối
ngoại của Pháp. Điều này được thể hiện rõ nét qua việc Pháp tiếp tục
tiến hành chính sách ngoại giao hạt nhân độc lập, tích cực hoạt động
trong các cơ chế liên kết khu vực và quốc tế như Liên minh châu Âu (EU),
Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Cộng đồng các nước sử dụng tiếng
Pháp (Francophonie),…Pháp còn tiến hành nhiều động thái chính trị và
quân sự tại các điểm nóng trên thế giới như Bắc Phi, Trung Đông nhằm
bảo vệ các lợi ích chiến lược và khẳng định tính độc lập về ngoại giao
của mình.
Nguyên tắc đoàn kết đem lại cho Pháp nhiều thành công trong đối
ngoại thời kỳ chiến tranh vẫn tiếp tục được khẳng định. Đối với Pháp,
các tổ chức quốc tế thực sự mang lại cho họ không ít cơ hội để chứng tỏ
và thực hiện uy lực của mình đối với thế giới. Đặc biệt, sau chiến tranh
14
lạnh, hoạt động của Pháp trong khuôn khổ Liên hiệp quốc, EU, NATO, Tổ
chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE)…đang tỏ ra có hiệu quả quan
trọng.
Như vậy nguyên tắc độc lập và nguyên tắc đoàn kết ngày càng gắn
kết với nhau. Đoàn kết là điểm tựa để tạo thế độc lập và ngày càng ảnh
hưởng tới thành công của những bước đi ngoại giao lớn của Pháp. Khi
nào ý chí độc lập và ảnh hưởng của Pháp còn, khi ấy nguyên tắc này còn
giữ nguyên tính thời sự và giá trị của nó.
ngày càng đa dạng đến từ bên ngoài. Quan niệm về quốc phòng của
Pháp, được xác định trong pháp lênh ngày 7/1/1959, giao cho chính
sách quốc phòng của Pháp ba mục tiêu sau:
Một là, bảo vệ các lợi ích sống còn của đất nước mà bao gồm trước
hết là sự an toàn của nhân dân, sự toàn vẹn lãnh thổ và sự tự do thực
hiện chủ quyền của Pháp. Đặc biệt, nước Pháp cũng phải đảm bả việc
bảo vệ lợi ích chiến lược ở phạm vi quốc tế, thông qua việc tham gia
ngăn ngừa các xung đột, duy trì hoặc tái thiết hòa bình, tôn trọng pháp
quốc tế và các giá trị dân chủ thế giới. Về cơ bản, các lợi ích chiến lược
này nhằm duy trì hòa bình trên lục địa châu Âu và các vùng lân cận (Địa
Trung Hải, Trung Đông), và tại các khu vực quan trọng đối với hoạt động
kinh tế và tự do trao đổi của Pháp.
Hai là, hoạt động cho sự phát triển xây dựng châu Âu và cho sự ổn
định của châu lục. Duy trì thứ hạng của Pháp trên thế giới phần lớn phụ
thuộc vào khả năng ảnh hưởng của Pháp đối với việc xây dựng châu Âu
và đối với tương lai phát triển của châu Âu. Sự lựa chọn của châu Âu này
có lý do cả về chiến lược và kinh tế. Pháp thừa nhận tầm quan trọng của
mối liên hệ giữa châu Âu và Mỹ và phấn đấu đạt được một sự chia sẻ tốt
hơn về trách nhiệm giữa hai bên trong việc giải quyết các vấn đề an ninh
thế giới, phục vụ cho những sứ mệnh gìn giữ hòa bình hoặc giải quyết
khủng hoảng.
Ba là, thực hiện quan niệm toàn diện về quốc phòng. Quan niệm
quốc phòng toàn diện của Pháp dựa trên cơ sở lý luận là sự an ninh và
ổn định của một nhà nước phụ thuộc không chỉ vào sức mạnh quân sự
16
và cảnh sát, mà còn phụ thuộc không chỉ vào sự tổ chức xã hội, hệ thống
giáo dục và cách thức huy động tình đoàn kết quốc gia và quốc tế. Như
vậy, an ninh dân sự đảm bảo việc bảo vệ cho nhân dân, duy trì trật tự
công cộng và tính liên tục của Nhà nước. Nó bao gồm cả việc ngăn ngừa
và bảo vệ đối với các nguy cơ về tự nhiên và công nghệ lớn, bảo mật các
Đẩy mạnh chính sách ảnh hưởng, theo đó Pháp vẫn chủ trương duy
trì mối quan hệ chặt chẽ và gắn bó với những nước thuộc thế giới thứ ba
chủ yếu thông qua hoạt động viện trợ và phát triển nhân đạo cũng như
các hoạt động của Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp. Các hoạt
động này hình thành lên một kênh ngoại giao quan trọng, vừa gây ảnh
hưởng vừa chuyển tải những mục tiêu văn hóa.
Hiện nay Pháp là nước có hệ thống các cơ quan ngoại giao lớn thứ
hai trên thế giới (sau Mỹ) với khoảng 160 đại sứ quán và 197 lãnh sự
quán có mặt khắp các châu lục. Nước Pháp cũng có đại diện thường trực
tại 17 tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc (ONU), Tổ chức an ninh và
hợp tác châu Âu (OSCE), Tổ chứ lương thực và nông nghiệp Liên Hợp
Quốc (FAO)…Bộ Ngoại giao và châu Âu của Pháp hiện có khoảng 16.500
nhân viên có mặt ở châu Âu và trên toàn thế giới nhằm thực hiện các sứ
mệnh ngoại giao: bảo vệ các lợi ích của Pháp ở nước ngoại, hỗ trợ các
công dân Pháp bên ngoài lãnh thổ nước Pháp, đồng thời quảng bá hình
ảnh nước Pháp và góp phần mở rộng ảnh hưởng của Pháp trên toàn thế
giới.
Cách đây hớn 1 thế kỷ, chính Pháp là nước khởi xướng ra việc xây
dựng một mạng lưới trung tâm văn hóa để truyền bá văn minh, văn hóa
Pháp trên toàn thế giới. Đó là một mạng lưới các viện, các trung tâm,
các cơ sở hoạt động dưới sự điều hành của Viện trao đổi văn hóa Pháp
(Liên hợp Pháp – Alliance Francaise). Ngày nay mạng lưới này gồm có
144 cơ sở văn hóa có mặt trên 90 quốc gia và một mạng lưới 283 viện
trao đổi văn hóa Pháp.
Hoạt động hợp tác giáo dục và khoa học công nghệ cũng phát triển
rất mạnh. Một mạng lưới trường học bằng tiếng Pháp ở nước ngoài đac
được thiết lập với 252 cơ sở giáo dục. Pháp cũng thành lập hơn 200 chi
18
nhánh giáo dục đại học ở các nước thuộc Tổ chức Pháp ngữ và tăng
cường quan hệ hợp tác giáo dục đại học với các đối tac lớn như Đức, Mỹ.
19
và bất diệt. Nhưng tình bạn, đó là ở bên các bạn của mình khi mà họ cần
bạn và có thể nói cho họ sự thật khi họ sai lầm. Tình bạn, là sự tôn trọng,
sự hiểu biết, sự trìu mến, nhưng đó không phải là sự phục tùng. Tình bạn
chỉ có được thực sự nếu như người ta được tự do. Tôi muốn một nước
Pháp tự do và một châu Âu tự do. Tôi đề nghị những người bạn Mỹ của
chúng ta để cho chúng ta được tự do; tự do được làm bạn của họ”.
Những tuyên bố đó ngay lập tức được chuyển thành các quyết định
có tính bước ngoặt trong chính sách đối ngoại của Pháp đối với Mỹ.
Quan hệ Pháp – Mỹ nồng ấm hơn về nhiều mặt…tuy nhiên vẫn tồn tại
một số bất đồng xung quanh một số vấn đề quốc tế như vai trò của Mỹ
trong cuốc chiến tranh chống lại sự biến đổi khí hậu và chính sách tiền tệ
của Mỹ…
Thứ tư: EU được đặt ở vị trí trung tâm trong chính sách đối ngoại
của Pháp.
Châu Âu là “ưu tiên tuyệt đối” trong chính sách đối ngoại của
Pháp. Tổng thống N. Sarkoxy đã xác định: “xây dựng châu Âu là ưu tiên
tuyệt đối của chính sách đối ngoại Pháp. Không có EU mạnh và năng
động, nước Pháp cũng không thế đối phó có hiệu quả với ba thách thức.
Khống có một châu Âu với vai trò mạnh, thế giới sẽ thiếu đi một cực đảm
bảo sự cân bằng cần thiết”. Do đó Pháp tích cực thúc đẩy quá trình nhất
thể hóa châu Âu. Nước Pháp luôn là một trụ cột, giữ tiếng nói quan
trọng, có sang kiến mới sẵn sàng nhiệt tình đi đầu thực hiện những sứ
mệnh trọng đại của Liên minh.
Hành động trong khuôn khổ EU đã trở thành một nguyên tắc tuyệt
đối trong chính sách đối ngoại của Pháp, trên các lĩnh vực như gìn giữ
hào bình, tôn trọng luật pháp quốc tế về hợp tác song phương. Một chính
sách đối ngoại chung về an ninh quốc phòng cũng từng bước được phát
triển thông qua các hành động chung đối với các vấn đề quốc tế chính
20
21
tin theo. Tuy nhiên Hiệp ước Versailles năm 1787 đã không làm cho mối
quan hệ Việt – Pháp gần gũi và thân thiện hơn, trái lại nó là mầm mống
cho một ý đồ câm lược và làm cho nhân dân Việt Nam phái mất gần 100
năm để chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp. Năm 1858 thực dân
Pháp nổ sung xâm lược Việt Nam tại bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng, mở
đầu cho quá trình xâm lược Việt Nam. Sau rất nhiều khó khăn đến năm
1884 Pháp mới cơ bản xâm chiếm xong Việt Nam về lãnh thổ. Pháp đã
biện minh cho sự có mặt ở Việt Nam như là người mang “sứ mệnh khai
hóa” nhưng thực chất Đông Dương chỉ là “một bong hoa đẹp nhất” trong
các thuộc địa của Pháp, là nơi cung cấp nhân tài và vật lực cho nước
Pháp.
Từ giữa thế kỷ XIX cho đến năm 1954, Xứ Đông Dương thuộc Pháp
trong đó có Việt Nam. Mối liên hệ duy nhất giữa hai nước chỉ đơn thuần
là mối quan hệ giữa một kẻ đi xâm lược với nhân dân một dân tộc đang
ngày đêm không ngừng đứng lên chống lại kẻ xâm lược. Sức mạnh của
lòng yêu nước đã đưa nhân dân Việt Nam hai lần quật khởi giành độc
lập, tự do từ tay Pháp. Đó là Cách mạng tháng Tám năm 1945 và Chiến
thắng Điện Biên Phủ buộc Pháp phải ký Hiệp định Geneve chấm dứt
chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Sau Hiệp định Geneve, mặc dù chiến tranh Việt – Pháp đã kết thúc
nhưng quan hệ giữa hai nước không mấy tốt đẹp do mối quan hệ đồng
minh chồng chéo, phức tạp của thời kỳ chiến tranh lạnh và cuộc chiến
tranh do Mỹ tiến hành ở Việt Nam. Tuy nhiên trong thời gian diễn ra
cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, Cộng hòa Pháp
bằng kinh nghiệm từng trải của mình đã không ít lần cảnh báo đế quốc
Mỹ về một thất bại không thể tránh khỏi ở Việt Nam. Pháp đã tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình tổ chức Hội nghị Pari về chấm dứt chiến
tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Sau khi Hiệp định Pari được ký kết
22
khung về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Đầu năm 1990, Bộ
trưởng Ngoại giao Pháp R.Dumas thăm Việt Nam. Pháp cũng nối lại viện
trợ phát triển chính thức cho Việt Nam, thúc đẩy quan hệ trên mọi lĩnh
vực, hỗ trợ Việt Nam giải tỏa quan hệ với các tổ chức tài chính và tiền tệ
quốc tế, ủng hộ Việt Nam thiết lập và tăng cường quan hệ với EU. Có thể
nói giai đoạn 1973 – 1991, quan hệ Việt – Pháp tuy có không ít những
thăng trầm nhưng cũng đã đạt được những thành công nhất định. Các
hiệp định được ký kết đã mở đầu và là nền tảng quan trọng trong việc
phát triển quan hệ giữa hai quốc gia này.
Tóm lại, mặc dù trong quá khứ quan hệ giữa hai nước có những
thăng trầm, có lúc là kẻ thù của nhau, nhưng cả Việt Nam và Pháp đã
cùng vượt qua những mặc cảm trong quá khứ để đưa quan hệ hai nước
ngày càng nồng ấm lên bằng việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau. Tuy
khác nhau về trình độ phát triển, và gặp không ít những rào cản nhưng
từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, xuất phát từ lợi ích của chính mình,
mối quan hệ giữa hai nước có những bước phát triển tốt đẹp. Quan hệ
Việt – Pháp không chỉ dừng lại ở mối quan hệ song phương mà còn diễn
ra trong khuôn khổ của các mối quan hệ đa phương thông qua các tổ
chức và diễn đàn khu vực, thế giới như EU, ASEAN, APEC…Những thành
tựu bước đầu đạt được trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế,
văn hóa – giáo dục…kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến
năm 1991 chính là tiền đề, là sự khởi đầu tốt đẹp cho mối quan hệ giữa
hai quốc gia sau này.
2. Pháp trong chính sách đối ngoại của Việt Nam và Việt Nam trong
chính sách đối ngoại của Pháp.
2.1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Pháp
Trong bối cảnh thế giới Toàn cầu hóa là một cách rộng lớn và sâu
sắc hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phục vụ chiến lược
phát triển quốc gia đã trở thành một xu thế không thể cưỡng lại và là
24