ĐỀ TÀI: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI HỆ PHỔ
BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN
HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP
TỰ CHỦ VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ
1
MỤC LỤC
Chương I: Hội nhập kinh tế một xu hướng tất yếu của nước ta trên con đường tiến lên
CNXH
1. Xu hướng hội nhập thế giới xu hướng của thời đại:
2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài này:
Chương II : Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến
1. Triết học Mac- LêNin:
2. Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến
2.1 Liên hệ – Liên hệ phổ biến:
2.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
2.3 Yêu cầu của nguyên lý phổ biến:
2.3.1 Quan điểm lịch sử cụ thể:
3. Vậy tại sao khi nghiên cứu vấn đề này chúng ta phải dùng mối liên hệ phổ biến:
Chương III: Toàn cầu hoá
1. Toàn cầu hoá kinh tế là gì? Những đặc điểm của toàn cầu hoá kinh tế:
2.Bản chất của toàn cầu hoá:
3. Toàn cầu hoá những cơ hội và thách thức
Chương IV: Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ vững mạnh
1. Nền kinh tế như thế nào được gọi là một nền kinh tế độc lập tự chủ:
2. Vì sao chúng ta phải xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ vững mạnh:
3. Làm như thế nào đẻ đảm bảo được một nền kinh tế độc lập vững mạnh:
Chương V: Việt Nam sau 10 năm đổi mới
Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập:
Chương VI: Kết luận
NỘI DUNG
2
nước nhanh chóng trở thành một nước phát triển và hội nhập thật tốt.
3
4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài này:
Như các nhà lãnh đạo của chúng ta đã khẳng định, Việt Nam luôn muốn hoà nhập thật
tốt vào hội nhập thế giới. Nhưng làm sao vừa hội nhập cho thật tốt lại vừa đảm bảo được
chủ quyền. Trên thực tế đã có rất nhiều bài học cay đắng của các nước đi trước, do hội nhập
không đúng đã dẫn tới mất chủ quyền phụ thuộc vào bên ngoài. Chính vì vậy việc nghiên
cứu đề tài này sẽ giúp tôi và các bạn hiểu rõ thêm về “Toàn Cầu Hoá” đồng thời biết được
những bước đi của Việt Nam trong quá trình hội nhập. Bản tiểu luận này sẽ giúp chúng ta
hiểu thêm về những thành tựu của nước ta đã thực hiện được và những bước đi sắp tới.
Chương II : Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến
3. Triết học Mac- LêNin:
Triết học Mac- LêNin cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mac- LêNin ra đời vào những năm
40 của thế kỉ XIX do C.Mac và Ph.Ăngghen sáng lập ra. Sau đó, V.I.LêNin phát triển nó
cao hơn.
Triết học Mac- LeNin ra đời không phải chỉ do sự suy tư cá nhân, sự tưởng tượng của
C.Mac và Ph.Ăngghen mà do những nguyên nhân kinh tế, xã hội và sự phát triển của nhân
loại trước đó quy định. Triết học Mac- LêNin ra đời dựa trên 3 cơ sở cơ bản sau:
(a) Cơ sở về kinh tế và xã hội: Vào những năm đầu của thế kỉ XIX các cuộc cách
mạng công nghiệp đã đem lại cho các nước TBCN sự phát triển mạnh mẽ. Để nhận xét về
điều này C.Mac đã nói: “ Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế
kỉ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả
các thế hệ trước cộng lại”. Sự phát triển ấy đã chứng minh tính chất tiến bộ của phương
thức sản xuất TBCN hơn hẳn các chế độ khác trước đó. Tuy nhiên, sự phát triển đó ngày
càng làm hằn sâu thêm sự mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Giai cấp vô
sản ngày càng lớn mạnh và đứng lên đấu tranh giành quyền lợi. Chính vì vậy họ cần một
thứ vũ khí lý luận sắc bén và triết học Mac- LêNin ra đời đã thoả mãn được yêu cầu đó.
(b) Cơ sở lý luận: Triết học Mac- LêNin dựa trên phép biện chứng của Hêghen và
quan điểm duy vật triệt để của Phoi-ơ-băc. Hai ông C.Mac và Ph.Ăngghen đã dựa và đó
sáng lập ra phép biệnchứng duy vật. Các ông đã kế thừa và phát huy những mặt tích cực
cũng là một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, nội dung của chúng cũng chỉ là
kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan. Ngoài ra, theo quan điểm duy vật
biên chứng còn thừa nhận tính đa dạng của sự liên hệ: có mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ
bên trong; có mối liên hệ thứ yếu và mối liên hệ chủ yếu Các loại liên hệ khác nhau có
5
vai trò khác nhau đối với sự vận động vầ phát triển của các sự vật hiện tượng. Trong đó,
mối liên hệ bên trong giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vân động, phảttiển của sự
vật. Mối kiên hệ bên ngoài, nói chung, không có ý nghĩa quyết định và thường phải thông
qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng.Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về
sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ. Các mối
liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau. Trong tính đa dạng của hình thức và các loại
liên hệ tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội và tư duy con người, phép biện chứng duy vật
tập trung nghiên cứu những loại liên hệ chung mang tính phổ biến.
4.3 Yêu cầu của nguyên lý phổ biến:
4.3.1 Quan điểm toàn diện: Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp
luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải
xem xét nó:
+ Trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc
tính khác nhau của chính sự vật đó.
+ Trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác (kể cả trực
tiếp và gián tiếp).
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức được sự vật hiện
tượng chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Quan
điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý tới nhiều mặt,
nhiều mối kiên hệ. Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật vẫn có thể là
phiến diện, nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những tính quy định khác
nhau của sự vật được thẻ hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện
chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến
chỗ khái quát đẻ rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện
tượng đó. Quan điểm toàn diện khác với chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện. Chủ
độ và chất lượng cao hơn các quá trình quốc tế hoá trước kia. Toàn cầu hoá kinh tế có một
số đặc điểm sau khác với các quá trình quốc tế hoá trước kia:
a) Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ thì Mỹ là một siêu cường lớn
nhất thế giới. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, Mỹ đang có chiều hướng chững lại và
các nước phát triển khác đang vươn lên, điều đó tạo nên một thế giới có nên kinh tế không
còn một cực như trước kia mà là đa cực.
b) Kinh tế thị trường nhiều kiểu, nhiều mức độ khác nhau đang lan tràn khắp thế
giới, kéo theo nó là sự tăng cường tự do hoá kinh tế và xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh
tranh.
7
c) Cách mạng khoa học kĩ thuật làm cho con người có khả năng thực hiện rất nhiều
việc mà trước đây không thể. Chính điều này đã thúc đẩy sự toàn cầu hoá một cách nhanh
chóng.
d) Các mối quan hệ của toàn cầu hoá ngày càng toàn diện chứ không phải chỉ dừng
lại ở thương mại xuất – nhập khẩu.
e) Toàn cầu hoá được thúc đẩy bởi một số nhân tố sau:
+ Đó là các công ty cực lớn, vừa, nhỏ tới từng cá thể tích cực tham gia vào
quá trình toàn cầu hoá. Trong hàng triệu, hàng nghìn công ty trên, có vai trò lớn nhất nằm
trong tay khoảng chừng 50.000 công ty xuyên quốc gia
+ Đó là do sự thúc đẩy tích cực của các chính phủ.
+ Đó là do sự tác động của các tổ chức phi chính phủ, họ đang thành lập
ngày càng đông đảo, đa dạng và hoạt động ngày càng có hiệu quả trong quá trình toàn cầu
hoá.
+ Đó là các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại khu vực.
+ Đó là các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế như WTO, IMF
f) Toàn cầu hoá phải đi đôi với hội nhập khu vực và các quan hệ song phương
g) Toàn cầu hoá, theo các nhà nghiên cứu thì đây là một quá trình “mở” đang còn
vân động và sẽ còn trải qua nhiều giai đoạn.
2.Bản chất của toàn cầu hoá:
Hiện nay, nói đến vấn đề này trên thế giới đang có hai thái cực tranh cãi nhau rất
3. Toàn cầu hoá những cơ hội và thách thức
(a) Những cơ hội:
+ Thứ nhất, sự phát triển của toàn cầu hoá kinh tế phá bỏ những cản trở, những
hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia. Nó mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
về quan hệ kinh tế thế giới. Từ đó, các quốc gia có thế lợi dụng để mở rộng thị trường ra
bên ngoài quốc gia mình.
+ Thứ hai, toàn cầu hoá phát triển giúp các nước chậm phát triển sớm tham gia
vào hệ thống phân công lao động quốc tế. Điều này, giúp các nước chậm phát triển hình
thành một cơ cấu kinh tế – xã hội hiệu quả, đẩy nhanh, rút ngắn tiến trình hiện đại hoá nền
kinh tế.
+ Thứ ba, toàn cầu hoá phát triển tạo điều kiện cho các nước tiếp cận với những
nguồn vốn và công nghệ kĩ thuật cao cũng như học tập công nghệ quản lý.
+ Thứ tư, toàn cầu hoá phát triển làm cho các nước liên hiệp với nhau thành
những khu vực tự do thương mại. Điều này giúp dỡ bỏ hàng rào thuế quan đối với các nước
thành viên, dẫn đến hàng hoá có thể nhanh chóng tiếp cần với thị trường thế giới. Hơn nữa,
9
với các nước đang phát triển thì việc hội nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới cũng chính là
tham gia vào các diễn đàn kinh tế thế giới cho phép mình quyền bình đẳng bày tỏ quan
điểm, bảo vệ lợi ích của mình.
+ Thứ năm, toàn cầu hoá thực chất là quá trình mở cửa hội nhập của các quốc
gia. Tuy nhiên, không chỉ hội nhập riêng về kinh tế mà còn về nhiều vấn đề khác nữa. Điều
ấy giúp cho các quốc gia nhanh chóng tiếp cận được các thông tin, tri thức khoa học mới
nhất. Nó góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo cơ sở cho nền tảng cho dân chủ phát triển.
+ Thứ sáu, toàn cầu hoá mở ra khả năng phối hợp nguồn lực của các quốc gia
trên thế giới để giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu như: môi trường,dân số, chiến tranh
và hoà bình
(b) Những thách thức của toàn cầu hoá:
+ Thứ nhất, do tính bất đối xứng của toàn cầu hoá, nó phân chia thành quả rất
bất công. Chính vì thế, toàn cầu hoá không phân chia công bằng các cơ hội và lợi ích giữa
các khu vực, quốc gia và trong môi quốc gia và từng nhóm dân cư. Trên thực tế, trong toàn
vẫn có khả năng đứng vững, không bị sụp đổ, không bị rối loạn.
+ Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, nói tới độc lập tự chủ về kinh tế không ai hiểu
đó là nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, mà đặt trong mối liên hệ biện chứng với mở cửa,
hội nhập, chủ động tham gia sự giao lưu, hợp tác và cạnh tranh quốc tế trên cơ sở phát huy
tốt nhất nội lực và lợi thế so sánh quốc gia, từng bước xây dựng một cơ cấu sản xuấtđáp
ứng được cơ bản nhu cầu thiết yếu về đời sống của nhân dân và có khả năng trang bị lại ở
mức cần thiết cho nhu cầu phát triển kinh tế , củng cố quốc phòng – an ninh.
5. Vì sao chúng ta phải xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ vững mạnh:
Theo như trên ta đã thấy một nền kinh tế độc lập tự chủ là như thế nào. Vậy tại sao
trong khi hội nhập kinh tế thế giới chúng ta phải xây dựng một nền kinh tế độc lập như
vậy? Có ý kiến cho rằng, trong điều kiện “Toàn cầu hoá” nền kinh tế, mở cửa hội nhập mà
lại đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là thiếu nhạy bén, không thức thời, thạm
chí là bảo thủ, tư duy kiểu cũ. Thế giới bây giờ là một thị trường thống nhất, cần thứ gì thì
mua, thiếu tiền htì đi vay, sao lại chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ? Nói như
vậy khi nghe có vẻ có lí, nhưng nếu đi sâu vào thực tế thì thấy hoàn toàn thiếu cơ sở, vì nó
quá ư đơn giản và phiến diện. Thực tiễn cho thấy nếu không có một nền kinh tế độc lập tự
chủ sẽ không những không thể có sự độc lập về chính trị, không thể bảo đảm được lợi ích
cơ bản của dân tộc cũng như chủ quyền quốc gia mà bản thân việc mở cửa, hội nhập kinh tế
quốc tế cũng không đạt được kết quả như mong muốn. Sự cần thiết phải xây dựng một nền
11
kinh tế độc lập tự chủ cùng với việc đẩy mạnh quá trình chủ động hội nhập kinh tế xuất
phát từ một số luận điểm sau đây:
+ Tất cả các nước tham gia hội nhập kinh tế đều xuất phát từ mục tiêu bên trong,
phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ trong nước. Toàn cầu hoá, tự do hoá làm cho các nền kinh
tế phụ thuộc, đan xen vào nhau. Tuy nhiên sự ràng buộc về lợi ích đó không có sự ràng
buộc thuần tuý, vô điều kiện mà chính là vì phải chia sẻ lợi ích một cách hợp lí, nhằm mục
đích cuối cùng là thu được nhiều hơn lợi ích cho đất nước mình, dân tộc mình, giữ được
tính độc lập của nền kinh tế qua mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, một sự ràng
buộc đa phương về lợi ích. Tất cả các nước tham gia vào quá trình tự do hoá thương mại
đều trước hết vì lợi ích của mình, tuyệt nhiên không vì lợi ích của nước khác. Thế nhưng,
thành luật chơi trong sân chơi toàn cầu. Muốn tham gia vào sân chơi này thì mỗi nước phải
tự khẳng định mình, tìm cho mình một vị trí đứng. Muốn vậy điều quan trong bậc nhất là
tạo ra thật nhiều sản phẩm mà ai cũng thấy cần và được chấp nhận. Như vậy, nước nào
muốn thu được nhiều lợi nhuận thì phải nắm công cụ quan trọng là khoa học công nghệ
hiện đại. Để thực hiện việc chuyển giao công nghệ, mỗi nước phải đạt tới một trình độ nhất
định mới tiếp thu được công nghệ hiện đại. Thế nhưng một vấn đề quan trọng hơn, là phải
phá vỡ bức rào cản do các công ty xuyên quốc gia đặt ra về tình trạng độc quyền các công
nghệ hiện đại. Trong nhiều trường hợp, dựa vào ưu thế công nghệ hiện đại, họ tự cho mình
quyền chi phối các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế, quyền đưa lợi ích kinh tế đi kèm với
các điều kiện chính trị, áp đặt tư tưởng. Thậm chí, một số nước phát triển còn đưa ra quyền
trừng phạt các nước dưới nhiều hình thức. Vì vậy, để khắc phục đến mức thấp nhất tình
trạng bị rơi vào thế lệ thuộc, tất cả các nền kinh tế bằng mọi cách phải nâng cao nguồn nội
lực của mình, nâng sức mạnh kinh tế tring nước, chống sự can thiệp quá sâu từ bên ngoài.
Trong bối cảnh quốc tế phức tạp và đầy mâu thuẫn như đã phân tích, đối với đất
nước ta, việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ càng cần thiết hơn bởi nó là điều
kiện quyết định giữ vững được định hướng phát triển mà chúng ta đã lựa chọn. Nói một
cách khác, có xây dựng được một nền kinh tế độc lập tự chủ thì mới tạo được cơ sở kinh tế,
cơ sở vật chất – kĩ thuật của chế độ chính trị độc lập tự chủ. Độc lập tự chủ về kinh tế được
đặt trong mối quan hệ biện chứng với độc lập tự chủ về các mặt khác sẽ tạo ra sự độc lập tự
chủ và sức mạnh tổng hợp của một quốc gia. Tóm lại, chỉ có xây dựng được nền kinh tế
độc lập tự chủ, chúng ta mới có cơ sở và điều kiện để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
3. Làm như thế nào đẻ đảm bảo được một nền kinh tế độc lập vững mạnh:
13
Một là, phải có đường lối chính sách đúng đắn, chính sách độc lập tự chủ. Độc lập
tự chủ về đường lối, chính sách kinh tế có nghĩa là chúng ta tự lựa chọn định hướn phát
triển, tự mình xác định chủ trương chính sách và mô hình kinh tế, không bị động và lệ
thuộc bên ngoài, không chịu sức ép của bất cứ ai vì mục đích không lành mạnh của họ. đại
hội IX của Đảng đã xác định đường lối kinh tế của nước ta: Đẩy mạnh công nghiệp hoá,
- Muốn có thực lực kinh tế đủ mạnh thì phải nhất thiết phải đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, coi đây là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân ta
trong suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Có công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì mới tạo
ra cơ sở vật chất, kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội, tạo ra thực lực của đất nước, nâng cao đời
sống của nhân dân.
Chương V: Việt Nam sau 10 năm đổi mới
1.Các bước đi của nước ta trong quá trình hội nhập:
+) Năm 1993, chúng ta khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ
quốc tế như IMF, WB, ADB. IMF, WB đã hỗ trợ chúng ta thông qua chương trình tín dụng
trung hạn: Chương trình điều chỉnh cơ cấu (SAC) cuẩ WB và chương trình điều chỉnh cơ
cấu mở rộng (ESAF) của IMF. Nội dung đàm phán với các tổ chức này gắn bó mật thiết với
các điều kiện của tổ chức Thương Mại Quốc Tế (WTO). Trong quan hệ với các tổ chức
này, chúng ta chỉ chấp nhận sự hỗ trợ tài chính nếu yêu cầu của hộ không trái với đường lối
chính sách của chúng ta; có năm họ đưa ra điều kiện vi phạm chủ quyền lợi ích quốc gia
nên ta không chấp nhận.
+) Ngày 25/7/1995, nước ta đã chính thức gia nhập ASEAN, đồng thời tham
gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Từ ngày 01 tháng01 năm 1996, chúng ta bắt
đầu thực hiện các cam kết và các nghĩa vụ trong Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực
chung (CEPT) cuẩ AFTA. Theo quy định của CEPT, tới năm 2006 chúng ta có nghĩa vụ
phải giảm thuế nhập khẩu xuống còn o – 5% ( trừ một số hàng nông sản nhạy cảm sẽ thực
hiệ tới năm 2010). Tới năm 2010 sáu nước thành viên cũ của ASEAN sẽ thực hiện toàn bộ
các mặt hàng có thuế suất bằng 0%, với Việt Nam là 2015.
+) Tháng 3 năm 1996, nước ta đã tham gia Diễn Đàn Hợp Tác Á - Âu
(ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập. Nội dung thảo luận chủ yếu tập trung vào thuận
lợi hoá thương mại và đầu tư và hợp tác giữa các nhà doanh nghiệp Á - Âu. Cam kết tự do
hoá thương mại, đầu tư chưa được đặt ra.
+) Ngày 15 tháng 6 năm 1996, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập Diễn Đàn
Hợp Tác Kinh Tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) lúc bấy giờ gồm 18 nước và lãnh thổ
(ngày nay là 21) và tháng 11 năm 1998 đã được công nhận là thàng viên chính thức của tổ
15
chúng ta đã thực hiện được 21 tỷ USD. Vốn đầu tư nước ngoài đóng góp một phần quan
trọng vào nền kinh tế trong nước.
16
+ Tranh thủ được nguồn viên trợ phát triển chính thức và ngày càng giảm
thiểu nợ nước ngoài.
+ Tiếp thu khoa học kỹ thuật, khoa học quan lý, góp phần và việc đào tạo
một lực lượng cán bộ năng động, sáng tạo.
+ Từng bước đưa hoạt động kinh tế và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh
tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
(b) Những hạn chế:
+ Chủ trương hội nhập toàn cầu hoá đã được khẳng định trong nhiều văn
kiện của Đảng. Tuy nhiên, nhận thức về từng bước đi, lộ trình hội nhập còn đơn giản; nhiều
cán bộ, đơn vị chưa nhận thức được những cơ hội và thách thức của quá trình hội nhập, chữ
chủ động tìm hiểu vượt qua các thách thức nắm bắt cơ hội vươn lên. Một số đơn vị còn có
chính sách lạc hậu không bắt kịp quá trình phát triển gây trở ngại cho toàn cục.
+ Chủ trương hội nhập mới chỉ được triển khai ở các đơn vị cấp TW, các
thành phố lớn chưa có sự phối hợp đồng bộ của nhiều đơn vị. Chính vì vậy nó mất đi sức
mạnh của khối đại đoàn kết.
+ Chúng ta chưa có một kế hoạch lâu dài cho quá trình hội nhập và chưa có
lộ trình hợp lý cho việc hội nhập.
+ Nhiều doanh nghiệp lạc hậu, thiếu sự năng động, thiếu hiểu biết về luật
pháp quốc tế, khả năng cạnh tranh kém, lại quá ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà Nước còn
nặng.
+ Nước ta tuy đã biến đổi nhiều nhưng môi trường kinh doanh vẫn chưa thật
sự thông thoáng. Hệ thống pháp luật tuy đã được cải thiện nhiều nhưng vẫn chưa đồng bộ,
rườn rà. Kết cấu hạ tầng kém, hệ thống hành chính vẫn có nhiều biểu hiện quan liêu, tham
nhũng. Trình độ năng lực nghiệp vụ còn yếu kém, chưa được đào tạo đến nơi đến chốn.
+ Đội ngũ làm kinh tế đối ngoại còn thiếu và yếu. Các cơ quan chức năng
còn chưa chuẩn bị cho các doanh nghiệp hội nhập kinh tế.
6. Những giải pháp cho Việt Nam:
Nhà nước ta dựa trên những ý kiến trên đã đặt ra cho chúng ta những nhiệm vụ
cần thiết:
+ Tuyên truyền rộng rãi, giải thích đối với mọi tầng lớp về vấn đề hội nhập kinh
tế quốc tế. Làm sao cho nhân dân ta thấy rằng đó là một bước đi tất yếu và có niềm tin để
tham gia vào quá trình hội nhập.
+ Nhgiên cứu và xây dựng một lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta.
Đồng thời trong khi hội nhập cần chú ý tới các ngành mà ta còn yếu kém như viễn thông,
dịch vụ
18
+ Chủ động và khẩn trương chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế, nâng cao trình
độ khoa học kĩ thuật, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam. Chúng ta
phải không ngừng nâng cao chất lượng, đồng thời phải tìm cách hạ giá thành sản phẩm.
+ Tích cực hoàn thành một cơ cấu quản lý đồng bộ theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Nhà nước cần thúc đẩy làm nhanh chóng hình thành nên các thị trường hàng hoá, bất
động sản, thị trường chứng khoán
+ Có kế hoạch về đào tạo nhân lực tinh thông về nghiệp vụ, vững vàng về chính
trị.
+ Kết hợp hoạt động đối ngoại về chính trị và kinh tế chính trị.
+ Chủ chương hội nhập kinh tế với đảm bảo an ninh quốc phòng.
+ Tích cực đàm phán để tham gia vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO.
+ Kiện toàn Uỷ ban kinh tế quốc tế đủ năng lực và thẩm quyền.
(b) Khai thông thị trường, chủ động hội nhập quốc tế: Sau gần 15 năm thực
hiện đường lối đổi mới và mở cửa theo tinh thần Đại Hội VI của Đảng, nền kinh tế nước ta
đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, tạo thế và lực lượng khá vững chắc cho đất
nước bước vào thế kỉ XXI. Đến nay quy mô nền kinh tế đã tăng gấp hai lần so với năm
1990. Chúng ta đã thiết lập quan hệ với hơn 170 nước, tranh thủ được đầu tư trực tiếp của
gần 100 nước với 2290 dự án, vốn đăng kí trên 35,5 tỉ USD và vốn thực hiện đạt trên 15,1
tỉ USD. Đáng chú ý là chúng ta đã khai thông được quan hệ với các tổ chức tài chính – tiền
tệ lớn trên thế giới như WB,IMF ; mở rộng thị trường xuất nhập khẩu sang EU, Bắc
Mỹ.Tuy nhiên, chúng ta cũng có không ít hạn chế như:
đất, có giải pháp khuyến khích đối với các công ty bán nhà trả góp, giảm giá thuế chước
bạ
4. Đối với thị trường sức lao động: Nhà nước cần xác định đầu tư tối ưu cho
giáo dục - đào tạo là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho phát triển. Một mặt tăng ngân sách
cho GD - ĐT. Mặt khác, khuyến khích đầu tư từ nhiều nguồn, đặc biệt chú trọng hoạt động
đào tạo, dạy nghề cung ứng cho thị trường nguồn nhân lực có chất lượng.
5. Đối với thị trường ngoại hối: để ổn định tình hình của thị trường này cần
tiếp tục cơ chế điều hành tỉ giá linh hoạt, từng bước đưa đồng Việt Nam tới giá trị thực
nhằm khuyến khích xuất khẩu. Tăng cường các giao dịch kì hạn trên thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng, kiểm soát giao dịch trên thị trường tự do, tiến tới chỉ dùng đồng Việt Nam
trên lãnh thổ Việt Nam (trừ những khu vực cửa khẩu, khu thương mại tự do )
20
6. Đối với thị trường chứng khoán: Vì mới được thành lập chưa lâu tuy có một
số điểm khả quan, nhưng do nhận thức về thị trường mới mẻ này còn ít của người dân vì
vậy sẽ cần sự can thiệp rất nhiều của nhà nước. Nhà nước nên có một bộ luật hoàn chỉnh về
thị trường chứng khoán, theo dõi sát xao và có chính sách thúc đẩy thị trường này phát
triển.
(c) Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước:
Như đã nói ở trên, hội nhập kinh tế không những đem lại cho chúng ta
những cơ hội mà còn đem đến cho chúng ta những thách thức hết sức to lớn. Trong đó, việc
phải cạnh tranh với các nước tiên tiến là rất khó khăn. Hơn lúc nào hết, chúng ta phải tự
nâng cao sức cạnh tranh của mình. Muốn nâng cao sức cạnh tranh của nước ta thì không
còn cách nào khác là nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Trước hết,
chúng ta phải khẩn trương nâng cao sức cạnh tranh của từng sản phẩm, từng doanh nghiệp
và của cả nền kinh tế. Đây là yếu tố quyết định để chủ động hội nhập thắng lợi.Sức cạnh
tranh của sản phẩm phải được thể hiện ở chất lượng sản phẩm, giá cả, khẳ năng tiếp thị.
Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp phải được thể hiện ở sản phẩm và dịch vụ tiêu thụ
trên thị trường trong nước và ngoài nước. Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp còn được
thể hiện ở sản xuất kinh doanh phải có hiệu quả, có lợi nhuận cần thiết để ngày càng phát
triển sản xuất. Sức cạnh tranh của quốc gia dựa vào sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ
hoạch và chính sách tuyển chọn người giỏi. Tăng ngân sách cho việc cử người đi học tập ở
các nước tiên tiến.
(e) Nhà nước cần đầu tư hơn nữa cho phất triển khoa học và công nghệ:
cùng với giáo dục và đào tạo thì đây là quốc sách hàng đầu, là nên tảng và động lực đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chúng ta phải coi trọng việc nghiên cứu cơ bản trong
khoa học. Tăng đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công
nghệ. Sắp xếp, đổi mới hệ thống nghiên cứu khoa học, phối hợp chặt chẽ nghiên cứu khoa
học tự nhiên, khoa học - công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn. Hoàn thành việc xây
dựng những khu công nghệ cao và hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Sử
dụng có hiệu quả các quỹ hỗ trợ cho khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh việc hợp tác quốc
tế trong nghiên cứu khoa học và công nghệ. Thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Nhà nước cần có chính sách thưởng và đãi ngộ đối với các nhà khoa học có công trình xuất
sắc.
(f) Mở rộng quan hệ đối ngoại: Nhiệm vụ đối ngoại của chúng ta là tiếp
tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển
kinh tế – xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, bảo
đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực và cuộc đấu tranh chung
22
của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Mở rộng quan
hệ nhiều mặt, song phương, đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính
trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực theo nguyên tắc tôn trọng độc lập
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không
dùng vũ lực và đe doạ vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh
chấp bằng thương lượng hoà bình.
(g) Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân: Đại đoàn kết là truyền
thống và cũng là sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Thực
hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi
lứa tuổi, mọi vùng đất nước, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống
trong nước hay ngoài nước. Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu
hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền
kinh tế, có đội ngũ các bộ có năng lực trong quan hệ quốc tế.
Trước tình hình này, chúng ta lớp trẻ người sẽ năm trong tay tương lai của đất nước,
việc học tập và nghiên cứu rất quan trọng. Chúng ta phải học tập và nghiên cứu để sau này
có đủ trình độ để đưa đất nước tiến lên. Bác Hồ – vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta - đã từng
nhắc nhở rằng: “non sông nước Việt Nam có được hay không, nước ta có vẻ vang sánh vai
cùng các cường quốc năm châu hay không, phần lớn đều là nhờ vào công học tập của các
cháu”. Chính vì vậy, học tập không những là điều cần thiết đối với mỗi con người mà còn
là nghĩa vụ nữa.
Chúng ta quết tâm xây dựng nước ta trở nên to đẹp hơn, đàng hoàng hơn.
Danh sách tài liệu tham khảo
1. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX – Nhà xuất bản chính trị quốc gia.
2. Tạp chí Cộng Sản ( các số 8, 12/ 2000, số 2, 5, 11/2001 )
3. Tạp chí Ngoại Thương.Số 4, 64, 33, 2000
4. Triết học Mác Lê nin chương trình sơ cấp và cao cấp.
5. Tạp chí kinh tế và dự báo số 24 số 15 số 9, 5, 4, 16, 2000
6.Toàn cầu hoá kinh tế của Dương Phú Hiệp và Vũ Văn Hà NSBKHXH.
24
25