bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học quản lý và kinh doanh hà nội
Khoa Triết học mác lênin
************
Tiểu luận triết học
đề tài:
vận dụng mối qua hệ biện chứng giữa phát
triển lực lợng sản xuất và nguồn nhân lực để phân
tích vai trò của ngành giáo dục
Sinh viên thực hiện:
Lớp :
MSV :
Phần mở đầu
Toàn bộ đời sống xã hội có thể chia thành hai lĩnh vực lớn: lĩnh vực đời
sống vật chất đợc gọi là tồn tại xã hội, và lĩnh vực lĩnh vực đời sống tinh thần đợc
gọi là ý thức xã hội. Tồn tại và ý thức xã hội là phạm trù cơ bản của chủ nghĩa
duy vật lịch sử, mà mối liên hệ biện chứng giữa chúng thể hiện vấn đề cơ bản của
triết học trong lĩnh vực xã hội. Cũng giống nh vậy, phát triển lực lợng sản xuất và
nguồn nhân lực có mối quan hệ khăng khít, bền chặt. Để từ mối quan hệ này
chúng ta nhận ra nhân tố con ngời đóng một vai trò quan trọng trong xã hôị. Con
ngời sinh ra là đợc sống, làm việc, lao động và sáng tạo, đống thời con ngời cần
đợc giáo dục để ngày càng hoàn thiện hơn.
Thực trạng nớc ta trong những năm qua đã cho thấy rằng, nền kinh tế Việt
Nam đang từng bớc thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu. Để phát triển kinh tế, xã
hội, con ngời, nớc ta đã và đang tăng cờng, đẩy mạnh kinh tế theo hớng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Do đó, đòi hỏi phải đáp ứng đợc nguồn nhân
lực có chất lợng cao, phải phát triển nguồn nhân lực sao cho phù hợp với phát
triển lực lợng sản xuất, phải có sự tác động lẫn nhau, đi đôi và cùng nhau phát
triển giữa phát triển lực lợng sản xuất và nguồn nhân lực. Mối quan hệ biện
chứng giữa phát triển lực lợng sản xuất và nguồn nhân lực thực chất là quan hệ
báo đợc cuộc cách mạng của khoa học kỹ thuật cũng sẽ nh là một bộ phận trực
tiếp của lực lợng sản xuất. Điều đó có nghĩa là lực lợng sản xuất là biểu hiện
quan hệ giữa ngời với tự nhiên. Trình độ của lực lợng sản xuất thể hiện trình độ
chinh phục tự nhiên của loài ngời. Đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con
ngời trong quá trình tác động vào tự nhiên taọ ra của cải vật chất, bảo đảm cho sự
tồn tại và phát triển của loài ngời.
3. Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển lực lợng sản xuất và nguồn nhân
lực.
Trớc hết, muốn hiểu hơn về mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất và nguồn
nhân lực, chúng ta tìm hiểu về phép biện chứng. Phép biện chứng xuất phát từ
nền triết học cổ đại là phép biện chứng cổ Hi lạp, ngày nay các nhà triết học chỉ
dựa trên những quan sát có tính chất trực quan cảm tính.
Tiếp theo đó là chúng ta tìm hiểu về lịch sử phát triển của phép biện chứng.
Trong đó có phép biện chứng duy tâm khách quan mà Heghen là đại biểu xuất
sắc và phép biện chứng duy vật do Các Mác và Anghen sáng lập ra.
- Phép bện chứng duy tâm khách quan: giai đoạn này khoa học tơng đối
phát triển, Heghen là nhà triết học tiêu biểu cho nền triết học cổ đại Đức. Ông
cho rằng: ý niệm tuyệt đối là cái có trớc thế giới. Sai lầm có tính nguyên tắc
của Heghen là ở chỗ ông cho rằng biện chứng ý niệm sinh ra biện chứng của sự
vật. Do vậy, phép biện chứng của Heghen là phép duy tâm khách quan thiếu triệt
để, thiếu khoa học.
- Phép biện chứng duy vật: giữa thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 Cac Mac và
Anghen đã sáng lập, hoàn thiện phép biện chứng duy vật. Hai ông đã cho toàn
thế giới thấy đợc sự thống nhất cơ hữu giữa thế giới quan duy vật và phơng pháp
biện chứng, hơn nữa đã khắc phục đợc những điểm hạn chế của phép biện chứng
trớc trở thành khoa học về quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của
thế giới tự nhên, xã hội loài ngời, của t duy.
-Phép biện chứng duy vật là một trong những thành tựu vĩ đại nhất, có ý
nghĩa và giá trị khoa học, cách mạng sâu sắc nhất trong hệ thống triết học Mac
cũng nh toàn bộ học thuyết của Mác. Triết học Mác có ảnh hởng tơng đối lớn tới
ợng sản xuất đợc Mác đề cập tới là ngời lao động. Mác cho rằng: trong tất cả
những lực lợng sản xuất hùng mạnh nhất là bản thân giai cấp cách mạng. Mác
nhìn thầy tiền đề thứ nhất của mọi sự sinh tồn của loài ngời là t liệu sinh hoạt vật
chất, hoạt động lịch sử thứ nhất của loài ngời là lao động sản xuất. T liệu sinh
hoạt vật chất và lao động sản xuất đều dựa vào tự nhiên. Nhng không chỉ nh vậy,
Mác còn nhìn thấy tính chất xã hội của lao động. Lao động cũng nh hởng thụ
thành quả dù là nói về nội dung hay là phơng pháp tồn tại đều vốn có tính xã hội,
đều là hoạt động xã hội. Chính Mác đã phát hiện lao động là hình thức cơ bản
của hoạt động con ngời, là cái: vạch rõ một cách công khai những lực lợng bản
chất của con ngời. Từ đó Mác rút ra kết luận khoa học Trong tính hiện thực
của nó, bản chất con ngời là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Con ngời luôn có
nhiều mối quan hệ xã hội phong phú cũng nh các hoạt động lao động rất tích cực
để chuẩn bị cho một cuộc sống tốt hơn .Sau này, Lênin cũng khẳng định: lực l-
ợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân . Cùng với sự đào tạo
và giáo dục một cách có phơng pháp trong quá trình lao động con ngời dùng sức
lực, trí tuệ của mình để tạo ra công cụ lao động, biết dùng nó tác động vào tự
nhiên để tạo ra sản phẩm vật chất hàng hoá cùng nhiều sản phẩm khác để thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng của con ngời và xã hội .Tóm lại, triết học Mác không chỉ
nhận thức đúng đắn về sự phát triển một con ngời toàn diện, thấy đợc mối quan
hệ biện chứng giữa con ngời- lao động -xã hội ,mà còn khẳng định đợc vai trò
của nhân dân trong lịch sử, tầm quan trọng mang tính quyết định của nhân tố ng-
ời trong lực lợng sản xuất.
II.Thực trạng.
Hiện nay, nớc ta đã và đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc với thế mạnh lớn nhất hiện có là lực lợng lao động đông đảo. Đảng ta
xác định đây là nguồn lực cơ bản nhất để xây dựng đất nớc. Tuy nhiên, với lực l-
ợng lao động hiện có thì cha đáp ứng đợc yêu cầu phát triển kinh tế trong giai
đoạn mới. Vấn đề cấp bách đặt ra là phải phát triển đợc mặt tích cực có hiệu quả
của con ngời Việt Nam và giảm mặt tiêu cực để nhân tố ngời hoàn thiện hơn,
đảm bảo cho lực lợng sản xuất ổn định, tiên tiến.
chất lợng; giáo dục chuyên nghiệp thiếu quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục và việc
làm; giáo dục đại học thì mạng lới không hợp lý thiếu quan hệ chặt chẽ với ghiên
cứu sản xuất, trau dồi tri thức và gìn giữ chất xám. Là ngời Việt Nam, chúng ta ai
ai cũng quan tâm đến nền giáo dục của nớc nhà, thực sự cảm thấy chạnh lòng tr-
ớc sự suy giảm số lợng cũng nh chất lợng của một ngành cao quý. Vậy, tại sao
việc giáo dục chất lợng nguồn nhân lực VIệt Nam rơi vào tình trạng nh vậy, trong
khi ở nớc ta giáo dục là một chơng trình trọng điểm? Thực chất của vấn đề này là
do chúng ta thiếu cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, đời sống của nhân dân khó khăn
về kinh tế, thiếu thốn trong sinh hoạt, động cơ t duy học tập lại bị bào mòn , dẫn
đến chất lợng đào tạo kém là điều tất yếu. Chúng ta không thể thoát khỏi kiểu
học hàn lâm là chỉ biết nghe lời và học tập một cách thụ động, lề lối học tập đó
đã biến học sinh, sinh viên thành một ngời nhồi nhét hơn là ngời biết cách sáng
tạo, biết t duy và nâng cao tri thức, phát triển trí tuệ một cách khoa học. Chúng ta
cũng không thể phủ nhận rằng ngành giáo dục nớc ta có vị trí rất cao so với khu
vực và thế giới, nhứng ta lại gặp khó khăn, hạn chế ở chỗ những điều chúng ta
học chỉ là lý thuyết, nó quá xa vời với thực tiễn, không biết cách áp dụng vào các
phơng tiện hiện đại. Trên thế giới cũng nh xã hội của toàn nhân loại bây giờ
những công cụ, trang thiết bị luôn đổi mới từng ngày từng giờ, chúng ta biết tiếp
thu nhanh, học hỏi nhanh nhng thế giới lại luôn vận động, nếu không có sự sáng
tạo, trí tuệ kế thừa, phát huy những phơng tiện hiện có; khai thác sử dụng hợp lý
những đối tợnglao động thì Việt Nam sẽ thực sự tụt hậu và lạc lõng trớc vòng
xoáy thay da đổi thịt không ngừng của thế giới, trớc ngỡng cửa của thế kỷ 21 và
những thế kỷ sắp tới. Do vậy, việc phát triển nguồn nhân lực phải đi đôi, quan hệ
biện chứng với lực lợng sản xuất là vấn đề quan trọng đặt ra cho Việt Nam hiện
nay thông qua ngành giáo dục cũng chủ yếu để phát triển một con ngời, một xã
hội hoàn thiện trong thiên chức, công việc và mọi lĩnh vực.
Theo nh những điều đã nói ở trên, chúng ta hiểu rằng phát triển nhân lực
và lực lợng sản xuất có mối quan hệ khăng khít, bền chặt, cũng nh con ngời quan
hệ biện chứng với xã hội và không thể tách rời khỏi tự nhiên mà chỉ có thể tồn
tại, phát triển dựa vào tự nhiên trên cơ sở làm biến đổi tự nhiên bằng khoa học trí
điều trên, Đảng và nhà nớc cần phải đa ra những biện pháp, cách thức làm tăng
việc làm bằng cách đầu t vào giáo dục đào tạo nghề, mở rộng thị trờng, hỗ trợ
các doanh nghiệp trong nớc về vốn hoặc điều kiện liên doanh để tạo lên một nền
kinh tế dịch vụ đạt hiệu quả cao, khuyến khích các công nghệ khoa học phát
triển, thu hút nhiều lao động, mở ra nhiều hệ thống bảo hiểm việc làm. Giai
đoạn hiện nay, để tăng chất lợng nguồn nhân lực, chính phủ ta đã đặt ra tiến
trình giáo dục trớc tiên pải giáo dục từ cơ sở trở lên, đầu t vào ngành giáo dục
đào tạo, nâng cao tri thức, mở rộng hiểu biết cho học sinh sinh viên và của các
đối tợng học nghề Giáo dục phải đợc quan tâm tuyệt đối đối và đợc coi là sự
nghiềp chung của Đảng, nhà nớc và của toàn dân. Nhân dân cần coi trọng các
nghị quyết và chính sách của Đảng để hai bên có mối quan hệ khăng khít, biện
chứng, cùng tạo đà cho sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
III> Giải pháp và kiến nghị.
1) Giải pháp:
Trớc hết, muốn phát triển giáo dục phải biến giáo dục thành một động lực
quan trọng, không thể thiếu trong phát triển kinh tế, khi đó dù muốn ngân sách
nhà nớc chi cho giáo dục có thể sẽ cao song hiệu quả đạt đợc cho kinh tế sẽ là rất
lớn. Giáo dục theo hớng phát triển sẽ cung cấp cho xã hội một đội ngũ có trình
độ mới, cao hơn về tay nghề, hàm lợng chất xám tăng, đội ngũ lao động trẻ năng
động, sáng tạo, dễ dàng thích nghi với những biến động của kinh tế thị trờng.
Ngành giáo dục ngoài nhiệm vụ giáo dục ban đầu còn thực hiện nhiệm vụ đào tạo
lại chất lợng nguồn nhân lực, có vậy mới theo kịp trào lu biến đổi của nền khoa
học công nghệ hiện đại. Không chỉ dừng lại ở đó, giáo dục còn phải mở rộng qui
mô đa dạng phong phú để đáp ứng nhu cầu giáo dỡng cho mọi thế hệ, đảm bảo
giáo dục bình đẳng cho các tầng lớp ngời trong xã hội, kể cả những ngời dới
đáy. Muốn vậy nhà nớc phải tăng ngân sách cho ngành giáo dục- đào tạo ngang
với mức trung bình trong khu vực hiện nay là 20%- 25%, đặc biệt sử dụng nguồn
ngân sách hợp lý, tránh lãng phí, tránh chi tiêu vào những công việc không đem
lại lợi ích, quyền lợi cho con ngời.
Tiếp theo đó, chúng ta cũng cần nhìn nhận thực tế nớc ta hiện nay.Nớc ta
Những kết quả đạt đợc với mọi đổi thay đang diễn ra từng ngày trong nền kinh tế
thị trờng hiện nay là bằng chứng cụ thể, sinh động nhất để phát huy vai trò của
nhân tố ngời trong lao động, trong lực lợng sản xuất xã hội. Để trong quá trình xã
hội phát triển tạo ra một thế hệ lao động mới có khả năng, trình độ sáng tạo ra
phơng tiện, công cụ, trang thiết bị hiện đại, tiếp thu những cái mới để một ngày
nào đó tìm ra nguồn năng lợng mới thay thế nguồn năng lợng đang ngày càng
cạn kiệt, để có thể tạo ra đối tợng lao động mới thì chúng ta rất cần tới giáo dục
đào tạo. Chỉ có giáo dục mới thực sự là tác nhân tích cực, có hiệu quả nhất làm
gia tăng mọi giá trị và năng lực lao động, sáng tạo của con ngời. Nếu nh giáo dục
phát triển mạnh mẽ hơn, thì chắc chắn rằng nhân tố ngời đợc hình thành, đợc
hoàn thiện, lực lợng sản xuất sẽ gia tăng và có trình độ nhất định. Giáo dục- đào
tạo vừa đóng góp xây dựng con ngời với ý nghĩa là phơng tiện bảo đảm thực hiện
những nhiệm vụ kinh tế, xã hội vừa hoàn thiện con ngời cả về t tởng lẫn nhân
cách.
Việc đào tạo, sử dụng và phát huy nhân tố ngời phải là công việc không
những ở tầm quốc gia mà còn ở từng địa phơng, từng ngành nghề, từng doanh
nghiệp, mọi gia đình. Nhà nớc có vai trò khởi xớng, vạch kế hoạch, tổ chức và
phát huy nguồn nhân lực, đặt con ngời trong chiến lợc, chính sách mở cửa. Bởi
việc mở cửa giao lu buôn bán với nơc ngoài không chỉ nhằm thu hút vốn đầu t
thiết bị, công nghệ hiện đại có ích cho phát triển kinh tế nớc nhà mà còn giúp
chúng ta sáng tạo ra các phơng tiện kĩ thuật mới, cho chúng ta học hỏi đợc những
kinh nghiệm quản lí, tinh hoa văn hoá thế giới, đồng thời đào tạo tay nghề, nâng
cao trình độ nguồn nhân lực, phát triển lực lợng sản xuất Việt Nam.
Phần kết luận
Trong Luận cơng về Phơ Bách, Mác vạch rõ: bản chất con ngời không
phải là một cái trìu tợng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của
nó bản chất con ngời là tổng hoà những quan hệ xã hội. Điều này có nghĩa là
trong bất cứ xã hội nào, cá nhân cũng không tách rời xã hội, cũng nh nguồn nhân
lực có mối quan hệ biện chứng với phát triển lực lợng sản xuất.
Trên con đờng đi đến phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và nhà