Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG CỦA NHTM
1.1 Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh
tế quốc dân
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại, trong đó
NHTM ( bên cho vay ) thoả thuận chuyển giao tài sản ( tiền hoặc hiện vật )
cho khách hàng ( bên đi vay ) sử dụng trong một thời gian nhất định, khi đến
hạn thanh toán, bên đi vay có trách nhiệm vô điều kiện trong hoàn trả gốc ban
đầu và trả thêm phần lãi cho bên cho vay. Hoạt động tín dụng là hoạt động tạo
phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Các khoản thu của hoạt động tín dụng
chiếm tỷ trọng lớn hoặc lớn nhất trong các hoạt động của ngân hàng. Hình
thức tín dụng truyền thống của ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn có
đảm bảo bằng tài sản, giúp khách hàng mua hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu,
sau đó mở rộng thành nhiều hình thức khác nhau như cho vay thế chấp bằng
bất động sản, bằng các chứng khoán, bằng giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế
chấp. Tuy vậy, hoạt động tín dụng phải đảm bảo một số điều kiện của môth
hợp đồng tín dụng là:
Thứ nhất, thời hạn, lãi suất và hạn mức hoàn trả của hợp đồng. Sau
khoảng thời gian ghi trong hợp đồng người vay cần phải hoàn trả vốn và lãi
cho ngân hàng.
Thứ hai, vốn vay phải đảm bảo được sử dụng đúng mục đích. Khoản
vay phải dựa trên phương án sản xuất kinh doanh nhằm phòng tránh rủi ro
đạo đức trong quá trình giải ngân.
1
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ ba, vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản tương đương. Tài sản

theo những thoả thuận nhất định. Sau thời gian xác định khách hàng phải
hoàn trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
1.1.2.3. Phân loại theo tài sản đảm bảo
Loại này được phân chia thành tín dụng có đảm bảo bằng uy tín của
chính khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản. Cam kết đảm
bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản mà mình đang sở
hữu hoặc sử dụng hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba để trả nợ cho ngân
hàng. Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng
phải kí hợp đồng đảm bảo.
1.1.2.4. Phân loại tín dụng theo rủi ro
Theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn cứ
để phân loại rủi ro. Thí dụ như tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, nợ quá
hạn…
1.1.2.5. Phân loại khác
Theo ngành kinh tế ( công, nông nghiệp…)
Theo đối tượng tín dụng ( tài sản lưu động, tài sản cố định )
Theo mục đích ( sản xuất, tiêu dùng… )
1.1.3. Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn
Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên mà ngân
hàng thực hiện là mở các tài khoản tiền gửi. Nhìn vào bảng cân đối kế toán
của các ngân hàng ta thấy: Vốn tự có chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chủ yếu là vốn
huy động. Hoạt động tín dụng dựa vào nguồn tiền huy động được là chủ yếu.
Nghiệp vụ huy động vốn bao gồm: nghiệp vụ nhận tiền gửi, nghiệp vụ đi vay,
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu…
3
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM. Khách hàng gửi tiền vao

nhận được giá trị vốn tín dụng được quyền sử dụng giá trị đó để thoả mãn nhu
cầu sản xuất kinh doanh của mình.
Giai đoạn 3 : Hoàn trả tín dụng, đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần
hoàn của tín dụng. Sau khi đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất trở về trạng
thái tiền tệ, vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả cho người cho vay kèm
theo một phần lãi như đã thoả thuận.
1.1.3.3. Nghiệp vụ thanh toán
Các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng với mục đích chủ yếu là
hưởng các dịch vụ thanh toán từ ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng đã mở
đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng chỉ cần viết séc hoặc uỷ
nhiệm chi…sau đó người hưởng thụ mang giấy đến ngân hàng hoặc ngân
hàng chi hộ để nhận tiền.Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin,
nhiều hình thức thanh toán được phát triển như: thanh toán quốc tế ( L/C ),
thẻ điện tử, máy ATM…Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng giúp khách hàng
thanh toán nhanh gọn, chính xác, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn…
1.1.3.4. Nghiệp vụ khác
Ngoài 3 nghiệp vụ nói trên, NHTM còn có một số các nghiệp vụ khác
như: cung cấp dịch vụ môi giới, uỷ thác, tư vấn, đầu tư chứng khoán…những
lĩnh vực này góp phần tạo thêm uy tín và niềm tin của ngân hàng đối với các
khách hàng.
1.1.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế
Các NHTM hoạt động độc lập nhưng lại liên kết chặt chẽ hình thành hệ
thống và ảnh hưởng qua lại với nhau. Sức mạnh của NHTM không phải là sức
mạnh của bản thân nó mà là sức mạnh của xã hội. Hệ thống NHTM là hệ
thống huyết mạch của nền kinh tế, không chỉ là nơi cung cấp tín dụng và dịch
5
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
5
Chuyên đề tốt nghiệp

Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ hai, chính phủ sử dụng tín dụng ngân hàng như một công cụ điều tiết
vĩ mô nền kinh tế, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.
Thông qua kiểm soát khối lượng tín dụng, định hướng đầu tư cùng với lãi
suất tín dụng giúp chính phủ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và hợp lý,
kiềm chế lạm phát. Tín dụng ngân hàng vừa tập trung vốn đầu tư cho các
ngành kinh tế mũi nhọn, vừa tham gia vào các chương trình chính sách xã hội
thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng
Trong mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh - dịch vụ, mọi chu kỳ đều bắt
đầu từ tiền tệ ( T ) và kết thúc bằng T’. Ở đó, T’ = T+t. ( T’>T ) tạo điều kiện
để tái mở rộng hoạt động. Trong chu kỳ này, tăng vòng quay vốn tiền tệ có tác
động tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Muốn thực hiện điều đó, các
chủ thể kinh doanh cần cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện quản lý, tìm kiếm thị
trường mới. Đòi hỏi một lượng vốn lớn và kịp thời. Tín dụng ngân hàng sẽ là
nguồn cung ứng vốn cho các nhu cầu đó. Tuy nhiên, các nhà kinh doanh cần
phải tìm ra nhiều biện pháp sử dụng vốn hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn
nhằm trả nợ vay tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi nếu không có thể dẫn tới
nguy cơ phá sản. Thực hiện được điều này trong nền kinh tế thị trường là một
cuộc cạnh tranh gay gắt và quyết liệt. Vì thế mà thúc đẩy sự phát triển ngày
càng cao của nền kinh tế hàng hoá.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy kinh tế
quan trọng.
Ngày nay, trong quan hệ kinh tế đối ngoại, sự hợp tác bình đẳng cùng có
lợi giữa các nước trên thế giới và trong khu vực đang đựơc thúc đẩy mạnh cả
về chiều rộng và chiều sâu. Trong đó, vốn đầu tư ra nước ngoài và kinh doanh
xuất nhập khẩu hàng hoá đựơc coi là hai lĩnh vực hợp tác thông dụng nhất
giữa các nước. Nhưng thực tế không phải một tổ chức kinh tế nào cũng có đủ
7
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q

Chuyên đề tốt nghiệp
không đầy đủ, hoạt động có vấn đề hoặc hệ thống kiểm soát nội bộ chưa hiệu
quả. Do đặc thù kinh doanh của ngân hàng nên có rất nhiều loại rủi ro khác
nhau như: rủi ro ngoại hối, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng,
rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý…Trong đó, rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn và
phức tạp nhất, có thể gây tác động nặng nề đến các hoạt động khác, thậm chí
có thể đe doạ tới sự tồn tại của các ngân hàng.
* Phân loại rủi ro
Rủi ro của ngân hàng có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác
nhau song đều có bản chất chung đó là khả năng xảy ra những tổn thất cho
ngân hàng. Rủi ro la những tổn thất có thể xảy ra ngoài dự kiến. Rủi ro của
ngân hàng gắn liền với giảm sút thu nhập ngoài dự kiến.
Phân chia rủi ro theo các loại tài sản bao gồm: Rủi ro trong quản lý và
kinh doanh ngân quỹ, rủi ro tín dụng, rủi ro trong quản lý và kinh doanh
chứng khoán, rủi ro trong cho thuê, rủi ro đối với các tài sản khác của ngân
hàng.
Phân chia rủi ro theo nguyên nhân – các nhân tố tác động – bao gồm: Rủi
ro do người vay không trả nợ cho ngân hàng, rủi ro do lãi suất thay đổi, rủi ro
do tỷ giá thay đổi, rủi ro do các nguyên nhân khác như mất trộm, cháy, giấy tờ
giả…
Phân chia rủi ro phổ biến nhất bao gồm:
+ Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là khả nẵngảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính. Trong cơ chế thị
trường, tỷ giá thường xuyên dao động. Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối
đoái của ngân hàng tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thâm hụt tạm thời. Tuy vậy,
có những thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho ngân hàng.
+ Rủi ro tín dụng
9
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q

Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Các loại rủi ro khác là khả năng cướp ngân hàng, nhầm lẫn trong thanh
toán, lỗi công nghệ…
1.2.1.2. Rủi ro tín dụng
* Khái niệm
Không phải tự nhiên mà nhà kinh tế học J.M.Keynes cho rằng “ Nếu
bạn mắc nợ ngân hàng 100 bảng Anh, đó là mối lo của bạn. Nhưng đó là 1
triệu bảng Anh thì đó là mối lo của ngân hàng ”. Trong quan hệ tín dụng,
quyền sử dụng tạm thời tách rời quyền sở hữu. Ở đây, quyền sở hữu những
khoản cho vay không thuộc về ngân hàng mà thực chất thuộc về những người
gửi tiền. Tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào chữ tín của người vay, bao hàm cả
năng lực tài chính và sự sẵn sàng trả tiền của người vay hay không. Việc xác
định chính xác khả năng trả nợ thực tế của khách hàng không phải là một vấn
đề đơn giản. Vì vậy trong nghiệp vụ tín dụng mục đích ngân hàng là bên được
đi vay hoàn vốn lại cả gốc và lãi đúng thời hạn đã thoả thuận.
Tín dụng ngân hàng có mặt trong các giai đoạn của quá trình sản xuất
kinh doanh, tham gia hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp, nền kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh lại luôn có những kho khăn dự định ban đầu có
thể không đạt được theo ý muốn, đó chính là sự xuất hiên các rủi ro. Do đó
bất cứ rủi ro xảy ra đối với doanh nghiệp nào, lĩnh vực nào cũng ít nhiều gây
ra rủi ro cho ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động đặc trưng cho ngân hàng và mang lại
lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, do vậy rủi ro trong hoạt động tín dụng là
đặc trưng nhất và dễ xảy ra nhất bởi lợi nhuận cao luôn đi kèm rủi ro lớn.
Theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ–
NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN,rủi ro tín dụng trong hoạt
động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân

` Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến.
12
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
12
Chuyên đề tốt nghiệp
- Trong quá trình hạch toán, các tài khoản của khách hàng có một số biểu
hiện:
` Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối.
` Sự giảm sút síi dư tài khoản tiền gửi.
` Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động.
` Không có khả năng thanh toán nợ khi tới hạn.
- Phương thức tài chính:
` Giảm các khoản phải trả và tăng các khaỏan phải thu.
` Các hệ số thanh toán tiến triển theo chiều hướng xấu.
` Có dấu hiệu giảm vốn điều lệ.
+ Nhóm 2: Dấu hiệu liên quan tới việc quản lý khách hàng
- Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành thay đổi liên tục, luôn bất đồng về
quan điểm.
- Quản lý có tính gia đình.
- Các chi phí quản lý bất hợp lý.
+ Nhóm 3: Dấu hiệu liên quan tới vấn đề thương mại:
- Khó khăn trong phát triển sản phẩm,
- Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao.
- Cắt giảm các chi phí sửa chữa, thay thế.
+ Nhóm 4: Dấu hiệu liên quan tới xử lý thông tin kế toán- tài chính:
- Chậm chễ, trì hoãn nộp các báo cáo tài chính
- Kết quả phân tích tài chính cho thấy:
` Khả năng tiến mặt giảm
` Số khách hàng nợ tăng nhanh, thời hạn thanh toán káo dài.
` Làm đẹp bảng cân đối kế toán bằng cách tạo sản phẩm vô hình.

kinh doanh. Một môi trường pháp lý không hoàn chỉnh vừa gây khó khăn cho
doanh nghiệp và ngân hàng, vừa tạo khe hở để kẻ xấu lợi dụng gây rủi ro cho
cả doanh nghiệp và ngân hàng.
14
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhân tố xã hội: Là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro tín
dụng. Tín dụng là sự vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin. Do đó đạo đức xã hội
có liên quan tới rủi ro tín dụng trong trường hợp lợi dụng lòng tin để lừa đảo;
hoặc do trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết dẫn tới hiểu chưa đùng đắn
bản chất của hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động tín dụng nói riêng,
kinh doanh kém hiệu quả gây tổn thất với ngân hàng, hoặc do sự thay đổi yếu
tố tâm lý xã hội cũng có khả năng hạn chế việc trả nợ của người vay.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng chịu tác động của các biến cố như thiên
tai, chiến tranh…không thể lường trước có tác động trực tiếp và ảnh hưởng
nghiêm trọng tới kế hoạch trả nợ vay của người đi vay.
Bên cạnh đó những thay đổi, điều chỉnh về cơ chế, về chính sách kinh tế
vĩ mô…cũng có thể đặt doanh nghiệp vào những tình huống khó khăn có thể
kéo theo nguy cơ thiệt hại cho ngân hàng.
1.2.2.2. Các nhân tố chủ quan:
* Các nhân tố thuộc về khách hàng:
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng luôn có hai chủ thể là ngân khách
hàng và NHTM. Theo thống kê cho thấy, khả năng xảy ra rủi ro tín dụng xuất
phát từ khách hàng là phổ biến nhất bởi khách hàng là người trực tiếp sử dụng
vốn vay. Nhân tố này rất đa dạng nhưng có thể phân chia thành hai trường
hợp chính sau đây:
+ Do khách hàng kinh doanh thua lỗ dẫn đến mất khả năng trả nợ.
Nguyên nhân có thể do năng lực quản lý kinh doanh kém, sử dụng vốn vay
sai mục đích…Hơn nữa nếu tỷ lệ vốn tự có trong tổng vốn kinh doanh của

bởi những cán dỗ vật chất có thể hành động trái đạo lý, trái pháp luật, gây
thiệt hại đáng kể cho ngân hàng.
+ Thứ hai là vấn đề chất lượng thông tin thấp. Thông tin ở đây bao gồm
cả thông tin tài chính và phi tài chính. Có thể khái quát là những thông tin liên
quan đến những hoạt động sản xuất kinh doanh trước đây và nhu cầu trong
16
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
16
Chuyên đề tốt nghiệp
hiện tại của khách hàng và những thông tin phản ánh trình độ, năng lực quản
lý, uy tín, quan hệ của khách hàng, tình hình kinh tế - xã hội, xu hướng phát
triển, quan hệ cung cầu, cạnh tranh của một ngành kinh doanh trên thị trường.
Yêu cầu đối với thông tin là phải chính xác, đầy đủ, kịp thời.
+ Thứ ba là nhân tố chính sách tín dụng của ngân hàng. Nếu không phù
hợp sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng và có thể tạo ra nhiều rủi
ro. Thí dụ như nhiều ngân hàng lại quá chú trọng vào việc có hay không có tài
sản thế chấp, chỉ đặt ra yêu cầu có thế chấp đầy đủ là được nhận tín dụng, dẫn
đến việc nới lỏng trong thẩm định cũng như giám sát thực hiện hợp đồng; có
khi một tài sản thế chấp được quay vốn nhiều lần để rút vốn ngân hàng mà
không bị phát hiện, nhất là khi vài ngân hàng cùng cho vay một khách hàng
mà khách hàng đó không trung thực. Việc tập trung tín dụng cho một số đối
tác làm ăn quen thuộc, thoạt xem có thể an toàn nhưng thực ra một danh mục
cấp tín dụng thiếu đa dạng lại hàm chứa rất nhiều rủi ro khi “ bỏ tất cả trứng
vào một giỏ”. Các ngân hàng có xu hướng muốn nhanh chóng tăng số dư nợ
nhưng việc mở rộng tín dụng quá nhanh cũng đe doạ gây tình trạng quá tải,
vượt quá khả năng quản lý của ngân hàng. Như vậy, một chính sách tín dung
thiếu linh hoạt, không phù hợp cũng là nguyên nhân quan trọng làm tăng
nguy cơ rủi ro tín dụng.
Một ảnh hưởng nữa góp phần quan trọng thêm mức độ rủi ro của các
khoản tín dụng là do các ngân hàng không thực hiện nghiêm túc những

Mục đích chung nhất của quản trị rủi ro tín dụng là đảm bảo rủi ro trong
phạm vi ngân hàng có thể chấp nhận đựơc. Mà mục đích này phụ thuộc vào
mục đích hoạt động của ngân hàng là tối đa hoá giá trị mà ngân hàng hi vọng
đựoc xác định trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh.
Quản trị rủi ro là một trong những nội dung quản trị rủi ro của NHTM
bao gồm: những đánh giá mức độ rủi ro, thực thi những giải pháp quản trị hạn
18
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
18
Chuyên đề tốt nghiệp
chế khả năng xảy ra rủi ro. Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng
gắn chặt với hoạt động của cấp tín dụng.
Ta cần phân biệt quản trị rủi ro với quản lý rủi ro tín dụng trong ngân
hàng. Quản lý rủi ro tín dụng là: việc tổ chức, điều khiển và thực hiện các
hoạt động, các quy trình liên quan đến việc cấp tín dụng nhằm đảm bảo an
toàn tín dụng, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất mà ngân hàng có thể chấp nhận
được. Công tác quản lý này được thực hiện ngay từ khi xem xét hồ sơ xin vay
vốn, thẩm định khách hàng, ký kết hợp đồng tín dụng và việc thực hiện giải
ngân và kiểm soát khi cho vay đến việc thu nợ và xử lý nợ quá hạn. Đó cũng
không phải là một vấn đề dễ dàng thực hiện.
1.3.2. Sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng
Các rủi ro tín dụng chiếm tỷ trọng lớn, thường là 90% các loại rủi ro cơ
bản. Gỉa sử thiệt hại của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vao rủi ro tín dụng.
Trong hoạt động của mình, nhìn chung các ngân hàng chỉ chấp nhận rủi ro tín
dụng mà mức độ thiệt hại tối đa không cao hơn mức lợi nhuận mong đợi. Tuy
nhiên trên thực tế, có thể xảy ra các tính huống khác:
Khả năng thiệt hại của ngân hàng
Lợi nhuận Chi phí Vốn tự có
Vùng rủi ro
cho phép

của những tin đồn về việc chậm chễ trong khâu thanh toán dẫn tới làn sóng ồ
20
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
Điểm mất vốn tự
có và phá sản
Điểm không
có doanh thu
Điểm bắt
đầu thua lỗ
Điểm bắt đầu
giảm lợi nhuận
20
Chuyên đề tốt nghiệp
ạt khách hàng tới rút tiền. Các ngân hàng nếu không chuẩn bị kịp thời hoặc
không có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền quá lớn hoặc không có sự can
thiệp kịp thời của Ngân hàng Trung Ương thì có thể dẫn tới phá sụp đổ và có
thể gây hiệu ứng lan truyền đặc trưng của hệ thống ngân hàng - ảnh hưởng tồi
tệ một cách sâu rộng đến nền kinh tế.
Theo những phân tích ở trên, trong khi năng lực quản trị rủi ro tín dụng
yếu kém nếu mở rộng tín dụng thì ngân hàng chỉ ngày càng thua lỗ và có thể
dẫn đến kết cục hết sức tồi tệ. Tuy nhiên, vì năng lực yếu kém dẫn đến việc
hạn chế trong mở rộng tín dụng ngân hàng cũng có thể mất dần những khách
hàng tốt, giảm thị phần. Do ngân hàng hoạt động dựa trên lợi thế kinh tế về
quy mô nên đến một thời điểm nào đó ngân hàng có thể bị thua lỗ và cũng có
nguy cơ phá sản. Do vậy, mở rộng năng lực quản trị rủi ro tín dụng là tiền đề
cho việc tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Nhìn nhận vấn đề này kỹ hơn, khi cấp tín dụng mức lãi suất về nguyên
tắc phải đủ để trang trải các chi phí và thêm một phần lợi nhuận mong đợi.
Trong chi phí có phần bù đắp rủi ro. Trong thị trường cạnh tranh như ngày
nay, ngân hàng đánh giá chính xác và cấp những khoản tín dụng ít rủi ro thì

ngân sách Nhà nước. Lúc này Ngân sách Nhà nước phải tăng chi cho khoản
mục này và cắt giảm chi tiêu cho các khoản mục khác, sẽ làm ảnh hưởng tới
mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Tóm lại, quản trị rủi ro tín dụng giúp ngân hàng vững vàng trong xử lý
mối quan hệ giữa rủi ro ín dụng và lợi nhuận, qua đó tránh được thiệt hại và
đem lại lợi ích cho bản thân và mọi đối tượng khác có liên quan đến hoạt
động tín dụng. Giúp làm giảm tổn thất cho bản thân ngân hàng và nền kinh tế,
lành mạnh hoá hệ thống tài chính, tăng cường cạnh tranh, giúp tăng trưởng
kinh tế.
22
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
22
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.3. Các nguyên tắc chung của uỷ ban Giám sát ngân hàng Basel về quản
trị rủi ro tín dụng
* Thiết lập một môi trường tín dụng thích hợp
` Phê duyệt và xem xét chiến lược rủi ro tín dụng theo định kỳ, xem xét
những vấn đề như: mức độ rủi ro chấp nhận được, mức độ khả năng sinh lời.
` Thực hiện chiến lược chính sách tín dụng. Xây dựng các chính sách tín
dụng, xây dựng các quy trình tín dụng cho các khoản vay riêng lẻ và toàn bộ
danh mục tín dụng nhằm xác định, đánh giá, kiểm soát rủi ro tín dụng.
` Xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong tất cả các sản phẩm và hoạt
động mới đều trải qua đầy đủ các thủ tục, các quy trình đã được phê duyệt.
* Hoạt động theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý
` Tiêu chuẩn cấp tín dụng đầy đủ gồm: những biểu hiện của người vay,
mục tiêu, cơ cấu tín dụng
` Thiết lập hạn mức tín dụng tổng quát cho từng khách hàng, từng nhóm
khách hàng.
` Có các quy trình rõ ràng được thiết lập cho việc phê duyệt các khoản tín
dụng mới.

` Quy định về những ngành,lĩnh vực chính cho hoạt động tín dụng.
` Quy định về danh mục tín dụng và quản lý chất lượng danh mục tín
dụng.
` Quy định về các giới hạn tín dụng và chính sách tín dụng đối với từng
ngành, từng nhóm đối tượng khách hàng.
` Quy định về tiếp nhận, chỉ dẫn, kiểm tra, thẩm định và ra phán quyết
đối với từng hồ sơ vay vốn.
` Quy định về quy trình xác định mức lãi suất tín dụng và các điều kiện
hoàn trả nợ vay.
24
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
24
Chuyên đề tốt nghiệp
` Quy định về thẩm quyền phán quyết tín dụng trong từng đơn vị và với
từng cá nhân.
` Quy định về việc rà soát, phân tích, xử lý các khoản tín dụng, các danh
mục tín dụng có vấn đề.
` Quy định về việc sử dụng và xử lý tài sản bảm bảo cho khoản tín dụng.
` Quy định về nội dung xử phạt hay khuyến khích đối với cán bộ tín
dụng trong việc cấp tín dụng.
` Quy định về việc áp dụng các biện pháp phân tán rủi ro như đa dạng
hoá danh mục tín dụng, cho vay đồng tài trợ, bảo hiểm tiền gửi.
* Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng là quá trình cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm
nhiều giai đoạn và có quan hệ chặt chẽ với nhau; mang tính chất liên
hoàn,theo một trình tự nhất định, kết quả của giai đoạn trước là cơ sở để thực
hiện giai đoạn tiếp theo và là tác động đến chất lượng của các giai đoạn sau.
Trong mỗi giai đoạn lại gồm nhiều công việc được thực hiện theo hệ thống
những nguyên tắc và những quy định.
Quy trình tín dụng tổng quát

Trích đoạn Đẩy mạnh hoạt động Marketing ngân hàng Phát triển hệ thống công nghệ thông tin Nâng cao chất lượng công tác thẩm định khách hàng Hạn chế tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status