Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày 11-1-2007, Việt Nam trở thành thành viên 150 của tổ chức Thương
mại thế giới (WTO). Ba năm qua, trên con đường hội nhập quốc tế, nước ta
đã tham gia đầy đủ các định chế kinh tế toàn cầu, mở rộng thị trường hàng
hóa dịch vụ, đầu tư quốc tế, đổi mới mạnh mẽ hơn và đồng bộ hơn các thể
chế, đồng thời, cải tiến nền hành chính quốc gia theo hướng hiện đại. Năm
2010 sẽ là năm đánh dấu nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, nền kinh tế
nước ta sẽ có nhiều chuyển biến. Chúng ta gia nhập WTO đúng thời điểm
kinh tế thế giới diễn biến xấu đến hai lần. Lần thứ nhất là năm 2007 giá cả thị
trường thế giới tăng cao, đặc biệt là giá dầu; lần thứ hai là cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu vừa qua. Năm 2008 là năm khá đặc biệt, trong nửa đầu năm,
nền kinh tế nước ta phải đối phó với tình trạng lạm phát cao.
Nhìn lại chặng đường ba năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO chúng ta
có thể thấy rằng WTO đã tác động rất lớn đến tất cả các lĩnh vực của đời sống
kinh tế bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Trong đó WTO tác
động đến các doanh nghiệp thương mại cũng không phải là ngoại lệ. Xét về
khía cạnh thương mại mà nói việc gia nhập WTO đã tác động rất sâu sắc đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Vì vậy, nghiên cứu tác
động của WTO đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là
vấn đề đáng được lưu tâm xem xét. Đó là lý do em chọn đề tài: “nghiên cứu
tác động của WTO đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
thương mại ở Việt Nam”.
Nghiên cứu tác động của việc Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại
thế giới đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại nhằm đề ra
biện pháp khắc phục cũng như tìm ra phương hướng để phát triển hoạt động
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
nhằm chuyển đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Quá trình lưu
chuyển hàng hoá thực chất là quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi
tiêu dùng thông qua hoạt động mua bán, trao đổi sản phẩm hàng hoá nhằm
thoả mãn nhu cầu hàng hoá của người tiêu dùng.
b) Sản phẩm của DNTM cung ứng cho khách hàng về bản chất là dịch
vụ phục vụ khách hàng. Nếu đơn vị sản xuất cung ứng cho người tiêu dùng là
sản phẩm vật chất ( phần cứng) thì sản phẩm chủ yếu của DNTM là sản phẩm
phi vật chất ( phần mềm). DNTM trong quá trình chuyển đưa hàng hóa cho
các doanh nghiệp sản xuất tạo ra chỉ thêm vào các hoạt động dịch vụ làm vừa
lòng khách hàng như: chuyển đưa hàng hóa đầy đủ, đồng bộ, kịp thời, đúng
thời gian, địa điểm và giá cả đã thỏa thuận trước.
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
c) Thị trường của DNTM đa dạng rộng lớn hơn so với đơn vị sản xuất.
Các đơn vị thường mua một vài nguyên vật liệu của các nhà cung cấp để sản
xuất sản phẩm bán cho những khách hàng nhất định. Còn sản phẩm của
DNTM bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất
và tiêu dùng trong đời sống nhân dân nên phạm vi thị trường rộng lớn hơn
bao gồm cả thị trường trong nước và quốc tế.
d) Hoạt động xúc tiến thương mại có vai trò quan trọng đặc biệt. Ỏ
đNTM tập trung vào các hoạt động quảng cáo hàng hóa, xây dựng thương
hiệu, khuyến mại, mở rộng quan hệ công chúng, tham gia hội trợ, triển lãm và
các hoạt động yểm trợ cho hoạt động bán hàng.
e) Kinh doanh trong cơ chế thị trường luôn mở ra muôn vàn cơ hội tìm
kiếm lợi nhuận cũng như đầy rủ ro. Rủ ro tồn tại khách quan cùng với hoạt
động kinh doanh trong môi trường cạnh tranh đầy biến động, đòi hỏi doanh
nghiệp phải có ý thức phong ngừa rủ ro, hạn chế tổn thất xảy ra và quả trị rủ
ro là một nội dung không thể thiếu của hoạt động kinh doanh hiện đại.
2) Chức năng của doanh nghiệp thương mại
a) Phát hiện nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và tim mọi
+) Nhân tố chính trị và pháp luật.
Trong kinh doanh hiện đại các nhân tố chính trị và pháp luật ngày càng
có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế
thị trường có sự điều tiết của nhà nước hiện nay là nền kinh tế phổ biến trên
thế giới. Sự khác nhau về điều tiết của nhà nước chỉ ở mức độ. Trông thực tế
không có nền kinh tế thị trường tự do với nghĩa là không có sự can thiệp của
nhà nước. Để đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt
động cạnh tranh, quốc gia nào cũng có hệ thống pháp luật và các chế độ chính
sách của chính phủ để điều tiết thị trường. Để thành công trong kinh doanh
các doanh nghiệp thương mại phải nghiên cứu, phân tích, dự báo về chính trị
và pháp luật, cùng xu hướng vận động của nó.
+) Nhân tố kinh tế.
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
Các nhân tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và hiệu quả
kinh doanh của DNTM. Các nhân tố kinh tế bao gồm một phạm vi rất rộng từ
các nhân tố tác động đến sức mua khách hàng, đến nhu cầu tiêu dùng hàng
hóa, và các nhân tố có liên quan đến sử dụng nguồn lực của kinh doanh. Các
nhân tố kinh tế là “ máy đo nhiệt độ của nền kinh tế”. Nó quy định các
phương thức và cách thức các DNTM sử dụng các nguồn lực của mình. Sự
thay đổi các nhân tố nói trên và tốc độ thay đổi cũng như chu kỳ thay đổi đã
tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
với mức độ khác nhau. Vì vậy từng doanh nghiệp thương mại trong hoạt động
kinh doanh của mình phải nghiên cứu, lựa chọn, xác định nhân tố kinh tế nào
có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động kinh doanh và kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Các DNTM hoạt động trong một nền kinh tế đang
tăng trưởng, sự phát triển của nền kinh tế có khuynh hướng làm dịu bớt áp lực
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp; nhu cầu tiêu dùng
của các xí nghiệp sản xuất và dân chúng tăng lên. Để xác định các nhân tố
chủ yếu tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, người ta
toán đến các đối thủ cạnh tranh hiện hữu trên thị trường hàng hóa dịch vụ
mình kinh doanh. Các đối thủ cạnh tranh hiện hữu quyết định tính chất và
mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành. Có ba nhân tố
quan trọng tạo thành mức độ cạnh tranh giữa doanh nghiệp kinh doanh cùng
ngành là:
Cơ cấu cạnh tranh.
Tình hình nhu cầu về mặt hàng kinh doanh.
Các rào cản ngăn chặn việc nhập ngành hoặc xuất ngàng của doanh
nghiệp.
+) Khách hàng (hoặc người mua)
Khách hàng là các cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu và
có khả năng thanh toán về hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mà chưa đáp
ứng và mong muốn được thỏa mãn
Thị trường hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp là tập hợp các khách hàng rất
đa rạng, khác nhau về lứa tuổi, giới tính, mức thu nhập, nơi cư trú, sở thích
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
tiêu dùng và vị trí trong xã hội. Nghiên cứu khách hàng và tâm lý khách hàng
giúp cho doanh nghiệp xác định được khách hàng nào có nhu cầu chưa được
thỏa mãn, thời gian địa điểm cần có hàng hóa, đặc điểm sử dụng hàng hóa của
khách hàng, giá cả hàng hóa mà khách hàng có thể chấp nhận, phương thức
phục vụ như thế nào là tốt nhất. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, việc thu
hút khách hàng, đặc biệt là giữ được sự trung thành của khách hàng truyền
thống và thu hút khách hàng tiềm năng là vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
Sự tín nhiệm của khách hàng là tài sản có giá trị lớn của doanh nghiệp. Sự tín
nhiệm đó có duy trì được lâu dài hay không phụ thuộc vào doanh nghiệp có
đổi mới kinh doanh tốt hơn các đối thủ cạnh tranh hay không.
+) Các nhà cung ứng của doanh nghiệp.
Việc nghiên cứu, tìm hiểu các nguồn cung ứng với loại hàng hóa thích
hợp với nhu cầu của khách hàng, chất lượng hàng hóa và khối lượng hàng hóa
của các đối thủ cạnh tranh mới.
II) Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp thương mại.
1) Tạo nguồn và mua hàng ở doanh nghiệp thương mại.
a) Nguồn hàng và phân loại nguồn hàng trong hoạt động kinh doanh
thương mại.
- Khái niệm: nguồn hàng của doanh nghiệp thương mại là toàn bộ khối
lượng và cơ cấu hàng hóa thích hợp với nhu cầu của khách hàng đã và có khả
năng mua được trong ký kế hoạch
Để có nguồn hàng tốt và ổn định, doanh nghiệp phải tổ chức công tác tạo
nguồn. Tổ chức công tác tạo nguồn và mua hàng là toàn bộ những hoạt động
nghiệp vụ nhằm tạo ra nguồn hàng để doanh nghiệp mua được trong kỳ kế
hoạch để doanh nghiệp thương mại đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng
bộ, đúng chất lượng, quy cách, cỡ loại, mầu sắc…cho các nhu cầu của khách
hàng. Tạo nguồn hàng là công việc phải đi trước một bước, bởi lẽ khi nhu cầu
của khách hàng xuất hiện. Doanh nghiệp thương mại đã có hàng ở các điểm
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
cung ứng để đáp ứng cho nhu cầu của khách hàng. Do đó, đòi hỏi doanh
nghiệp phải thực hiện nghiên cứu thị trường và xác định nhu cầu của khách
hàng, đồng thời phải chủ động nghiên cứu và tìm hiểu khả năng của các đơn
vị sản xuất ở trong nước và ở thị trường nước ngoài để tìm nguồn hàng, đặt
hàng, ký kết hợp đồng mua hàng.
- Phân loại nguồn hàng của doanh nghiệp thương mại.
i) Theo khối lượng hang hóa được mua:
+) Nguồn hàng chính: là nguồn hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng
khối lượng hàng hóa mà DNTM mua được để cung ứng cho khách hàng ( thị
trường) trong kỳ.
+) Nguồn hàng phụ: đây là nguồn hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong khối lượng
hàng hóa mua được. Khối lượng thu mua của nguồn hàng này không ảnh hưởng
lớn đến khối lượng hoặc doanh số bán của doanh nghiệp thương mại.
gian, địa điểm bán hàng, giá cả và dịch vụ là vấn đề đầu tiên và hết sức quan
trọng đối với bộ phận tạo nguồn và mua hàng ở DNTM.
- Nghiên cứu thị trường nguồn hàng.
Trong nền kinh tế thị trường nguồn hàng của DNTM rất phong phú.
Doanh nghiệp có thể lấy hàng từ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, các
trang trại, hộ gia đình, hợp tác xã…Tùy theo lĩnh vực kinh doanh của DNTM
mà mặt hàng của doanh nghiệp có thể là mặt hàng tư liệu sản xuất hay mặt
hàng tư liệu tiêu dùng. Từ đó DNTM phải tìm nguồn hàng từ các doanh
nghiệp sản xuất mặt hàng tương ứng từ trong nước hoặc từ nước ngoài.
- Lựa chọn bạn hàng.
Đây là khâu quyết định đối với sự chắc chắn và ổn định của nguồn hàng.
Thiết lập mối quan hệ truyền thống, trực tiếp, lâu dài với các bạn hàng tin cậy
là một trong những yếu tố tạo được sự ổn định trong nguồn cung ứng đối với
doanh nghiệp thương mại.
- Thiết lập mối quan hệ kinh tế – thương mại bằng hợp đồng mua bán hàng
hóa.
Khi đã chọn được đối tác phù hợp với yêu cầu và điều kiện của DNTM
thì doanh nghiệp cần thiết lập mối quan hệ kinh tế – kĩ thuật – tổ chức –
thương mại với đối tác để hai bên hợp tác giúp đỡ lẫn nhau để thỏa mãn nhu
cầu của mỗi bên.
- Kiểm tra hàng hóa và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
c) Các hình thức tạo nguồn và mua hàng ở doanh nghiệp thương mại.
- Mua theo đơn hàng và hợp đồng mua bán hàng hóa.
Để có hàng hóa thích hợp với khối lượng cơ cấu và đúng thời gian yêu
cầu, dựa vào mối quan hệ kinh doanh sẵn có hoặc thông qua chào hàng của
các hãng sản xuất – kinh doanh, DNTM sau khi khảo sát, điều tra, thăm dò và
đánh giá chất lượng hàng hóa, DNTM phải lập đơn hàng và đặt hàng với các
đơn vị nguồn hàng đã được lựa chọn.
mạnh của doanh nghiệp thương mại, cũng như đa dạng hóa hoạt động kinh
doanh, doanh nghiệp thương mại có thể tự tổ chức các xưởng ( xí nghiệp) sản
xuất ra hàng hóa để cung ứng cho khách hàng.
2) Hoạt động bán hàng ở doanh nghiệp thương mại.
a) Khái niệm và đặc điểm của bán hàng trong cơ chế thị trường.
+) Các quan niệm về bán hàng: có thể khái quát các quan niệm về bán hàng
như sau:
- Bán hàng được coi là một phạm trù kinh tế.
Theo Các Mác bán hàng là sự chuyển hóa hình thái giá trị của hang hóa
từ hàng sang tiền và sự chuyển hóa này là “ bước nhảy nguy hiểm” chết
người, khó khăn nhất. Theo cách tiếp cận này, bán hàng là hoạt động đầy rẫy
những khó khăn và khó khăn nhất là việc thu tiền của người mua.
- Bán hàng là hành vi thương mại của thương nhân.
Theo luật thương mại: “ mua bán hàng hóa là hành vi thương mại của
thương nhân, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu
hàng hóa cho người mua và nhận tiền, người mua có nghĩa vụ trả tiền cho
người bán và nhận hàng theo thỏa thuận của hai bên”. Theo khái niệm này,
bán hàng tập trung vào các hoạt động của nhân viên bán hàng từ khâu tiếp xúc
khách hàng, thương lượng để thỏa mãn nhu cầu khách hàng và mang lại lợi
ích cho hai bên.
+) Đặc điểm bán hàng trong cơ chế thị trường.
- Khách hàng là người mua quyết định thị trường, quyết định người bán.
- Khách hàng chỉ quan tâm tới hàng hóa có chất lượng cao, giá cả phải
chăng và được mua bán một cách thuận tiện
- Khách hàng là người mua đòi hỏi người bán quan tâm tới lợi ích của
mình.
- Nhu cầu thị hiếu của khách hàng luôn thay đổi, gây khó khăn đối với
hoạt động kinh doanh.
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
thông được chuyên môn hóa tạo điều kiện phát triển sản xuất, mở rộng thị
trường.
- Kênh 4: xuất hiện người môi giới trong lưu thông. Người môi giới mua
bán cần thiết khi xuất hiện cung hoặc cầu về một loại hàng hóa nào đó, mà
người bán hoặc người mua thiếu các kênh thông tin hoặc khó khăn tiếp cận
giao dịch mua bán.
Các hình thức bán hàng.
- Theo địa điểm giao hàng cho khách hàng có các hình thức:
Bán tại kho của người cung ứng, tại kho của doanh nghiệp thương
mại, bán qua của hàng quầy hàng.
Bán tận đơn vị tiêu dùng, bán tại nhà theo yêu cầu của khách hàng.
- Theo khâu lưu chuyển hàng hóa có bán buôn và bán lẻ.
- Theo phương thức bán gồm: bán theo hợp đồng và đơn hàng; thuận
mua vừa bán; bán đấu giá và xuất khẩu hàng hóa.
- Theo mối quan hệ thanh toán có mua đứt bán đoạn và sử dụng các hình
thức tín dụng trong thanh toán như bán hàng trả chậm, trả góp…
- Hình thức bán hàng trức tiếp bán từ xa qua điện thoại, bán qua người
môi giới, qua nhân viên tiếp thị và bán qua mạng internet.
+) Phân phối hàng hóa vào các kênh, xác định chính sách và biện
pháp bán hàng.
Xác định chính sách và biện pháp bán hàng là sự cụ thể hóa chiến lược
và kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể sử dụng các
chính sách sau:
- Chiên lược sản phẩm: xác định danh mục sản phẩm đưa ra thị trường,
chú ý những sản phẩm mới.
- Điều chỉnh cơ cấu sản phẩm, xác định sản phẩm mũi nhọn, cơ cấu sản
phẩm phải điều chỉnh để thích ứng với nhu cầu đa dạng và thay đổi của thị
trường.
WTO có tên đầy đủ là Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization). Tổ chức này
được thành lập và hoạt động từ 1/1/1995 với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự do, thuận
lợi và minh bạch.
Tổ chức này kế thừa và phát triển các quy định và thực tiễn thực thi Hiệp
định chung về Thương mại và Thuế quan - GATT 1947 (chỉ giới hạn ở thương mại hàng hoá) và là kết quả trực tiếp của
Vòng đàm phán Uruguay (bao trùm các lĩnh vực thương mại hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư).
2) Mục tiêu của WTO.
Với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới,
WTO thừa nhận các mục tiêu của GATT trong đó có 3 mục tiêu chính như sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới
phục vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường.
- Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng
và tranh chấp thương mại giữa các thành viên trong khuôn khổ của hệ
thống thương mại đa phương, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Công
pháp quốc tế; bảo đảm cho các nước đang phát triển đặc biệt là các nước
kém phát triển được hưởng những lợi ích thực chất từ sự tăng trưởng của
thương mại quốc tế.
- Nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước
thành viên, đảm bảo các quyền và tiêu chuẩn lao động đối thiểu.
3) Các nguyên tắc cơ bản của WTO.
Mặc dù khá dài và phức tạp, các Hiệp định trong WTO xoay quanh một
số nguyên tắc chủ đạo, trong đó có những nguyên tắc có thể tác động trực tiếp đến
quyền và lợi ích của các doanh nghiệp:
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
- Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN): theo nguyên tắc này, mỗi nước thành viên phải dành sự đối
xử không phân biệt cho hàng hoá và dịch vụ đến từ các nước thành viên WTO khác nhau.
Như vậy doanh nghiệp xuất khẩu vào một thị trường sẽ được cạnh tranh công
bằng với doanh nghiệp xuất khẩu đến từ các nước khác.
- Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): nguyên tắc này đòi hỏi mỗi nước thành viên phải đối xử
là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm tức là không muộn hơn 31/12/2018.
Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu ta chứng minh được với đối tác nào là
kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó
ngừng áp dụng chế độ “phi thị trường” đối với ta. Chế độ “phi thị trường” chỉ
có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá. Và các thành viên WTO
không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩu nước ta
dù ta bị coi là nền kinh tế phi thị trường.
Cam kết của Việt Nam đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước
ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu
tại Việt Nam. Quyền xuất nhập khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải
quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu. Trong mọi trường hợp, DN và cá nhân
nước ngoài sẽ không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong
nước. Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của
ta trong việc đưa ra các quy định để quản lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối
với sản phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo - tạp chí…
Đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp thương mại
nhà nước, cam kết trong lĩnh vực này là nhà nước sẽ không can thiệp trực
tiếp hay gián tiếp vào hoạt dộng DNNN. Tuy nhiên, nhà nước với tư cách
là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của DN như các cổ
đông khác. Ta cũng đồng ý cách hiểu mua sắm của DNNN không phải là
mua sắm Chính phủ.
Về cam kết thực hiện minh bạch hóa, ngay từ khi gia nhập Việt Nam sẽ
công bố dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban thường
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
vụ quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân. Thời hạn dành
cho việc góp ý và sửa đổi tối thiểu là 60 ngày. Việt Nam cũng cam kết sẽ
đăng công khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí, trang tin điện tử của
bộ, ngành.
Một số cam kết liên quan khác: thuế xuất khẩu, Việt Nam chỉ cam kết sẽ
công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt
Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam.
Cuối cùng, ta cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần
trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa
thị trường ngành đó. Riêng ngân hàng ta chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài
mua tối đa 30% cổ phần.
Các cam kết khác, với các ngành còn lại như du lịch, giáo dục, pháp lý,
kế toán, xây dựng, vận tải… mức độ cam kết về cơ bản không khác nhiều so
với BTA. Ngoài ra không mở cửa dịch vụ in ấn - xuất bản.
III) Tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiêp thương mại.
1) Cơ hội khi gia nhập WTO
a) Mở rộng thị trường tiêu thụ và thị trường yếu tố đầu vào cho doanh
nghiệp thương mại: hàng hóa của các doanh nghiệp khi thâm nhập thị trường
của các thành viên của WTO sẽ được bình đẳng như hàng hóa của các nước
thành viên khác và được đối sử bình đẳng như hàng hóa ở nước sở taijdo
được hưởng MFN và NT. Bên cạnh đó các doanh nghiệp thương mại Việt
Nam còn được hưởng những ưu đãi thương mại cho một nước đang phát triển
ở trình độ thấp.
b) Buộc chính phủ phải thay đổi hoạt động cho có hiệu quả với tình hình
mới: chính phủ lúc này phải hoạt động có hiệu quả và thận trọng hơn khi ra
các quyết sách về kinh tế. Việt Nam phải cam kết áp dụng và giám sát hệ
thống luật của mình theo các nguyên tắc quốc tế: minh bạch, hợp lý, công
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
bằng, đồng bộ. Việt Nam phải tăng cường thực hiện các cải cách kinh tế vĩ mô
để sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu của quá trình tự do hóa thương mại, vừa
có thể tranh thủ được tối đa lợi ích mà nó mang lại.
c) Có điều kiện thu hut vốn đầu tư nước ngoài: các doanh nghiệp có
nhiều cơ hội đầu tư và kinh doanh cả trong nước và ngoài nước dưới nhiều
c) Thách thức về nguồn nhân lực: trình độ quản lý và chuyên môn của
các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn rất
hạn chế, bao gồm kỹ năng, phương pháp làm việc và trình độ ngoại ngữ. Điều
này sẽ là cản trở lớn với khả năng hội nhập của các doanh nghiệp.
d) Đặt ra những vấn đề trong bảo vệ môi trường và an ninh quốc gia.
3) Tác động của WTO đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp
thương mại.
a) Thuận lợi.
Nghiên cứu về tác động của gia nhập WTO đã chỉ ra rằng, việc là thành
viên của GATT/WTO có quan hệ chặt chẽ với sự tăng lên đáng kể của nhập
khẩu từ các nước công nghiệp, tuy nhiên nghiên cứu cũng không chắc chắn
trong trường hợp thành viên là các nước đang phát triển. Trên cơ sở phân tích
thực tiễn hoạt động XNK Việt Nam thời gian qua, có thể khẳng định với tư
cách là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ có cơ hội nhập hàng hoá có chất
lượng và giá cả cạnh tranh, đáng chú ý là khối lượng hàng hoá NK có thể
tăng nhưng giá trị kim ngạch NK có thể tăng hoặc tăng không đáng kể.Và
người Việt Nam sẽ có lợi trong việc tiêu dùng của mình.
Giá thành các hàng hóa nhập khẩu sẽ cạnh tranh hơn,gia nhập WTO các
doanh nghiệp sẽ không còn phải lo lắng nhiều về giá cả cũng như chất lượng
các hàng hóa nhập khẩu. Càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các
doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận được với các nguồn hàng có chất lượng về
quy cách, cỡ loại, số lượng, trọng lượng, màu sắc và giá cả hợp lý đảm bảo
đáp ứng được nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng.
Các mối quan hệ kinh tế hợp tác không chỉ đơn thuần mang tính chất
ngắn hạn mà dần sẽ trở thành quan hệ hợp tác truyền thống đôi bên cùng có
SV: Nguyễn Văn Hải Lớp: QTKD Thương mại 49B
Đề án môn học GVHD: PGS.TS Nguyễn Xuân Quang
lợi của nền kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp được tự do trong lựa chọn
bạn hàng và nhà cung ứng để đảm bảo nguồn hàng đủ về số lượng và có chất
lượng với giá cả phải chăng, do vậy họ sẽ quan tâm rất nhiều đến giá cả và