I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoạt động dạy và học đạt kết quả cao nhất khi có sự hợp tác, tương tác
giữa người dạy và người học nhằm đạt được mục tiêu của bài học. Vậy làm
thế nào để luôn có được sự tương tác hiệu quả giữa người dạy và học sinh
trong quá trình dạy học? Để làm được điều đó, trước tiên chúng ta phải có
những phương tiện giao tiếp hiệu quả. Một trong những phương tiện giao
tiếp hiệu quả trong lớp học đó là việc đặt câu hỏi.
Đặt câu hỏi trong dạy học đặc biệt quan trọng trong các tiết học Địa lí.
Bởi, Địa lí là một môn học tìm hiểu về sự vận động của các yếu tố tự nhiên
cũng như các vấn đề về kinh tế - xã hội, vì vậy cần có sự tư duy, tưởng tượng
và sự sáng tạo của học sinh.
Gần đây, các đề tài về lĩnh vực đặt câu hỏi trong dạy học ở Việt Nam
cũng được nghiên cứu sâu rộng. Tiêu biểu là các hoạt động nghiên cứu tại
Trường Đại học Giáo dục – Đại Học Quốc Gia Hà Nội với nội dung “Dạy
học với câu hỏi hiệu quả”. Các nhà giáo dục của chương trình Dạy học cho
tương lai của Intel nhấn mạnh vai trò của đặt câu hỏi: “Đặt câu hỏi là trọng
tâm của phương pháp dạy học tích cực. Điều quan trọng là phải lựa chọn
được loại câu hỏi thích hợp để kích thích tư duy của học sinh và thu hút các
em vào các cuộc thảo luận hiệu quả”. Nghệ thuật đặt câu hỏi là một trong
những kỹ năng cơ bản của giáo viên trong quá trình dạy học.
Tất cả những khía cạnh trên cùng với thực tế của đối tượng học tập đã
thôi thúc tôi lựa chọn nghiên cứu về đề tài “Sử dụng câu hỏi hiệu quả cao
trong dạy học Địa lí, áp dụng bài: Vũ Trụ. Hệ mặt Trời và Trái Đất. Hệ
quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất - Địa lí 10 cơ bản”. Với
mong muốn đóng góp một cách thức sử dụng triệt để, sáng tạo ý tưởng đó
trong quá trình dạy học Địa lý ở phổ thông. Từ đó nâng cao hiệu quả của các
giờ dạy Địa lí ở trường phổ thông.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1
1.Cơ sở lý luận của vấn đề
1.1.Câu hỏi hiệu quả cao.
hoàn thiện ; Sự đánh giá/minh chứng.
- Mức độ hứng thú với các câu hỏi và cuối cùng là mức độ kiến thức
học sinh thu nhận được sau tiết học.
Vì vậy, câu hỏi hiệu quả cao không chỉ là một câu hỏi độc lập mà đó là
một hệ thống các câu hỏi. Hệ thống câu hỏi này kích thích được khả năng tư
duy phê phán sáng tạo của người học.
1.3. Quy tắc đặt câu hỏi của Ivan Hannel.
Theo Ivan Hannel, việc đặt câu hỏi được xây dựng dựa trên 7 quy tắc.
Các quy tắc này dựa trên những đặc điểm tâm lí của học sinh và môi trường
dạy học.
Quy tắc 1: Học sinh đến trường là để học tập và chúng bắt buộc phải học.
Nếu chúng ta chỉ lên lớp và mong đợi các học sinh của mình tự giác
tham gia vào bài học thì đó là một sai lầm. Nếu không phải tồn tại các kỳ thi
thì có lẽ học sinh tới trường chỉ để gặp mặt chuyện trò.
Vì vậy giáo viên hãy tương tác và hỏi tất cả các em học sinh trong lớp
dù chúng giơ tay hay không giơ tay.
Quy t ắc 2: Học sinh là những người chưa được giáo dục, rèn luyện đầy đủ,
chứ không phải thiếu đầu óc suy nghĩ; chúng không hoạt động chứ
không phải đã chết!
Theo thống kê , 90% học sinh có một bộ óc khoẻ mạnh, có thể tham
gia hoạt động ở mức chấp nhận được hay ở mức cao trong các hoạt động
mang tính học thuật. Do đó hãy hỏi học sinh cùng một lượng câu hỏi có chất
lượng như nhau; chọn câu hỏi rồi chọn học sinh trả lời.
Qui tắc 3: Chúng tôi cho rằng chiều sâu của câu hỏi tạo ra những kết quả
khác nhau.
Mục đích của việc đặt câu hỏi hiệu quả là kích thích tư duy phê phán của
học sinh. Kết quả của hoạt động tư duy phê phán thể hiện khác nhau tùy theo
3
chất lượng câu hỏi đặt ra. Vì vậy hỏi nhiều câu hỏi và cố tránh kể chuyện,
gợi ý, giúp đỡ hay những hình thức dạy học không đặt câu hỏi khác.
Bước 3: Thứ tự, trật tự, phân loại, nhóm họp, tóm tắt trước và tổng hợp
(ứng với bậc 2: Hiểu của phân loại Bloom)
Các câu hỏi trong bước 3 yêu cầu học sinh sắp xếp theo thứ tự, trật
tự,phân loại hay tóm tắt trước một loạt các ý hay một phần nội dung.
Ghi chú: Ba bước đầu tiên trong 7 bước giúp cho học sinh đi từ bước cơ bản
đặt tên cho các ý đến kết hợp cả chu trình hay các quá trình. Một cách khác
để kết hợp là đi từ bộ phận đến tổng thể.
Bước 4 (ứng với bậc 2 Áp dụng của phân loại Bloom )
Bước 4 áp dụng cho việc giúp học sinh giải mã, hiểu hay đơn giản tìm
ra một câu hỏi đặt ra hỏi gì. Trong khi bước 1, 2 và 3 nhằm vào nội dung của
bài học, bước 4 được áp dụng khi bạn gặp phải các câu hỏi kiểm tra viết, câu
hỏi ôn tập.
Bước 5: Mã hóa, trả lời
(Ứng với bậc 2: Áp dụng của phân loại Bloom)
Trong bước 5 học sinh được đề nghị lựa chọn hay trả lời cho các câu
hỏi mà các em đã giải mã trong bước 4. Nếu bước 4 là "câu hỏi muốn hỏi gì
và tại sao bạn cho là như thế?" Thì bước 5 là "câu trả lời của bạn là gì và tại
sao bạn lựa chọn câu trả lời đó?”
Bước 6: Áp dụng, chẩn đoán, dự án và khái niệm hóa
(Ứng với bậc 3: Áp dụng của phân loại Bloom)
Bước 6 là yêu cầu học sinh áp dụng, dự đoán, thay đổi hay sử dụng
những gì đã được học trong bài học vào một hoàn cảnh mới và khác biệt.
Một vài ví dụ mẫu về các câu hỏi trong bước 6 là:
- Bạn sử dụng điều này trong một ngữ cảnh khác như thế nào?
- Bạn sẽ áp dụng phần kiến thức này cho cuộc sống của riêng bạn ra
sao?
5
Bước 7 : Tóm tắt và kết luận
(Ứng với bậc 4: Tổng hợp và bậc 5: Đánh giá của phân loại Bloom)
Bước 7 yêu cầu học sinh làm một bản tóm tắt cuối cùng về những gì
phân tích, nhận xét biểu đồ, bảng số liệu. Mỗi nội dung có những đặc trưng
đặc thù riêng về phương pháp dạy
3.1.1.Dạy học các khái niệm Địa lí
Sử dụng phương pháp cho học sinh quan sát các hiện tượng Địa lý. Vì
vậy, theo người viết, phần đầu này chúng ta sử dụng các câu hỏi bước 1, 2, 3.
Các khái niệm Địa lý được hình thành và hoàn thiện dần theo bậc học.
Học sinh ngày càng hiểu rõ nội hàm của các khái niệm. Do đó phần này có
thể sử dụng câu hỏi bước 6,7.
3.1.2.Dạy học các mối quan hệ giữa các đối tượng Địa lí
Một đối tượng địa lí tự nhiên hoặc địa lí kinh tế xã hội nào đó bao giờ
cũng có mối quan hệ với các đối tượng khác. Do vậy, phần này sử dụng chủ
yếu câu hỏi bước 4,5.
3.1.3.Dạy khai thác kiến thức từ bản đồ, Át lát Địa lí
Về mặt nội dung, bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những mối
quan hệ của các đối tượng địa lí trên bề mặt Trái đất một cách cụ thể mà
không có phương tiện nào khác có thể làm được. Những kí hiệu màu sắc,
cách biểu hiện trên bản đồ là nội dung địa lí đã được mã hóa.
Về mặt phương pháp, bản đồ được coi là phương tiện trực quan, giúp học
sinh khai thác, củng cố tri thức và phát triển tư duy trong quá trình giảng dạy
địa lí.
Tổ chức quá trình dạy học trên cơ sở bản đồ và Át lát địa lí nhằm hình thành
ở học sinh năng lực giải quyết vấn đề.
Các mức độ khi
đọc và khai thác
bản đồ
Cách giải quyết
Bậc CH được
áp dụng
7
Mức sơ đẳng
Quy trình hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bảng số liệu theo các
bước sau:
Hình thức dạy học Bậc CH được áp dụng
Xác định mục đích của việc phân
tích số liệu
Sử dụng câu hỏi bước 1,2
Đánh giá số liệu Sử dụng câu hỏi bước 3,
Phân tích, so sánh, đối chiếu các số
liệu(sử dụng một số phép toán đơn
giản để rút ra những nhận xét cần
thiết, kể cả việc sử dụng máy tính)
Chú trọng vào khải năng dự đoán
định tính của học sinh do vậy sử
dụng nhiều câu bước 5,6,7.
3.1.5. Dạy học qua khai thác biểu đồ
Hình thức DH Cách giải quyết Bậc CH được áp
dụng
Bước 1 Cho học sinh quan sát biểu đồ. Xác định Phần này sử
8
biểu đồ thuộc loại nào? Được thể hiện
bằng hình thức nào?Nội dung của biểu đồ?
dụng câu hỏi
chủ yếu bước
1,2
Bước 2 Phân tích các số liệu được biểu hiện trên
biểu đồ. Xác định vị trí, vai trò của từng
thành phần trong biểu đồ.
Chúng ta sử
dụng câu hỏi
bước 2, 3
thời phải dựa trên điều kiện cơ sở vật chất của trường học.
Thứ ba: Xác định phương pháp dạy học (thuyết trình, hoạt động
nhóm ) dựa trên việc xác định được logic bài giảng.
Thứ tư: Xây dựng hệ thống câu hỏi HEQ sử dụng trong bài dạy tuân
thủ các nguyên tắc ở trên đồng thời phù hợp với logic và phương pháp đã lựa
chọn.
Theo lý thuyết HEQ chúng ta không thể nhảy bậc câu hỏi. Tuy nhiên
khi ứng dụng vào Địa lí, tôi thấy rằng, trong một tiết học Địa lí, có thể có rất
nhiều nội dung được truyền tải: như khái niệm;các mối quan hệ giữa các đối
tượng Địa lí, bản đồ,bảng số liệu, thực hành Vì vậy giáo viên không thể cứ
tuân thủ 7 bước đặt câu hỏi HEQ để dạy từng nội dung, mà phải biết kết hợp
các nội dung trong từng bước câu hỏi và kiến thức cần đạt tới phù hợp mục
tiêu đã đặt ra.
Ví dụ về HEQ sử dụng trong dạy bài: Vũ trụ. Hệ mặt Trời và Trái Đất.
Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất- lớp 10 Ban cơ bản
Mục I.1. Vũ trụ. Hệ Mặt trời và Trái Đất trong Hệ Mặt Trời.
GV cho HS xem video về Vũ trụ - Hệ Mặt Trời
CH1: Bạn nào cho cô biết các em vừa xem đoạn phim nói về vấn đề gì
không ? – Vũ Trụ - Hệ Mặt Trời.
CH2: Vậy có ai biết vũ Trụ là gì không nhỉ ? – Là khoảng không gian bao
la vô tận chứa hàng trăm tỉ Thiên hà.
CH3: Hãy nêu những hiểu biết của em về Thiên hà ?
Mỗi thiên hà là tập hợp của nhiều thiên thể, khí, bụi và bức xạ điện từ.
CH4: Quan sát thiên hà có chứa Hệ Mặt Trời em hãy mô tả về thiên hà đó?
Thiên hà có chứa Mặt Trời được gọi là Dải Ngân Hà, có dạng xoắn ốc,
giống như một cái đĩa với đường kính là 100.000 năm ánh sáng.(năm ánh
sáng bằng 9460 tỉ km)
10
CH5:Vậy Dải Ngân Hà mà chúng ta thấy vào ban đêm có phải là Thiên hà?
-Chỉ là một bộ phận chính của thiên hà chúng ta.
hành tinh duy nhất có sự sống?
HS trình bày
GV giúp HS chuẩn kiến thức: chính vị trí cùng kích thước, khối lượng đủ lớn
và sự chuyển động làm cho Trái Đất có sự sống.
Câu hỏi bước 1: C1
Câu hỏi bước 2: C2
Câu hỏi bước 3: C3,C4
Câu hỏi bước 6,7: C5
Mục II.1.GV yêu cầu HS dựa vào kiến thức đã học và đoạn phim minh họa
về sự chuyển động tự quay quanh trục, HS trả lời câu hỏi:
CH1:Vì sao trên Trái Đất có ngày và đêm ?
CH2: Ngày và đêm kế tiếp nhau không ngừng tạo nên sự sống cho Trái Đất.
Vậy tại sao lại có sự kì diệu đó đó ?
CH3:Giả sử Trái Đất không tự quay quanh trục thì có ngày và đêm không?
CH4: Nếu có thì ngày và đêm sẽ như thế nào? Khi đó Trái Đất có sự sống
không?
Câu hỏi bước 2: C1
Câu hỏi bước 3: C2
Câu hỏi bước 6: C3, C4
Mục II.2. HS quan sát hình 5.1, trả lời:
Nhóm 1:
CH1:Phân biệt giờ địa phương, giờ quốc tế ?
CH2: Vì sao phải chia khu vực giờ, thống nhất cách tính giờ ?
CH3:Có bao nhiêu múi giờ ? Cách đánh múi giờ ? Trình bày cách tính giờ ?
Nhóm 2:
CH4: Vì sao ranh giới các múi giờ không hoàn toàn thẳng theo kinh tuyến ?
CH5: Vị trí đường đổi ngày, qui ước đổi ngày ?
CH6: Vì sao phải có đường đổi ngày quốc tế ?
GV giúp HS chuẩn kiến thức
12
Sau khi giảng dạy xong bài học, người viết đề tài có lấy phiếu ý kiến
của các thành viên lớp 10A và cho các em đóng góp ý kiến.
Em Nguyễn Cẩm Tú lớp 10A, cho biết : “Tiết học rất thú vị. Cô giáo
giảng hay và dễ hiểu. Cách giảng bài sử dụng nhiều câu hỏi như vậy rất hay
vì học sinh được tham gia vào bài học nhiều hơn. Cô giáo nên đặt nhiều câu
hỏi khó hơn nữa để học sinh được tư duy nhiều hơn”.
Em học sinh không ghi tên đã có ý kiến như sau:”Cô giáo đặt câu hỏi
logic, vừa phải. Em mong muốn các tiết học tiếp theo cô giáo tiếp tục giảng
như vậy để chúng em có thể hiểu bài học một cách sâu sắc hơn. Tuy nhiên
cô giáo giảng chậm hơn một chút để chúng em kịp ghi bài.“
Sau khi phát phiếu lấy ý kiến của lớp thực nghiệm (10A), người viết đã
tổng hợp và đưa ra kết quả sau:
Số học sinh cảm thấy tiết học rất hay, thu hút chiếm 19/38 học sinh,tức
chiếm 50.1%. Số học sinh cảm thấy bài học hay và dễ hiểu chiếm 41.2%
(với bài Vũ Trụ. Hệ Mặt Trời và Trái Đất. Hệ quả của chuyển động tự quay
quanh trục của Trái Đất”). Điều đó cho thấy phần đa số học sinh cảm thấy
tiết học rất hứng thú. Hầu hết học sinh đã xác định được trọng tâm của bài,
chiếm 91,2%. Qua đó có thể thấy, hệ thống câu hỏi được đặt ra đã tập trung,
xoáy sâu vào phần kiến thức trọng tâm của bài. Đánh giá sự hứng thú của
học sinh, học sinh đa số đều khẳng định muốn học với cách dạy như trên với
98% tổng số học sinh cả lớp.
4.2. Đánh giá bằng bài kiểm tra 10 phút
Đến tiết học tiếp theo sau bài 5, người thực hiện cho làm bài kiểm tra
10 phút với phạm vi kiến thức trong bài học trước đó tại 2 lớp đã chọn thu
được kết quả cụ thể về tính hiệu quả của hai giờ dạy với hai phương pháp
khác nhau.
Bảng 1. so sánh kết quả điểm kiểm tra của hai lớp
Điểm
Lớp 5 6 7 8 9
Điểm
dạy. Khai thác tối đa các phương tiện dạy học, đặc biệt là sự hỗ trợ của máy
chiếu. Làm được như vậy sẽ làm cho tiết học không bị nhàm chán, học sinh
được tham gia vào các nội dung học tập do người dạy triển khai, học sinh sẽ
hứng thú hơn vào bài học. Tóm lại, câu hỏi hiệu quả cao vẫn được triển khai
trong bài dạy và được sử dụng trong các phương pháp dạy học khác.
Mặc dù đề tài chỉ áp dụng ở phạm vi nhỏ nhưng người nghiên cứu đã
thấy được thành công trong giờ dạy đó và thấy tự tin hơn khi đứng trước
học sinh. Vì vậy, người viết sáng kiến mong muốn mỗi giáo viên phổ thông
sẽ được tiếp cận và thực hiện phương pháp dạy học bằng bộ câu hỏi hiệu quả
cao được thiết kế theo một phương pháp chặt chẽ. Làm được như vậy, có
nghĩa là chúng ta đang ngày càng làm cho khoảng cách giữa tri thức khoa
học với tầm hiều biết của học sinh trở nên ngắn lại, làm cho vấn đề trở nên
đơn giản hơn, làm cho học sinh có thể hiểu được rằng, tất cả những gì bí ẩn
trong khoa học cũng có sự liên hệ chặt chẽ và logic với nhau. Người viết
sáng kiến mong muốn những đóng góp của đề tài này sẽ là tài liệu hữu ích
16
cho tất cả các đối tượng. Và hơn thế nữa, đề tài này sẽ được tiếp tục hoàn
thiện, bổ sung để có thể ngày một phát triển hơn nữa.
2. Kiến nghị:
Với Sở giáo dục và đào tạo: Mở các lớp tập huấn về việc xây dựng hệ
thống câu hỏi trong dạy học Địa lí nói riêng. Đó là môi trường để người dạy
học tập những kinh nghiệm và trau dồi kiến thức, phương pháp.
Với lãnh đạo nhà trường: Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, có phòng học
Địa lí riêng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Dược – Nguyễn Trọng Phúc (2004), Lí luận dạy học Địa lí, NXB
Đại học sư phạm.
2. Ivan Hannel (2009), Phương pháp đặt câu hỏi hiệu quả cao trong dạy
học.
3. Nguyễn Minh Tuệ - Nguyễn Đức Vũ – Phạm Thu Phương, Tìm hiểu kiến
2. Tồn tại: Tổng điểm: điểm
Xếp loại:
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
Bài 5 : VŨ TRỤ, HỆ MẶT TRỜI VÀ TRÁI ĐẤT.
HỆ QUẢ CHUYỂN ĐỘNG TỰ QUAY CỦA TRÁI ĐẤT
A. MỤC TIÊU BÀI HỌC :
Qua bài học, HS cần:
1. Kiến thức:
- Nhận thức được Vũ Trụ là vô cùng rộng lớn. Hệ mặt trời, trong đó có Trái
Đất chỉ là một phần nhỏ bé trong Vũ Trụ.
20
- Hiểu khái quát về hệ Mặt Trời, Trái Đất trong hệ Mặt Trời.
- Giải thích được các hiện tượng sự luân phiên ngày – đêm, giờ trên TRái
Đất, chênh lệch hướng chuyển động của các vật thể trên bề mặt Trái Đất.
2. Kĩ năng:
- Xác định hướng chuyển động của các hành tinh trong hệ Mặt Trời, vị trí
đêm có phải là Thiên hà?
I. Khái quát vể vũ trụ, hệ Mặt Trời,
Trái Đất trong hệ Mặt Trời.
1. Vũ trụ :
- Vũ trụ là khoảng không gian vô
tận chứa hàng trăm tỉ Thiên hà. Mỗi
thiên hà là một tập hợp của nhiều thiên
thể, khí, bụi và bức xạ điện từ.
- Thiên hà chứa Mặt Trời và các
hành tinh của nó được gọi là Dải Ngân
Hà.
21
GV mở rộng: Dải Ngân hà cũng chỉ là một trong
vô số thiên hà trong vũ trụ mà thôi.
CH6: Em hãy phân biệt cho cô Thiên hà và dải
Ngân Hà ?
CH7: Vậy một em nhắc lại cho cô về những điều
đã biết về Vũ Trụ, Thiên hà và Dải Ngân Hà nào?
Câu hỏi bước 1: C1, C2, C3
Câu hỏi bước 2: C4,C5,C6
Câu hỏi bước 3: C7
Câu hỏi bước 6: Câu hỏi mở rộng
Câu hỏi bước 6:C7
HĐ 2: Cá nhân/cặp
GV tiếp tục cho học sinh video về Hệ Mặt Trời và
dừng lại ở hình ảnh tĩnh. HS quan sát hình ảnh,
đoạn video có thuyết minh để trả lời câu hỏi của
GV:
CH1: Em hãy mô tả Hệ Mặt Trời.
CH2: Kể tên các hành tinh trong Hệ Mặt Trời.
- Trái Đất tự quay quanh trục và chuyển
động tịnh tiến quanh Mặt Trời, tạo ra
nhiều hệ quả địa lí quan trọng trên Trái
đất.
22
quay ?
CH5:Vậy em nào giải thích cho cô và các bạn
cùng nghe:Tại sao Trái Đất là hành tinh duy nhất
có sự sống?
HS trình bày
GV giúp HS chuẩn kiến thức: chính vị trí cùng
kích thước, khối lượng đủ lớn và sự chuyển động
làm cho Trái Đất có sự sống.
Câu hỏi bước 1: C1
Câu hỏi bước 2: C2
Câu hỏi bước 3: C3,C4
Câu hỏi bước 6,7: C5
HĐ 4: Cả lớp
GV yêu cầu HS dựa vào kiến thức đã học và đoạn
phim minh họa về sự chuyển động tự quay quanh
trục, HS trả lời câu hỏi:
CH1:Vì sao trên Trái Đất có ngày và đêm ?
CH2: Ngày và đêm kế tiếp nhau không ngừng tạo
nên sự sống cho Trái Đất. Vậy tại sao lại có sự kì
diệu đó đó ?
CH3:Giả sử Trái Đất không tự quay quanh trục thì
có ngày và đêm không?
CH4: Nếu có thì ngày và đêm sẽ như thế nào? Khi
đó Trái Đất có sự sống không?
Câu hỏi bước 2: C1
CH4: Vì sao ranh giới các múi giờ không hoàn
toàn thẳng theo kinh tuyến ?
CH5: Vị trí đường đổi ngày, qui ước đổi ngày ?
CH6: Vì sao phải có đường đổi ngày quốc tế ?
GV giúp HS chuẩn kiến thức
Câu hỏi bước 3: C1,C2, C3,C5
Câu hỏi bước 6: C4,C6
HĐ 6: Cá nhân/cặp
Quan sát hình 5.4 cho biết :
CH1: Lực làm lệch hướng các vật thể có tên là
gì?
CH2: Ở BCB, BCN các vật chuyển động lệch sang
hướng nào so với hướng chuyển động ban đầu
CH3:Vì sao có sự lệch hướng ?
CH4: Một dòng sông chảy theo hướng Bắc – Nam,
em hãy cho biết sông bên nào lở, bên nào bồi?
HS trình bày.
GV giúp HS chuẩn kiến thức
Câu hỏi bước 1: C1, C2
Câu hỏi bước 2: C3
Câu hỏi bước 6:C4 - Câu hỏi mở rộng
- Kinh tuyến 180
0
được chọn làm
đường đổi ngày quốc tế.
3. Sự lệch hướng chuyển động của
các vật thể:
- Lực làm lệch hướng chuyển động
của các vật thể trên bề mặt Trái Đất so