Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh thái nguyên - Pdf 26

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH KHU VỰC I
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THANH HÀ
PHÓ TRƯỞNG KHOA CHÍNH TRỊ HỌC
THÁI NGUYÊN, THÁNG 11 NĂM 2013
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đến nay, thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng, chúng ta đã co những bước tiến quan trọng về
mọi mặt, nổi bật nhất là trong các lĩnh vực An ninh chính trị và kinh tế - xã
hội. Kết quả đó đã nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế, nâng cao
đời sống về vật chất và tinh thần cho nhân dân, củng cố niểm tin của các tầng
lớp nhân dân đối với Đảng; đồng thời khẳng định sự đúng đắn trong đường
lối lãnh đạo của Đảng.
Đại hội lần thứ IX của Đảng một lần nữa đã khẳng định những thành
tựu to lớn trong 15 năm đổi mới mà Đảng và nhân dân ta đã đạt được là kết
quả hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy
nhiên, bên cạnh những nhân tố phát triển, đại hội cũng đã chỉ ra những nguy
cơ của đất nước, đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, nguy cơ chệch
hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ do kẻ địch thực hiện âm mưu “ diễn biến
hoà bình” và nguy cơ của nạn tham nhũng, quan liêu. Trong đó, “ Điều cần
nhấn mạnh là: tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng, chính trị,

trật tự an toàn xã hội.
Tuy nhiên cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn diễn ra phức
tạp và kéo dài, nguyên nhân của nó phải được xem xét, đánh giá và lý giải
một cách nghiêm túc, khoa học để từ đó rút ra bài học, kiến nghị với Tỉnh uỷ,
UBND tỉnh và các cấp, các ngành có chính sách và biện pháp hữu hiệu đẩy
lùi tệ nạn này. Chính những lý do trên, là người đang công tác tại Ban Nội
chính Tỉnh ủy nên em chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
3
công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” làm
luận văn tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị hành chính
2- Mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn
* Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận về tham nhũng, luận văn khái quát
đánh giá thực trạng, tình hình tham nhũng và cuộc đấu tranh phòng chống
tham nhũng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua; nêu được
những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham
nhũng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thời gian tới.
*Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống được một số vấn đề lý luận về tham nhũng.
- Đánh giá đúng tình hình tham nhũng và kết quả hạn chế về đấu tranh
phòng chống tham nhũng ở tỉnh Thái Nguyên thời gian qua.
- Đề ra một số giải pháp nhằm góp phần tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu
quả công tác phòng chống tham nhũng của tỉnh Thái Nguyên thời gian tới.
3- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Luận văn nghiên cứu tình hình và công tác phòng chống tham nhũng
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, đánh giá thực trạng từ năm 2005 đến nay và đề
ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống tham nhũng trong
thời gian từ nay về sau. (chủ yếu đến năm 2020)
4- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan

Tham nhũng là hiện tượng mà không ai có thể phủ nhận về sự tồn tại
cũng như tính nguy hại của nó đối với xã hội. Tuy nhiên, khi nhìn nhận vấn
đề tham nhũng, không có một định nghĩa chung nhất và cụ thể về tham
nhũng. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để
nhũng nhiễu dân và lấy của”. Mặc dù được thể hiện theo những cách khác
nhau, song tham nhũng được hiểu khá thống nhất trong văn hóa pháp lý ở các
nước trên thế giới là việc lợi dụng vị trí, quyền hạn, thực hiện hành vi trái
pháp luật nhằm trục lợi cá nhân, hay nói một cách khác tham nhũng là việc sử
6
dụng hoặc chiếm đoạt bất hợp pháp công quyền hay nguồn lực tập thể. Có thể
nhận xét một cách khái quát rằng khi nói đến tham nhũng với ý nghĩa là một
khái niệm chỉ một tệ nạn xã hội hay căn bệnh của quyền lực thì nó được hiểu
khá rộng rãi so với khi đề cập đến nó như một loại hành vi vi phạm cụ thể của
công chức hay với tính cách là một loại tội phạm dưới góc độ luật pháp.
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng cuộc đấu tranh
chống tệ nạn tham nhũng và quá trình đấu tranh đó, các cơ quan có thẩm
quyền của Nhà nước cũng nêu ra nhiều dấu hiệu đặc trưng để làm căn cứ xác
định hành vi tham nhũng, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp phòng ngừa, phát
hiện và xử lý tệ tham nhũng. Những đặc trưng của hành vi tham nhũng được
xác định rõ nét trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và Bộ luật
Hình sự năm 1999. Theo Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng nêu rõ “…
Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn đó vì vụ lợi”. Các hành vi tham nhũng cụ thể cũng được nêu trong
trong Luật Phòng, chống tham nhũng và được quy định thành những tội phạm
hình sự quy định từ Điều 278 đến Điều 284 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
1.1.2- Các dấu hiệu đặc trưng của hành vi tham nhũng.
Qua việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về hành vi tham
nhũng và tội phạm tham nhũng cũng như từ thực tiễn của cuộc đấu tranh
chống tham nhũng, thì tham nhũng có những dấu hiệu đặc trưng sau:
Thứ nhất, tham nhũng phải là hành vi của những người có chức vụ,

Như vậy, chủ thể của hành vi tham nhũng không chỉ có những người có
chức vụ mà cả những người có quyền hạn nhất định, không chỉ trong thực thi
công vụ mà cả khi thi hành nhiệm vụ.
Thứ hai, khi thực hiện hành vi tham nhũng thì người có chức vụ, quyền
hạn đã có sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vi phạm pháp luật. Lợi
dụng chức vụ, quyền hạn là việc người có chức vụ, quyền hạn sử dụng vị trí
công tác, quan hệ công tác, danh nghĩa cơ quan, tổ chức mình hoặc sử dụng vị
trí công tác, ảnh hưởng của người có chức vụ, quyền hạn để thu lợi bất chính
8
hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật. Can thiệp trái pháp luật là việc làm của
người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tác động trực
tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền khi xem xét, giải quyết lợi ích cho mình hoặc cho người khác. Lợi
dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không nhất
thiết là hành vi vi phạm do họ thực hiện liên quan trực tiếp đến chức vụ,
quyền hạn đó mà có thể bao gồm cả việc lợi dụng ảnh hưởng của chức vụ,
quyền hạn hay vị trí công tác để thực hiện.
Thứ ba, hành vi tham nhũng phải có động cơ vụ lợi, nhằm “thu lợi bất
chính”. Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà
pháp luật trao cho mình để mang lại những lợi ích có tính chất cá nhân. Một
hành vi được coi là tham nhũng nhất thiết phải có yếu tố lợi ích ở trong đó, có
thể là lợi ích về vật chất, tinh thần cho mình hay cho người thân thích của
mình. Thu lợi bất chính là những lợi ích vật chất thu được từ việc lợi dụng
chức vụ, quyền hạn của mình hoặc lợi dụng ảnh hưởng của người khác.
Từ thực tiễn cuộc đấu tranh chống tham nhũng và từ những quy định về
đặc trưng của hành vi tham nhũng; Luật Phòng, chống tham nhũng những
hành vi sau đây thuộc nhóm hành vi và tội phạm tham nhũng:
1. Tham ô tài sản.
2. Nhận hối lộ.
3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

chúng ta còn tồn tại những con người như vậy thì nền kinh tế sẽ bị đẩy lùi, tài
sản của Nhà nước, của nhân dân bị chiếm đoạt, phá hoại tình đoàn kết và
quan trọng nhất là làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.
Do vậy, Đảng ta đã xác định cần tiếp thu tinh thần, tư tưởng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong đấu tranh phòng chống tệ tham nhũng, quan liêu, để mọi hành
vi vi phạm của cán bộ, công chức dù ở vị trí nào đi chăng nữa cũng đều phải
bị xử lý nghiêm minh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra bản chất của tệ quan liêu, tham
nhũng, nguồn gốc, nguyên nhân phát sinh, phát triển của tham nhũng cũng
10
như tính phức tạp của cuộc đấu tranh phòng, chống tệ nạn này. Ngay trong
quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã sử dụng diễn đàn công khai để vạch trần, lên án nạn tham nhũng trong bộ
máy chính quyền thực dân ở Việt Nam. Trong tác phẩm: “Bản án chế độ thực
dân Pháp”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết hẳn một chương về tệ nạn tham
nhũng trong bộ máy cai trị, trong đó Người vạch trần những hành vi tham
nhũng của những kẻ luôn tự xưng là “quan phụ mẫu” của dân. Người đã chỉ
ra thói phung phí tiền của dân cho việc thăm quan, triển lãm, ăn uống, tiếp
khách, giải trí, mua sắm biệt thự ; những thủ đoạn nhằm bòn rút tiền từ việc
nhận thầu các công trình xây dựng, làm đường, khai man để chi tiêu, sử dụng
của nhân viên nhà nước vào làm việc riêng. Chính thói tham lam, xa hoa vô
độ của bọn cai trị đã làm cho gánh nặng thuế khoá trên đôi vai của người dân
thuộc địa càng trĩu xuống và buộc họ phải đấu tranh lật đổ chế độ cai trị của
chủ nghĩa đế quốc, thực dân.
Sau khi Cách mạng tháng tám thành công, Người đã chỉ ra một số hành
vi tham nhũng mà công chức nhà nước đã mắc và dễ mắc phải, đó là tham ô
của công, đục khoét của dân, lợi dụng của chung, ăn hối lộ. Chỉ sau hơn một
tháng tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư gửi Uỷ ban nhân
dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng. Trong thư, Người đã nêu lên những lỗi lầm
rất nặng nề mà các nhân viên nhà nước đã phạm phải như: trái phép, cậy thế,

chúng nhân dân tiết kiệm, chống lãng phí, đồng thời Người yêu cầu mọi cán
bộ nhà nước phải rèn luyện tư tưởng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá
nhân, phải cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư. Người cho rằng “những
người trong các công sở từ làng cho đến Chính phủ Trung ương đều có nhiều
hoặc ít quyền hành, đều dễ tìm dịp phát tài hoặc xoay tiền của Chính phủ,
hoặc đục khoét nhân dân. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ
trở nên hủ hoá, biến chất sâu mọt của dân”. Bên cạnh đó, Người còn chỉ ra
rằng: “chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp
như việc đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị. Muốn
12
chống tham ô, lãng phí, quan liêu thì phải dân chủ, phê bình và tự phê bình,
làm cho mọi người biết tự phê bình mình và dám phê bình người. Phải để cho
người phụ trách thấy, để quần chúng thấy, thì tham ô, lãng phí không thể nảy
nở được”. Vì vậy, chống tham ô, lãng phí, quan liêu tốt thì những người cán
bộ trước hết phải hiểu rằng: “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết
có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì
mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được. Phải thấy kẻ địch trong mình ta
nó mạnh lắm. Nó vô hình, vô ảnh, không dàn ra thành trận, luôn luôn lẩn lút
trong mình ta. Nó khó thấy, khó biết, nên khó tránh. Nhưng đã biết thì phải
kiên quyết làm”.
Chống tham ô, lãng phí, quan liêu là cách mạng. Đi đôi với giải pháp
chỉ đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng toàn dân, toàn diện, Người kiên
quyết xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy chống tham nhũng. Ngay sau khi
mới giành được chính quyền hơn tám mươi ngày, ngày 23/11/1946 Hồ Chủ
tịch đã ký Sắc lệnh số 64 về việc thành lập Ban Thanh tra đặc biệt có quyền
“đình chỉ, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Uỷ ban nhân dân hay của
Chính phủ đã phạm lỗi trước khi mang ra Hội đồng Chính phủ hay Toà án đặc
biệt xét xử. Tịch biên hoặc niêm phong tang vật và dùng mọi cách điều tra để
lập một hồ sơ mang một phạm nhân ra Toà án đặc biệt”. Đến ngày
18/01/1949, Sắc lệnh số 138B-SL về tổ chức thanh tra Chính phủ đã quy định

trong việc giáo dục đạo đức liêm khiết của cán bộ cách mạng.
Nhìn lại lịch sử xây dựng và phát triển đất nước, việc phòng, chống
tham nhũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm nhằm giáo dục,
rèn luyện phẩm chất đạo đức cho cán bộ, công chức, xây dựng chính quyền
liêm khiết. Quan điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng chống
tham nhũng đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Vì vậy, trong cuộc quyết chiến
với quốc nạn tham nhũng, chúng ta cần thực hiện nghiệm chỉnh việc lấy “tư
tưởng Hồ Chi Minh làm kim chỉ nam cho hành động” bằng việc tiếp thu, vận
dụng một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo những tư tưởng đó trên cơ sở phù
hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống tham nhũng ở nước ta hiện nay.
14
1.2.2- Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về
phòng chống tham nhũng.
* Quan điểm chung.
Tham nhũng không những đã trở thành một hiểm hoạ trong thực tế mà
nó đã được xác định là một trong bốn nguy cơ cản trở sự nghiệp đổi mới đất
nước, nguyên nhân số một của các nguy cơ và điều đáng sợ nhất là “diễn biến
hoà bình từ nội bộ từ Đảng ta”. Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VII,
VIII và IX đều khẳng định nạn tham nhũng và tệ quan liêu là một trong bốn
nguy cơ cản trở công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, đe
doạ sự sống còn của chế độ ta. Nghị quyết đã nhấn mạnh: “Tình trạng tham
nhũng và sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, lối sống của một số bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và giảm lòng tin trong nhân dân”.
“Cần phải tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh
chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị ở các
cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở. Gắn chống tham nhũng với chống
lãng phí, quan liêu, buôn lậu, đặc biệt là chống các hành vi lợi dụng chức
quyền để làm giàu bất chính”.
Trước tình hình tham nhũng ngày càng phát triển nghiêm trọng như

quản lý nhà nước, bộ máy nhà nước cần phải có những bước cải cách căn bản.
Quá trình cải cách bộ máy chính là quá trình tự hoàn thiện để tạo điều kiện
cho nền kinh tế phát triển, đồng thời cũng chính là quá trình làm trong sạch
đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy đó, khiến cho họ thực sự là
những người công bộc trung thành của nhân dân, toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi
ích chung của đất nước, của dân tộc, dám đấu tranh với những thói hư, tật xấu
của tệ quan liêu, tham nhũng, những tư tưởng vị kỷ tư lợi.
Thứ ba, chống tham nhũng phải gắn liền với chống quan liêu, lãng phí.
Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Gắn chống tham nhũng với chống lãng
phí, quan liêu, buôn lậu, đặc biệt chống các hành vi lợi dụng chức quyền để
làm giàu bất chính”. Trong thực tế, tham nhũng, quan liêu và lãng phí thường
16
đi liền với nhau, chúng đều là biểu hiện của sự tha hoá quyền lực nhà nước.
Trong mối quan hệ khăng khít này thì quan liêu đóng vai trò như một nhân tố
tạo điều kiện phát sinh và phát triển tham nhũng cũng như lãng phí.
Thứ tư, đấu tranh chống tham nhũng phải kết hợp giữa xây và chống,
vừa tích cực phòng ngừa, vừa xử lý nghiêm mọi hành vi tham nhũng. Đấu
tranh chống tham nhũng là một quá trình tự hoàn thiện bản thân của bộ máy
nhà nước. Chống tham nhũng nhằm tìm ra những kẻ thoái hoá biến chất trong
hàng ngũ cán bộ, công chức, vạch ra những hành vi vi phạm để trừng trị là
điều hết sức quan trọng, nhưng quan trọng hơn là chúng ta tìm ra được những
khiếm khuyết của bộ máy nhà nước, để từ đó đưa ra được những giải pháp
khắc phục nhằm hoàn thiện bộ máy đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong quản lý
nhà nước ở các cấp, các ngành.
Để đảm bảo được hiệu quả của đấu tranh chống tham nhũng, trong quá
trình phát hiện và xử lý những người có hành vi tham nhũng, phải áp dụng kết
hợp các biện pháp vừa có tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa. Việc kiên
quyết xử lý không có nghĩa xử thật nặng mà phải có sự kết hợp giữa biện
pháp giáo dục chính trị tư tưởng với những biện pháp kỷ luật và pháp luật, để
đạt được mục tiêu chính là mọi hành vi vi phạm phải được xử lý kịp thời,

đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Một mặt, để bảo vệ Đảng, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, tập trung nguồn lực cho xây
dựng và bảo vệ Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, để nhắc nhở, rèn luyện
cán bộ, đảng viên nhất là những người được Đảng tin, dân mến giao cho
quyền lực nhất định trong lĩnh vực phụ trách, đồng thời cũng xử lý nghiêm
khắc đối với những người lợi dụng quyền lực để tiêu cực tham nhũng, bòn rút
tài sản Nhà nước, chiếm đoạt, vi phạm quyền làm chủ về kinh tế, xã hội của
nhân dân. Để minh chứng cho nhận định này, xin trích dẫn một số văn bản có
liên quan đến sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước ta trong cuộc đấu
tranh này.
18
Chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác
phòng, chống tham nhũng được thể hiện trong các văn bản của Đảng như:
Cương lĩnh, chiến lược, Nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy chế, quy định
của trung ương; Luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác của nhà nước.
Chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng,
chống tham nhũng được thể hiện ở nhiều văn bản khác nhau, tập trung ở
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;
Chiến lược phát triển kinh – xã hội 2011-2013; Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc, đặc biệt là các khoá 8,9,10,11. Trong đó các văn bản chuyên đề về
phòng, chống tham nhũng như:
Văn bản của trung ương
- Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 21-8-2006 của BCH Trung ương khóa
X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham
nhũng, lãng phí (gọi tắt là NQ Trung ương 3 khoá X).
- Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-5-2012 của Hội nghị TW 5 (khóa XI)
về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TW Đảng
khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống
tham nhũng, lãng phí.
- Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-01-2012 của Hội nghị lần thứ 4

- Chỉ thị số 06/CT-UBND, ngày 29-01-2008 của UBND tỉnh về tăng
cường công tác PCTN, lãng phí trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Quyết định số 2830/QĐ-UBND, ngày 18-12-2006 của UBND tỉnh về
chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp
hành TW Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
PCTN, lãng phí;
- Quyết định số 1031/QĐ-UBND, ngày 13-5-2009 của UBND tỉnh về
Bổ sung Chương trình hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành TW Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí;
20
- Quyết định số 3127/QĐ-UBND, ngày 12-12-2011 của UBND tỉnh về
chương trình hành động thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 20-10-2011 về
tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí;
- Kế hoạch số 13/KH-UBND, ngày 02-6-2009 của UBND tỉnh về kế
hoạch thực hiện Nghị định 158/2007/NĐ-CP quy định các danh mục các vị trí
công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công
chức, viên chức;
- Kế hoạch số 29/KH-UBND, ngày 10-11-2009 của UBND tỉnh về thực
hiện chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020 (2009-2011).
1.3- Tính cấp thiết – yêu cầu của thực tiễn của nhân dân về đẩy
mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng.
Chống tham nhũng là vấn đề luôn được mọi quốc gia trên thế giới quan
tâm và có sự đầu tư một cách thích đáng. Tuy nhiên tuỳ theo thể chế chính trị,
cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước, tổ chức các cơ quan điều tra, tư pháp mà
nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng được đặt ra dưới những mức
độ, tính chất, đặc điểm khác nhau.
Ở nước ta, trong sự nghiệp đổi mới và quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, hơn bao giờ hết cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng
phải được đặt vào vị trí đặc biệt quan trọng, cần tập trung đẩy mạnh với

huy vai trò tích cực của quần chúng nhân dân và các cơ quan ngôn luận, báo
chí đây là mọt yếu tố đặc biệt quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tham
nhũng. Hiệu quả hoạt động của các cơ quan này sẽ tạo thành những mũi nhọn
tấn công vào tình trạng tham nhũng, phát hiện điều tra và xử lý tội phạm tham
nhũng, loại bỏ tận gốc những phần tử thoái hóa biến chất ra khỏi hàng ngũ
của Đảng và cơ quan quản lý Nhà nước.
22
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NAY
2.1. Khái quát đặc điểm, tình hình tỉnh Thái Nguyên
2.1.1- Về điều kiện tự nhiên
Thái Nguyên là tỉnh miền núi và trung du (các huyện phía Bắc mang
tính chất đặc trưng của miền núi) với diện tích tự nhiên 3.541km
2
; dân số trên
1,1 triệu người, gồm có 08 dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Sán
Dìu, Sán Chay. Dân số tỉnh Thái Nguyên phân bố không đồng đều, vùng cao
và vùng núi mật độ dân cư thưa thớt; ở khu vực thành thị và đồng bằng dân
cư đông hơn rất nhiều. Mật độ dân số thấp nhất là huyện Võ Nhai: 75
người/km
2
, cao nhất là thành phố Thái Nguyên 1.270 người/km
2
. Sau khi tách
tỉnh (theo Quyết định của kỳ họp lần thứ 10, Quốc hội khoá IX), tỉnh Thái
Nguyên có 9 đơn vị hành chính: thành phố Thái Nguyên là trung tâm tỉnh lỵ, 01
thị xã, 07 huyện với 180 xã, phường, thị trấn; trong đó có 14 xã vùng cao, 106 xã
miền núi, còn lại là các xã thuộc vùng trung du và đồng bằng.
Tỉnh Thái Nguyên phía Bắc giáp Bắc Kạn; phía Tây giáp Vĩnh Phúc,

Hồ Chí Minh, các cơ quan Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh đặt đại bản
doanh để lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Qua các thời kỳ xây dựng và phát triển của đất nước, được Trung ương
quan tâm đầu tư xây dựng, Thái Nguyên đã trở thành một trong những trung
tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục của vùng Việt Bắc. Là vùng đất giàu tài
nguyên khoáng sản, có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp lớn của Trung ương,
là một trong những trung tâm giáo dục - đào tạo lớn của cả nước, Đại học
Thái Nguyên với 5 trường đại học thành viên và trên 20 trường cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đã góp phần quan trọng trong việc đào
tạo, bối dưỡng và cung cấp lực lượng trí thức và cán bộ khoa học kỹ thuật,
công nhân lành nghề cho tỉnh và khu vực phía Bắc.
24
Thái Nguyên còn được biết đến là một miền quê với nhiều khu du lịch
tiềm năng. Do có địa hình núi non chiếm 2/3 diện tích, đã tạo nên nhiều khu
rừng nguyên sinh và nhân tạo, nhiều hang động và thác nước đẹp như hang
Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà ( Võ Nhai), Chùa Hang (Đồng Hỷ)… Khu du
lịch sinh thái Hồ Núi Cốc với 89 hòn đảo trong lòng hồ rộng 2.500 ha mặt
nước, chạy dài 16 km dọc sườn đông Bắc dãy Tam Đảo hùng vĩ đã trở thành
thắng cảnh nổi tiếng. Khu di tích lịch sử văn hoá Thần Sa (Võ Nhai) với di
chỉ Phiêng Tung, Ngườm… thuộc trung kỳ đá cũ đã khẳng định chứng tích về
một nền văn hoá cổ nhất vùng Đông Nam Á. Nơi đây còn lưu giữ nhiều hiện
vật và dấu tích của người Việt cổ, từ trung kỳ đá cũ đến sơ kỳ đá mới (3 vạn
năm đến 1 vạn năm TCN). Thái Nguyên còn là quê hương của Anh hùng dân
tộc Dương Tự Minh, với 30 năm phụng sự nhà Lý trong thế kỷ XII, người
duy nhất trong lịch sử được hai lần phong làm Phò mã lang. Tại Đại Từ, nơi
có khu di tích núi Văn, núi Võ gắn liền với danh nhân đất Việt: Anh hùng
Lưu Nhân Chú, người chỉ huy trận đánh bại Liễu Thăng ở Ải Chi Lăng năm
xưa và trở thành tể tướng đầu tiên của nhà Lê thế kỷ XV. Tại trung tâm thành
phố Thái Nguyên hiện nay, Đền thờ Đội Cấn được xây dựng khang trang tại
nơi diễn ra sự kiện lịch sử khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917 do Đội Cấn và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status