QUAN ĐIỂM CỦA C. MÁC VÀ PH. ĂNG-GHEN
VỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Vũ Văn Hòa
Trong thế giới ngày nay quan hệ quốc tế đã thực sự trở thành vũ đài thi đua,
hợp tác và đấu tranh quyết liệt giữa các quốc gia dân tộc với thể chế kinh tế, chÝnh
trị-xã hội, hệ tư tưởng, nền văn hóa vô cùng đa dạng, vừa có điểm chung lại vừa có
khác biệt, thậm chí đối lập nhau. Hệ thống quan hệ quốc tế hiện đại ngày càng trở
nên phong phú, đa dạng, phức tạp, đòi hỏi phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để làm
rõ những đặc điểm, xu hướng, động lực vận động, phát triển của nó. Nghiên cứu,
phân tích, luận giải hệ thống QHQT luôn là một trong những nhiệm vụ cần thiết,
một trong những tiền đề, yêu cầu không thể thiếu trong quá trình hoạch định, thực
thi những chính sách, chiến lược đúng đắn, hợp thời, đảm bảo sự phát triển ổn
định, bền vững của đất nước.
Để nghiên cứu, phát hiện chính xác những đặc điểm cơ bản, xu hướng vận
động của hệ thống quan hệ giữa các quốc gia dân tộc ở bất kỳ thời điểm lịch sử
nào, người nghiên cứu cần được trang bị hệ quan điểm lý thuyết, phương pháp luận
thực sự khoa học. Học thuyết Mác-Lênin nói chung, hệ thống những quan điểm
của các nhà sáng lập học thuyết Mác về những vấn đề của thế giới, của thời đại là
hành trang không thể thiếu của giới nghiên cứu QHQT mác-xít. Nắm vững, quán
triệt, sử dụng sáng tạo công cụ này cho phép khám phá những quy luật phát triển
xã hội, giúp nhận thức đúng đắn những quá trình phức tạp của đời sống xã hội
trong nước và quốc tế, đồng thời đề xuất những kiến nghị quan trọng giúp các nhà
lãnh đạo quốc gia hoạch định, thực thi những chiến lược, chính sách phù hợp với
quy luật vận động, phát triển khách quan của thế giới.
1
Xét trên phương diện lý luận và phương pháp luận, khoa học QHQT Mác-xít
được xây dựng trên hệ thống nguyên lý triết học Mác-Lênin - chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, - kinh tế chính trị học Mác-Lênin, học
thuyết của Lênin về chủ nghĩa đế quốc, về chiến tranh hòa bình, Nắm vững, nhận
thức đầy đủ, chính xác, vận dụng sáng tạo những nguyên lý căn bản nêu trên của
học thuyết Mác-Lênin là hết sức cần thiết cho việc nghiên cứu các vấn đề QHQT ở
nguyên lý cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật. Nguyên lý này cũng trở thành
một trong những tư tưởng chỉ đạo trong khoa học QHQT Mác-xít. Cùng với sự
phát triển của lịch sử nhân loại, các quan hệ xã hội ở những lĩnh vực, cấp độ khác
nhau ngày càng gắn kết, liên hệ biện chứng chặt chẽ với nhau hơn. Tương tự như
vậy, thì hệ thống quan hệ trong nội bộ quốc gia cũng trở nên ngày càng liên quan
mật thiết, gắn kết hữu cơ với các quan hệ của quốc gia Êy và thế giới bên ngoài. Vì
vậy để hiểu đúng các quan hệ quốc tế, nhất thiết phải nghiên cứu cơ cấu nội tại của
các hình thái kinh tế-xã hội, những hiện tượng xã hội trong toàn bộ tính mâu thuẫn
và phức tạp vốn có, trong sự phát triển biện chứng của chúng. V.I. Lênin viết “Chủ
nghĩa Mác chỉ ra phương hướng nghiên cứu bao quát, toàn diện quá trình phát
sinh, phát triển và tiêu vong của các hình thái kinh tế-xã hội bằng cách xem xét
tổng thể tất cả những xu thế mâu thuẫn nhau, đặt chúng vào những điều kiện sống
và sản xuất được xác định một cách chính xác của các giai cấp khác nhau trong xã
hội, khắc phục tình trạng chủ quan và tùy tiện trong cách lựa chọn từng tư tưởng
“chủ đạo” hay trong cách lý giải chúng, đi sâu vào tận gốc rễ, không loại trừ
trường hợp nào, tất cả những tư tưởng và xu thế khác nhau trong trạng thái của các
lực lượng sản xuất vật chất”.
(3)
Khoa học QHQT mác-xít đã và đang phát triển trên cơ sở nhận thức duy vật
về tiến trình lịch sử của xã hội loài người, có lưu tâm và vận dụng những khả năng
sáng tạo to lớn mà học thuyết của các nhà kinh điển tạo nên. Các nhà sáng lập học
thuyết cách mạng của giai cấp vô sản luôn khẳng định rằng, học thuyết của họ
(3)
V.I. Lªnin, Toµn tËp, T. 26,tr. 57-58 (b¶n TiÕng Nga)
3
không đặt mục tiêu xây dựng những giáo điều vạn năng, mà chỉ đề ra những xuất
phát điểm, những nguyên lý phương pháp luận cho việc nghiên cứu tiếp theo mà
thôi. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra rằng, quan điểm biện chứng,
sáng tạo là không thể thiếu trong nghiên cứu các hiện tượng, quá trình xã hội, cần
xem xã hội như một cơ thể sống, luôn trong trạng thái phát triển không ngừng
(4)
Tổng kết lịch sử phát triển của xã hội, kinh nghiệm các cuộc Cách mạng Tư
sản ở châu Âu và Bắc Mỹ và nhất là thực tiễn phong trào cách mạng Tây Âu
những năm 40 - 50 (thế kỷ XIX) Mác và Ăng-ghen chỉ ra rằng, quần chúng nhân
dân là người sáng tạo ra lịch sử, là người làm nên lịch sử. Cụ thể hóa tư tưởng này
trong lĩnh vực QHQT có nghĩa là quần chúng nhân dân ngày càng có vai trò to lớn,
quyết định hơn đối với các tiến trình chính trị, kinh tế xã hội của thế giới.
Thực tế lịch sử cho thấy, ở giai đoạn đầu của CNTB, quần chúng nhân dân
không được thu hút vào các QHQT. Về sau họ mới bắt đầu tham gia vào các quan
hệ này, tuy chỉ với tư cách là đối tượng của các hoạt động, tiến trình chính trị thế
giới mà thôi. Giới cầm quyền ở các xã hội bóc lột, luôn tìm mọi cách ngăn cản,
không cho quần chúng nhân dân tham gia vào lĩnh vực hoạch định, thực thi chính
sách, đường lối đối ngoại. Lĩnh vực này thường bị phó thác hoàn toàn cho các nhà
ngoại giao và chính khách, những nhân vật đại diện và bảo vệ lợi Ých của giai cấp
thống trị, bóc lột. Quần chúng nhân dân hầu như bị cách ly khỏi lĩnh vực đối ngoại.
Các nhà kinh điển Mác-xít chỉ ra rằng, ở các nước tư bản những vấn đề quan trọng,
như chiến tranh, hòa bình, những vấn đề ngoại giao luôn do một nhúm thiểu số các
(4)
Xem: V.I. Lªnin, Toµn tËp, T. 49, tr. 329 (b¶n TiÕng Nga)
5
nhà tư bản giải quyết. Do vậy họ không chỉ thao túng, lừa dối dư luận xã hội mà
đôi khi còn lừa dối cả quốc hội.
Khi bàn về sù tham gia của quần chúng nhân dân vào đời sống chính trị của
từng quốc gia riêng biệt và vào các QHQT, Lênin có nhận xét, tới đầu thế kỷ XIX
lịch sử vẫn do một nhúm quý tộc và đám trí thức tư sản sáng tạo ra, trong khi quần
chúng công nông vẫn còn đang chìm đắm trong cuộc sống cùng cực, tăm tối. Do
vậy mà lúc đó lịch sử phát triển với nhịp độ vô cùng chậm chạp. Vào thời kỳ
CNTB chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi quần chúng nhân dân thực sự
tham gia “sáng tạo ra lịch sử”, thì tốc độ phát triển của xã hội đã tăng lên mạnh
mẽ.
sản và giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới. Các ông chỉ ra rằng hận thù, xung
đột giữa các dân tộc là bắt nguồn từ xung đột giai cấp. Mà xung đột giai cấp lại có
cội nguồn sâu xa từ mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất với trình độ và tính chất của
lực lượng sản xuất. Chính mâu thuẫn này là nguyên nhân, động lực thúc đẩy sự
phát triển tiến bộ của lịch sử loài người. Do vậy theo Mác và Ăng-ghen, để ngăn
chặn, loại trừ xung đột trong QHQT thì cần phải loại bỏ xung đột, mâu thuẫn giai
cấp trong nội bộ từng nước, cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Trong Tuyên
ngôn các ông viết “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc
này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp
trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời
mất theo”.
(7)
Theo Mác và Ăng-ghen, trong thời đại chủ nghĩa tư bản biện pháp chủ
yếu để giải quyết triệt để những mâu thuẫu, xung đột giai cấp, cũng như sự áp bức,
bóc lột dân tộc là làm cách mạng vô sản. Khi giai cấp vô sản làm cách mạng, giành
được chính quyền về tay mình, tiến hành xây dựng chế độ xã hội mới thì đồng thời
đã loại bỏ tất cả những điều kiện làm phát sinh không những bóc lột, áp bức giai
cấp, mà cả áp bức bóc lột dân tộc. “Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống
giai cấp tư sản, nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp, nếu giai cấp vô sản thông
qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị và với tư cách giai cấp
(7)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen, Toµn tËp, NXB CTQG, Hµ Néi, 1995, T. 4, tr. 624
7
thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ, thì đồng thời với
việc tiêu diệt những quan hệ sản xuất Êy, nó tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn
tại của sự đối kháng giai cấp”
(8)
và của sự đối kháng giữa các dân tộc. Như vậy
QHQT được Mác và Ăng-ghen xem xét, phân tích từ góc độ quan hệ giai cấp xã
hội. Xung đột quốc tế bắt nguồn từ xung đột giai cấp, do vậy để giải quyết xung
Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao
thông trở nên vô cùng tiện lợi giai cấp tư sản đã lôi cuốn đến cả những dân tộc dã
man nhất vào trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp Êy là
trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người
dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục. Nó buộc tất cả
các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản, nếu không sẽ bị tiêu diệt;
nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành
tư sản. Nói tóm lại nó tạo ra cho nó một thế giới theo hình dạng của nó.”
(9)
Như vậy theo Mác và Ăng ghen, chỉ khi chủ nghĩa tư bản giành thắng lợi,
trở thành hình thái kinh tế-xã hội chủ đạo, thì thế giới mới thực sự trở thành một hệ
thống toàn cầu bao gồm các quốc gia dân tộc liên hệ, trao đổi, phụ thuộc chặt chẽ
với nhau. Sự phát triển của lực lượng sản xuất TBCN, của quan hệ sản xuất thị
trường là yếu tố vật chất khách quan đảm bảo sự tất yếu ra đời không chỉ của các
quốc gia dân tộc, mà còn cả hệ thống thế giới nói chung. Ở đây, Mác và Ăng-ghen
đã chỉ ra tính tất yếu khách quan trong quá trình hình thành và phát triển của hệ
thống thế giới gồm các quốc gia dân tộc cũng như các quan hệ giữa các quốc gia
dân tộc Êy.
(9)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen, nh trªn, T. 4, tr. 601-602
9
Nghiờn cu lch s phỏt trin nhõn loi núi chung, lch s phỏt trin QHQT
núi riờng, Mỏc v ng-ghen khụng n thun xem quỏ trỡnh ấy nh l s thay th
ca cỏc kiu, mụ hỡnh trt t th gii, m cỏc ụng cú cỏch nhỡn tng quỏt, ton din
hn. C th cỏc ụng xem ú l s thay th ca cỏc hỡnh thỏi kinh t-xó hi. ng
thi cỏc ụng coi s phỏt trin ca hỡnh thỏi kinh t xó hi l mt quỏ trỡnh lch s
t nhiờn.
(10)
Hn th, cỏc ụng chng minh rng s thay th cỏc hỡnh thỏi kinh t-xó
hi trong lch s nhõn loi cng din ra mt cỏch tt yu, tuõn th nhng quy lut
Mỏc v ng-ghen ch ra rng, trong xó hi cú giai cp, xut phỏt t bn cht
giai cp ca nh nc, nờn chớnh sỏch i ni cng nh chớnh chớnh i ngoi ca
mi quc gia u mang tớnh giai cp. Chớnh sỏch i ngoi ca mt nc bt k
u mang tớnh giai cp, vỡ nú th hin ng li chung ca quc gia trong h thng
QHQT, vỡ nú gn bú mt thit vi chớnh sỏch i ni ca quc gia ấy. Do vy, ni
dung, phng hng chớnh sỏch i ngoi c quy nh bi bn cht ca ch
chớnh tr-xó hi ca quc gia, bi nhng mc tiờu v li ích ca giai cp cm
quyn quc gia ú. Chớnh sỏch i ngoi t mc tiờu bo m cho giai cp cm
quyn nhng iu kin quc t thun li nht thc hin li ích v t c
nhng mc tiờu giai cp. Lun im ny cú ý ngha rt quan trng, bi l nm
c thc cht ng li, chớnh sỏch i ngoi ca mt quc gia no ú, cn phi
tỡm hiu rừ xem chớnh sỏch, chin lc ú th hin ý chớ, nguyn vng ca giai cp
no, bo v cho li ích ca giai cp no. Do ú, chớnh sỏch i ngoi ca cỏc
nc XHCN khỏc v nguyờn tc so vi chớnh sỏch i ngoi ca cỏc nc t bn,
quc. Nh nc t sn luụn tỡm cỏch che y mc tiờu giai cp trong chớnh
sỏch, cng nh hot ng i ngoi bng cỏi v li ích ton dõn tc. Cũn nh
nc XHCN cụng khai tuyờn b rng chớnh sỏch i ngoi ca mỡnh l mang tớnh
giai cp c v nguyờn tc ln mc tiờu.
Chớnh sỏch i ngoi ca cỏc nc XHCN mang tớnh giai cp vỡ c s ca
nú l nhng li ích sng cũn ca CNXH, cn cú hũa bỡnh, gim cng thng, bt
gỏnh nng v trang xõy dng xó hi mi. Chớnh sỏch ú c xõy dng trờn
(11)
C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Tuyển tập, Tiếng Việt, In lần thứ hai, NXB Sự thật, Hà nội, 1970, T. 1, tr. 438-439
11
nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản và đoàn kết các dân tộc trong cuộc đấu
tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình, phát triển giữa các quốc gia trong hệ thống
quốc tế. Ý thức rõ ràng về tính đối lập trong hệ tư tưởng và thể chế chính trị xã
hội cũng như sự tất yếu tồn tại hai hệ thống xã hội: XHCN và TBCN trong thời
đại ngày nay, các nước XHCN tiến hành hoạch định và thực thi chính sách đối
ngoại, đảm bảo lợi Ých, mục tiêu của giai cấp công nhân cùng các tầng lớp nhân
(13)
Ở đây các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác
đã chỉ ra mối quan hệ mang tính phụ thuộc, thực dân chủ nghĩa trong quan hệ giữa
các quốc gia phát triển và kém phát triển, giữa phương Tây và phương Đông, đã
vạch rõ bản chất bá quyền, tham vọng thôn tính thuộc địa trong QHQT của các nhà
nước TBCN. Về sau tư tưởng này được Lênin tiếp thu phát triển thành học thuyết
Lênin về chủ nghĩa đế quốc. Tư tưởng này của Mác và Ăng-ghen được giới nghiên
cứu QHQT ở phương Tây phát triển thành trường phái lý thuyết QHQT có tên gọi
là Thuyết quan hệ phụ thuộc. Lý thuyết này được áp dụng khá rộng rãi trong các
công trình nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân những năm 50 - 70 thế kỷ XX, và
hiện nay nó được áp dụng để nghiên cứu quan hệ Bắc - Nam.
Bên cạnh những tư tưởng cơ bản nêu trên trong kho tàng di sản lý luận của
Mác và Ăng-ghen liên quan đến QHQT, còn không Ýt những luận điểm có giá trị
to lớn, như tư tưởng về tình đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản, bản chất quốc tế
của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế những tư tưởng này của Mác và Ăng-
ghen thường được trình bày rất chi tiết, đầy đủ trong những công trình liên quan
đến CNXH khoa học, Lịch sử Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nên
chuyên khảo này không đi sâu phân tích những tư tưởng đó nữa. Tác giả chỉ xin
lưu ý một điều là, những tư tưởng Êy cũng là một bộ phận cấu thành quan trọng
trong hệ thống quan điểm của Mác và Ăng-ghen về QHQT.
(13)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen, Toµn tËp, T. 4, tr. 602
13
Tóm lại, đóng góp của Mác và Ăng-ghen trong lĩnh vực khoa học QHQT
trước hết là các ông đã xây dựng một hệ thống những quan điểm lý luận,
phương pháp luận trong nghiên cứu các hiện tượng xã hội nói chung, các sự
kiện, quá trình chính trị quốc tế nói riêng. Tính phê phán trong nhìn nhận, đánh
giá, phân tích sự vật, hiện tượng, quá trình thực tiễn là một trong những đóng
góp quan trọng của Mác và Ăng-ghen đối với sự phát triển của bộ môn khoa học
QHQT. Nhiều nhà nghiên cứu QHQT đã xác nhận rằng, khoa học QHQT trong