CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG DUY RINH” CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN. Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN - Pdf 25

CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG
TÁC PHẨM “CHỐNG DUY RINH” CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN.
Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN

I. hoàn cảnh ra đời, kết cấu, đặc điểm và những tư tưởng cơ bản của tác phẩm
“chống đuy-rinh” của C. Mác và ph. ăng-ghen
1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của tác phẩm
C. Mác và Ph. Ăng-ghen viết tác phẩm “Chống Đuy-rinh” trong bối cảnh lịch
sử có những nét nổi bật là:
Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh mẽ ở châu Âu,
Bắc Mỹ và đã trở thành một hệ thống, có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Cũng trong
khoảng thời gian này, tại châu á, Nhật Bản đã tiến hành cải cách và đã đưa nước
này trở thành một trong những cường quốc tư bản. Điều đáng chú ý là, trong thời
gian đó, chủ nghĩa tư bản phát triển không chỉ bằng sức mạnh nội tại của nó mà
còn bằng sự xâm chiếm thực dân, đặt ách thống trị lên các dân tộc khác. Song song
với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp vô sản và phong trào công nhân
cũng phát triển trở thành một lực lượng quốc tế.
Trong lực lượng công nhân quốc tế thời bấy giờ, vốn đã có một bộ phận khá
lớn từng lấy chủ nghĩa Mác làm lý luận nền tảng, lại đang diễn ra quá trình nhận
thức lại chủ nghĩa Mác, trong đó có những vấn đề về thế giới quan, phương pháp
luận, đặc biệt là phương pháp luận đấu tranh cách mạng. Sau thất bại của Công xã
Pa-ri (1789), các học thuyết xét lại (Revisionism) và cơ hội (Opportunism) đã đưa
ra những nội dung giải thích mới về chủ nghĩa Mác, xa rời với những luận điểm cơ
bản của học thuyết này. Bằng việc sử dụng chiêu bài “nhân danh vì tiến bộ xã hội
và văn minh”, họ chủ trương dung hoà với trật tự của xã hội hiện tại và tìm kiếm
một cương lĩnh chính trị dựa trên sự thoả hiệp giai cấp, đã gây tác động tiêu cực
không nhỏ đến phong trào công nhân quốc tế. Tại Đức, trung tâm của phong trào
1
công nhân là Đảng dân chủ - xã hội đã được thành lập, song lại chịu sự chi phối
của khuynh hướng tư tưởng chiết trung và chủ nghĩa xã hội đạo đức, từng bị C.
Mác và Ph. Ăng-ghen phê phán.

chủ nghĩa Đuy-rinh, như: E.Béc-stanh đã tỏ thái độ hoan nghênh Đuy-rinh và đề
xuất ý định thay thế chủ nghĩa Mác bằng thứ chủ nghĩa theo quan điểm chiết trung
chính trị của Đuy-rinh, hơn thế nữa, A. Bêben, một lãnh tụ của đảng đã viết hai bài
luận văn đăng trên tờ báo “Volksstaat” (“Nhà nước nhân dân”, cơ quan ngôn luận
của trung ương Đảng dân chủ - xã hội Đức) để ca ngợi Đuy-rinh, gọi Đuy-rinh là
“người cộng sản mới”… Nhận thấy tác hại nghiêm trọng của việc truyền bá chủ
nghĩa Đuy-rinh trong phong trào công nhân và sự “tha hoá” tư tưởng ở một số
đảng viên Đảng dân chủ - xã hội Đức, V. Lípnếch - một trong những người sáng
lập và là lãnh tụ của đảng đã trực tiếp đề nghị Ph. Ăng-ghen viết bài chống lại
Đuy-rinh trên những trang báo“Volksstaat”. Để ngăn chặn khuynh hướng chia rẽ
trong nội bộ đảng và bảo vệ chủ nghĩa Mác, Ph. Ăng-ghen đã nhận và hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ vẻ vang này.
Riêng đối với C. Mác và Ph. Ăng-ghen, các ông đã thấy được việc phê phán
và vạch trần quan điểm sai lầm của Đuy-rinh là một vấn đề hệ trọng, công việc này
vốn đã được bắt đầu từ năm 1868, khi Đuy-rinh cho đăng bài có nội dung nhận xét
sai lệch và xuyên tạc nội dung tập 1 bộ “Tư bản” của C. Mác; lúc đó, Ph. Ăng-
ghen đã buộc phải gác công việc bận rộn của mình để trực tiếp đấu tranh với Đuy-
rinh. Đến tháng 10/1875, sau khi A. Bêben viết bài ca tụng Đuy-rinh và V.
Lípnếch gửi cho Ph. Ăng-ghen nội dung bút ký của A. Enxơ (vốn là một môn đồ
của Đuy-rinh, tác giả của những bài báo sàm sỡ, báng bổ kịch liệt chủ nghĩa Mác)
cùng với bài báo của I. Môxtơ có nội dung tán dương Đuy-rinh “đến mức độ thô
bỉ”, thì ngay lập tức, Ph. Ăng-ghen cho rằng cần phải công khai nêu lên quan điểm
chính kiến của chủ nghĩa Mác nhằm chống lại quan điểm sai lầm, cũng như sự
ngạo mạn của Đuy-rinh và những người theo quan điểm của ông ta. Vì thế, Ph.
3
ng-ghen ó dng mt s cụng vic quan trng, trong ú cú vic tm ngng vit
tỏc phm ni ting Bin chng ca t nhiờn thc hin ý nh ca mỡnh; qua
ú Ph. ng-ghen ó bo v v phỏt trin ch ngha Mỏc, lm cho nú tht s l th
gii quan khoa hc, cỏch mng, l cụng c nhn thc v i ca giai cp vụ sn
trong quỏ trỡnh nhn thc v ci to th gii.

thay cho các tờ báo Volksstaat (Nhà nớc nhân dân) và Neuer Sozialdemokrat (Ngời dân chủ - xã hội mới)
đã có trớc đó, theo quyết định tại Đại hội Gô-ta của Đảng này đợc tổ chức vào năm 1876.
(3)
C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.897.
4
Dựa theo bản in nguyên văn bằng tiếng Đức đã được xuất bản ở Stút-gát năm
1894 như đã đề cập ở trên, những người cách mạng Nga đã dịch sang tiếng của
mình và lần đầu tiên xuất bản tác phẩm “Chống Đuy-rinh” ở Xanh Pê-téc-bua vào
năm 1907. Sau đó, Liên Xô tiếp tục đăng tác phẩm này trong bộ “Toàn tập C. Mác
và Ph. Ăng-ghen”, tập 20, do Nhà xuất bản sách Chính trị quốc gia Liên xô xuất
bản tại Mát-xcơ-va năm 1961.
Theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
Hội đồng xuất bản toàn tập C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã dựa theo bộ sách nguyên
bản bằng tiếng Nga nói trên, dịch sang tiếng Việt và in trong bộ “Toàn tập C. Mác
và Ph. Ăng-ghen”, tập 20, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1994,
từ trang 07 đến trang 450.
Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” là một trong những tác phẩm quan trọng nhất
của chủ nghĩa Mác. Nội dung của tác phẩm bao gồm cả ba bộ phận cấu thành của
chủ nghĩa Mác: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế
chính trị học và lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học. Vì thế, quá trình nghiên cứu
triết học Mác không thể thông nghiên cứu tác phẩm cơ bản này. V.I. Lênin - lãnh
tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong những thập kỷ đầu
của thế kỷ XX cho rằng, tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của C. Mác và Ph. Ăng-ghen
là “một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích”, là một trong ba tác
phẩm “gối đầu giường” của người công nhân có tri thức và là tác phẩm kinh điển
đã đi vào kho tàng lý luận của nhân loại.
“Chống Đuy-rinh” là một công trình tổng thể nhưng không dàn trải mà chỉ tập
trung vào những vấn đề cốt lõi, trong đó có những vấn đề được giải quyết một
phần (vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề tồn tại, đạo đức, pháp quyền…), có
những vấn đề được trình bày khá hoàn chỉnh, trở thành tư tưởng có tính kinh điển

nhân quốc tế mà còn tạo nên chủ nghĩa lạc quan có cơ sở khoa học trong sinh hoạt
tinh thần của xã hội lúc đó. Lo sợ trước ảnh hưởng to lớn của tác phẩm, chính
quyền Đức đã phải ban hành một đạo lực đặc biệt để ngăn chặn việc xuất bản và
truyền bá cuốn sách “Chống Đuy-rinh” của C. Mác và Ph. Ăng-ghen vào phong
trào công nhân thế giới, đồng thời cấm lưu hành tác phẩm này ở Đức. Song, hành
(1)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.16.
(2)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.20.
6
vi cưỡng bức của chính quyền Đức không những không ngăn cản được ảnh hưởng
to lớn của tác phẩm, mà trái lại, nó càng có sức hút mạnh mẽ, làm tăng thêm sự
quan tâm của nhiều người đọc ở các nước Nga, Thuỵ Sĩ, Pháp và nhiều nước khác
ở châu Âu thời bấy giờ.
2. Kết cấu và những tư tưởng cơ bản của tác phẩm
Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của C. Mác và Ph. Ăng-ghen in trong C. Mác
và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, 444
trang, gồm lời tựa cho ba lần xuất bản (I, II, III), lời mở đầu (I: “Nhận xét chung”.
II: “Ông Đuy-rinh hứa những gì”) và ba phần chính, trình bày ba bộ phận cấu
thành của chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội
khoa học.
Trong “Lời nói đầu”, ngoài việc chứng minh sự thống nhất của ba bộ phận
cấu thành chủ nghĩa Mác và phân tích phép biện chứng duy vật, cũng như chỉ ra sự
khác nhau cơ bản giữa phép biện chứng duy vật với phép siêu hình và phép biện
chứng duy tâm của Hê-ghen; Ph. Ăng-ghen đã tóm tắt sự phát triển của triết học và
chỉ ra tính tất yếu của sự hình thành chủ nghĩa Mác. Ông đã chứng minh tính quy
luật của quá trình thay thế các thời kỳ cơ bản của lịch sử triết học: phép biện chứng
tự phát thời cổ đại - phép siêu hình thế kỷ XVII, XVIII - phép biện chứng duy tâm
của triết học cổ điển Đức - phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác. Đồng
thời, Ph. Ăng-ghen cũng chỉ ra rằng, chính sự mở rộng chủ nghĩa duy vật để tìm

c ba phn chớnh ca tỏc phm khi nú c xut bn thnh sỏch riờng, vn l hai
chng u ca phn 1, ó c C. Mỏc v Ph. ng-ghen tỏch ra k t ln xut
bn th nht.
Phn th hai: Kinh t chớnh tr hc (t trang 207 n trang 355, gm 10
chng, t chng I n chng X). Ph. ng-ghen vit phn ny t thỏng 6 n
thỏng 8/1877. Riờng chng X vit v quyn Lch s phờ phỏn do C. Mỏc trc
(1)
Nhan đề cuốn sách của C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã mỉa mai nhại lại nhan đề tác phẩm của Đuy-rinh đã đợc xuất
bản ở Muyn-sen năm 1865 Kê-ri đảo lộn học thuyết về kinh tế quốc dân và khoa học xã hội. Trong tác phẩm này,
Đuy-rinh đã tán tụng nhà kinh tế học tầm thờng Kê-ri, thầy của ông ta trong lĩnh vực kinh tế chính trị học.
8
tiếp biên soạn. Tư tưởng chính của phần này là, bên cạnh việc phân tích những vấn
đề cơ bản của kinh tế chính trị học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, thông qua
đó, C. Mác và Ph. Ăng-ghen còn nêu lên những vấn đề về triết học trong lĩnh vực
xã hội. Các chương của phần này đã được đăng tải dưới nhan đề: “Ông Đuy-rinh
đảo lộn kinh tế chính trị học”, làm phụ lục khoa học cho báo “Vorwarts” từ tháng 7
đến tháng 12/1877.
Phần thứ ba: Chủ nghĩa xã hội (từ trang 356 đến trang 450, gồm 05 chương,
từ chương I đến chương V). Ph. Ăng-ghen viết phần này từ tháng 8/1877 đến tháng
4/1878. Tư tưởng chính của phần này là, sau khi tóm tắt lịch sử và lý luận về chủ
nghĩa xã hội khoa học, Ph. Ăng-ghen đã chỉ rõ: chủ nghĩa xã hội khoa học là sự
biểu hiện về lý luận của phong trào vô sản, đồng thời, ông đã phác thảo những đặc
trưng cơ bản của chủ nghĩa cộng sản tương lai. Đứng vững trên quan điểm duy vật
biện chứng về lịch sử, Ph. Ăng-ghen đã phân tích sâu sắc mâu thuẫn giữa lực
lượng sản xuất đã được xã hội hoá cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, mâu thuẫn đó biểu hiện về mặt xã
hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản; thông qua sự phân tích
logic đó, ông cho rằng, chỉ có thể giải quyết mâu thuẫn cơ bản này bằng con đường
cách mạng vô sản. Giai cấp vô sản sử dụng bạo lực cách mạng để giành chính
quyền về tay mình, xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù

đều không ngừng phát sinh và tiêu vong. Nhưng cách nhìn ấy, dù cho nó có nắm
đúng tính chất chung của toàn bộ bức tranh về các hiện tượng, vẫn không đủ để
giải thích những chi tiết hợp thành bức tranh toàn bộ, và chừng nào chúng ta chưa
biết được các chi tiết ấy thì chúng ta chưa thể hiểu rõ được bức tranh toàn bộ ấy.
Muốn nhận thức được những chi tiết ấy, chúng ta buộc phải tách chúng ra khỏi mối
liên hệ tự nhiên hay lịch sử của chúng, và phải nghiên cứu riêng từng chi tiết một
theo đặc tính của chúng, theo nguyên nhân và kết quả riêng của chúng…”
(2)
.
(1)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.34.
(2)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.35.
10
Song song với việc đánh giá phép biện chứng cổ đại, Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra
sự đối lập giữa nó với phép siêu hình. Ông cho rằng, từ nửa cuối thế kỷ XV trở đi
thì nhân loại mới có một nền khoa học tự nhiên thật sự, bốn thế kỷ tiếp theo đó,
nhờ việc phân chia giới tự nhiên ra thành những bộ phận riêng biệt cũng như việc
nghiên cứu cấu tạo bên trong của những vật thể hữu cơ theo các hình thái giải phẫu
nhiều vẻ của nó, là những điều kiện căn bản khiến cho khoa học tự nhiên đã đạt
được những tiến bộ ngày càng nhanh chóng, thu được những thành tựu quan trọng,
đem lại cho con người hệ thống tri thức lớn về giới tự nhiên. Thế nhưng, theo Ph.
Ăng-ghen thì phương pháp nói trên của khoa học tự nhiên cũng đã đem lại cho
người ta một thói quen là xem xét những sự vật và quá trình tự nhiên trong trạng
thái biệt lập, ở ngoài mối liên hệ chung, do đó không xem xét chúng trong trạng
thái vận động mà xem xét trong trạng thái tĩnh, không coi chúng về cơ bản là biến
đổi mà coi chúng là bất biến vĩnh cửu, không xem xét chúng trong trạng thái sống
mà xem xét chúng trong trạng thái chết. Đặc biệt, khi phương pháp nhận thức ấy
được vận dụng từ khoa học tự nhiên vào triết học thì nó sẽ dẫn đến tính hạn chế
đặc thù của triết học duy vật siêu hình trong thế kỷ XVII, XVIII, mà người đầu tiên

học cổ điển Đức, đã cho thấy: C. Mác và Ph. Ăng-ghen đánh giá rất cao công lao
cống hiến của Hê-ghen trong tiến trình lịch sử triết học nói chung, lịch sử phép
biện chứng nói riêng, và trên thực tế, nhiều nội dung thuộc về phép biện chứng
được Hê-ghen trình bày đã trở thành “cái hạt nhân hợp lý” đối với sự phát triển của
tư duy triết học nhân loại, được C. Mác và Ph. Ăng-ghen trực tiếp kế thừa, hoàn
thiện. Bên cạnh đó, do chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử thời đại mình,
cho nên trong phép biện chứng Hê-ghen còn tồn tại những hạn chế cần được khắc
phục, nhất là hạn chế về mặt thế giới quan, điều này đã dẫn đến mâu thuẫn giữa hệ
thống và phương pháp triết học của ông. Đề cập đến vấn đề này, Ph. Ăng-ghen
viết: “Mặc dù Hê-ghen, cũng như Xanh-xi-mông, là một khối óc bách khoa nhất
của thời đại bấy giờ, song dù sao ông vẫn bị hạn chế, một là bởi những giới hạn
không thể tránh được của những tri thức của bản thân ông, và hai là bởi những tri
thức và những quan niệm của thời đại ông… Ngoài ra còn có thêm một điều thứ ba
nữa. Hê-ghen là một nhà duy tâm, nghĩa là đối với ông thì những tư tưởng trong
đầu óc của chúng ta không phải là những phản ánh ít nhiều trừu tượng của những
(1)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.39, 40.
12
sự vật và quá trình hiện thực, mà ngược lại, những sự vật và sự phát triển của
chúng, đối với Hê-ghen, chỉ là những phản ánh thể hiện cái “ý niệm” nào đó tồn tại
ở một nơi nào đó ngay trước khi có thế giới”
(2)
. Chính vì những hạn chế đó, cho
nên: “Mặc dù Hê-ghen đã nắm được một cách đúng đắn và thiên tài một số mối
liên hệ riêng biệt giữa các hiện tượng… Hê-ghen cũng không tránh khỏi gò ép, giả
tạo, hư cấu, tóm lại là bị xuyên tạc. Hệ thống Hê-ghen, với tính cách là một hệ
thống như vậy, là một cái thai đẻ non khổng lồ, nhưng đó cũng là cái thai đẻ non
cuối cùng trong loại của nó”
(3)
. Mặc dù có mâu thuẫn giữa hệ thống với phương

thừa “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hê-ghen với
tư cách là một tiền đề lý luận trực tiếp. Tuy nhiên phép biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mác hoàn toàn khác, thậm chí còn đối lập với nó, như C. Mác đã thừa nhận.
Trong tác phẩm này, Ph. Ăng-ghen đã khẳng định: “Có thể nói rằng, hầu như chỉ
có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học
duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử”
(2)
.
Trong chương XII và chương XIII, tính luận chiến trong sự trình bày các quan
điểm của chủ nghĩa Mác về phép biện chứng có tác dụng mở đường cho việc cụ
thể hoá các nội dung của nó. Ph. Ăng-ghen chỉ rõ, mặc dù Đuy-rinh đã “tái thiết
lại” phép biện chứng Hê-ghen bằng “phương pháp tổng quát” và “loại suy” điển
hình, song sự “tái thiết lại” ấy vẫn không che đậy được tư tưởng chống phép biện
chứng, vốn đặc trưng ở chủ nghĩa máy móc của ông ta, và cùng gắn với nó là
phương pháp siêu hình, nghĩa là “xem xét các sự vật như là đứng im và không có
sinh khí, cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếp cái
kia… không thấy được một mâu thuẫn nào trong các sự vật cả”
(1)
. Phương pháp đối
chiếu và tách biệt bên ngoài giữa các sự vật tuy có tác dụng nhất định trong đời
sống, song theo Ph. Ăng-ghen, nó sẽ tỏ ra bất lực một khi xem xét đến vấn đề vận
động, biến đổi, sự sống, sự tác động và chuyển hoá của các sự vật. Nói cách khác,
óc suy nghĩ theo cách siêu hình không thể hiểu được rằng “sự sống cũng là một
mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình”. Vì không hiểu điều
đó, nên Đuy-rinh đã từng tuyên bố phép biện chứng là “một điều thuần tuý vô
nghĩa”
(2)
.
(2)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.22.

2. Về nội dung của phép biện chứng duy vật
Song song với việc phân tích về lịch sử của của phép biện chứng, chỉ rõ bản
chất của phép biện chứng duy vật… Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, C. Mác và
Ph. Ăng-ghen đã tập trung phân tích làm nổi bật những nguyên lý, quy luật của
(3)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.187.
(4)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.176, 179.
15
phép biện chứng duy vật; đồng thời, chỉ ra tính khách quan và tính phổ biến của
những quy luật đó. Cụ thể là:
a) Nguyên lý về mối liên hệ và phát triển
Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, thông qua việc phê phán các quan điểm
sai lầm, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã đề cập nhiều đến mối liên hệ phổ biến, về vận
động và phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Quá trình
đề cập nội dung này, các ông đã chỉ ra những vấn đề bản chất của nó.
Theo quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen thì, phép biện chứng duy vật là
sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp tư duy biện
chứng và giữa lý luận nhận thức với logic biện chứng. Sự ra đời của phép biện
chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết học, là phương
pháp khác về chất so với các phương pháp tư duy trước đó; Ph. Ăng-ghen viết “…
đối với phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự
vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn
nhau giữa chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của
chúng”
(1)
. Nguyên lý về phát triển của phép biện chứng duy vật cũng phản ánh đặc
trưng phổ quát nhất của thế giới. Xét về bản chất, phép biện chứng duy vật không
chỉ khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới, mà còn xem xét các sự vật,
hiện tượng trong sự vận động và phát triển không ngừng theo những quy luật vốn

Trong tác phẩm này, lần đầu tiên, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã trình bày các
quy luật cơ bản của phép biện chứng: quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập, quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về
chất và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định (sẽ trình bày cụ thể ở phần sau).
Các quy luật này không chỉ phổ biến trong tự nhiên và xã hội, mà còn được phổ
biến cho cả quá trình nhận thức và tư duy. Sự nhận thức và tư duy luôn phản ánh
sự phát triển biện chứng của tự nhiên và xã hội. Bởi thế, Ph. Ăng-ghen đã đưa ra
định nghĩa về phép biện chứng như sau: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn
(2)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.39.
17
khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự
nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
(1)
.
a) Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, Ph. Ăng-ghen chưa phân tích nội dung cụ
thể của quy luật này, mà chỉ mới đưa ra tư tưởng về tính khách quan và tính phổ
biến của mâu thuẫn. Ông viết: “Như vậy là ở đây chúng ta có một mâu thuẫn tồn
tại một cách khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình và có thể bộc
lộ ra dưới một hình thức hữu hình”
(2)
. Để chứng minh cho tính khách quan và phổ
biến của mâu thuẫn, Ph. Ăng-ghen đã nêu bật luận điểm xuất phát, nền tảng đại ý
là: mọi sự vật đều hàm chứa mâu thuẫn bên trong, và dù nhà triết học siêu hình có
thừa nhận hay không, thì mâu thuẫn vẫn là một lực lượng có thực, khách quan;
cũng với mục đích đó, ông đã minh hoạ bằng nhiều ví dụ trong những lĩnh vực
khác nhau của quá trình nhận thức giới tự nhiên như cơ học, toán học, sinh vật
học….
Ph. Ăng-ghen còn coi vận động cũng có đặc trưng mâu thuẫn - thường xuyên

hình thức này hay hình thức khác”
(3)
.
Cũng xét về đặc trưng mâu thuẫn của sự vận động, khi phác thảo chương XII,
có tên gọi “Phép biện chứng. Lượng và chất”, Ph. Ăng-ghen cho rằng, bản thân
vận động - thuộc tính cố hữu và phương thức tồn tại của vật chất – vốn đã là một
mâu thuẫn. Ông viết: “Bản thân sự vận động đã là một mâu thuẫn; ngay như sự di
động một cách máy móc và đơn giản sở dĩ có thể thực hiện được, cũng chỉ là vì
một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác, vừa ở cùng một chỗ
lại vừa không ở chỗ đó. Sự nảy sinh thường xuyên và việc giải quyết đồng thời
mâu thuẫn này - đó cũng chính là sự vận động”
(4)
.
Ph. Ăng-ghen cho rằng, không chỉ vận động mới có đặc trưng mâu thuẫn, mà
bản thân sinh vật cũng có đặc trưng mâu thuẫn. Trên cơ sở lý giải, sự sống trước
hết chính là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là một cái
khác, ông đi đến kết luận rằng: “Như vậy, sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại
trong bản thân các sự vật và các quá trình, một mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh
và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái
chết xảy đến”
(1)
.
Mặt khác, khi bàn đến cái vô tận trong không gian và thời gian, khác với Đuy-
rinh, khi ông ta cho rằng, vô tận là cái thuật đếm chuỗi số; Ph. Ăng-ghen lại quan
niệm “vô tận” không phải là một trừu tượng trống rỗng và ông cũng đã chỉ ra mâu
(3)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.93.
(4)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.172-173.
(1)

Sau này, trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph. Ăng-ghen đã làm sâu sắc
(2)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.77.
(3)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.174.
20
thêm. Tiếp theo đó, V.I. Lênin trong “Bút ký triết học” đã phân tích quy luật này
như là hạt nhân của phép biện chứng.
b) Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi
về chất và ngược lại.
Ph. Ăng-ghen bắt đầu nêu ra quy luật này trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”
bằng các ví dụ trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, tiêu biểu là ví dụ cụ thể
được rút ra từ sự phân tích của C. Mác trong “Tư bản”. Chẳng hạn, khi nghiên cứu
quá trình hình thành tư bản, C. Mác rút ra kết luận rằng, không phải bất kỳ số tiền
nào cũng có thể chuyển thành tư bản, mà tiền đề của sự chuyển hoá đó là một số
tiền hoặc giá trị trao đổi tối thiểu nhất định trong tay người sở hữu tiền, hoặc hàng
hoá. Cũng chính từ điểm này, Ph. Ăng-ghen phê phán sự xuyên tạc của Đuy-rinh
đối với C. Mác, mà thực chất là tầm thường hoá cách hiểu về sự chuyển hoá lượng
thành chất
(1)
.
Đối lập với Đuy-rinh, Ph. Ăng-ghen không chỉ đánh giá cao sự phân tích của
Hê-ghen về “quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi
về chất và ngược lại” trong cuốn “Logic học”, mà còn nhấn mạnh rằng phép biện
chứng do C. Mác và ông xây dựng đã kế thừa và phát triển những mặt tích cực của
phép biện chứng ông ta, đã giải thích một cách duy vật nội dung đó và đưa nó vào
các quá trình hiện thực. Theo C. Mác và Ph. Ăng-ghen thì, cũng như sự thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập, quá trình chuyển hoá lượng - chất cũng mang tính
khách quan và tính phổ biến. Đề cập về vấn đề này, Ph. Ăng-ghen viết: “Chúng ta
còn có thể rút ra trong giới tự nhiên và trong đời sống xã hội loài người hàng trăm

(4)
. Ph. Ăng-
ghen cũng dẫn ra cách hiểu của Hê-ghen về điểm nút các mối quan hệ của độ, các
bước nhảy, và thông qua các ví dụ đơn giản để chứng minh cho Đuy-rinh thấy
rằng, dù Hê-ghen là nhà duy tâm, nhưng nhà duy tâm này đã xác lập cách tiếp cận
thực sự nghiêm túc và khoa học về các quá trình của thế giới dưới hình thức triển
khai các khái niệm logic. Sự tác động ngược lại của chất, làm cho lượng thay đổi,
được ví như sự tác động của một “sức mới” nào đó lên chính những yếu tố cấu
thành. Ph. Ăng-ghen viết tiếp: “… lĩnh vực sản xuất máy móc và đại công nghiệp
bàn đến vô số trường hợp thay đổi về lượng làm cho chất của sự vật biến đổi, cũng
như thay đổi về chất làm cho lượng của sự vật biến đổi”
(1)
.
Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất
và ngược lại đã chỉ rõ các thay đổi căn bản giữa lượng và chất diễn ra theo hình
thức bước nhảy, còn các bước nhảy, về phần mình, lại được chuẩn bị và được kích
thích bởi những thay đổi từ từ trước đó. Nếu đem vận dụng vào sự phát triển của
(3)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.179.
(4)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.181.
(1)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.181.
22
xã hội thì điều này cũng dễ nhận thấy, chẳng hạn, những biến đổi sâu sắc của chế
độ xã hội chỉ có thể xảy ra bằng con đường cách mạng xã hội - sự thay đổi theo
hình thức bước nhảy trong tiến trình lịch sử. Quy luật này cũng chứng tỏ, sự phát
triển gồm có hai mặt - sự thay đổi về lượng và sự biến đổi về chất chi phối lẫn
nhau, nó không thể chỉ là sự thay đổi đơn thuần về lượng hoặc về chất, mà là sự
thống nhất biện chứng của hai sự thay đổi này. Để chứng minh cho quan điểm này,

sang” của Mô-li-e, ông viết: “Từ lâu người ta đã suy nghĩ một cách biện chứng
trước khi biết biện chứng là gì, cũng như từ lâu người ta đã nói theo văn xuôi trước
khi có danh từ “văn xuôi”. Quy luật phủ định của phủ định thực hiện một cách
không có ý thức trong tự nhiên, trong lịch sử và cả trong đầu óc ta nữa, trước khi ta
nhận thức được nó. Quy luật đó, lần đầu tiên đã được Hê-ghen nêu lên một cách
nổi bật”
(2)
. Đó là lời đánh giá xác đáng về công lao lịch sử của Hê-ghen đối với
phép biện chứng. Tuy nhiên, do Hê-ghen xuất phát từ những quy định của tư duy
để khách quan hoá tự nhiên và lịch sử, nên phủ định của phủ định được xem như
khâu kết thúc (tổng hợp) của tam đoạn thức logic. Sự chật hẹp này, quả nhiên
không thể chấp nhận được, một khi đối diện với chuỗi các biến cố và các thời đại
lịch sử. Thế mà Đuy-rinh lại khẳng định rằng, nếu không dựa vào phủ định của
phủ định của Hê-ghen, thì C. Mác không có cách gì khác để chứng minh tính tất
yếu của cách mạng xã hội
(3)
.
Cũng như ở các phần trước, Ph. Ăng-ghen bắt đầu sự phân tích quy luật phủ
định của phủ định bằng việc tranh luận và bác bỏ các luận điểm của Đuy-rinh về sự
xuyên tạc học thuyết của C. Mác trong nội dung này. Điểm khác nhau căn bản giữa
C. Mác và Hê-ghen là cơ sở để phân biệt phép biện chứng duy vật với phép biện
chứng duy tâm. Đối với Hê-ghen, tư duy dành cho mình quyền thiết định toàn bộ
thực tại, đem đến cho nó ý nghĩa thông qua khái niệm đã khách quan hoá. Đối với
C. Mác, tư duy chỉ có ý nghĩa khi nó xuất phát từ thực tại khách quan, phản ánh
thực tại ấy một cách sáng tạo và hợp lý, và nếu có tưởng tượng gì đi nữa, thì thực
tại vẫn là cơ sở ban đầu, điều kiện tiên quyết của nó. Đề cập đến quan điểm khách
quan của C. Mác về nội dung này, Ph. Ăng-ghen nhấn mạnh: “Chỉ sau khi đã trình
bày xong sự chứng minh của mình về mặt kinh tế và về mặt lịch sử. Mác mới nói
tiếp “Phương thức sản xuất và chiến hữu tư bản chủ nghĩa và do đó chế độ sở hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa, là sự phủ định thứ nhất đối với chế độ sở hữu tư nhân cá

điều kiện của sự phát triển tiên tiến - nó đi từ cái cũ sang cái mới, mang ý nghĩa
tích cực trong thiên nhiên hữu cơ và cuộc sống xã hội.
Ph. Ăng-ghen đem đối lập phủ định biện chứng với quan điểm siêu hình về
phủ định, quan điểm “thủ tiêu một lần”, mang tính phá huỷ, bất chấp những điều
kiện cụ thể. Ông viết: “Phủ định trong phép biện chứng không phải chỉ có ý nghĩa
(1)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.191.
(2)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.191.
(3)
C. M¸c vµ Ph. ¡ng-ghen: S®d, 1994, t.20, tr.191-197.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status