NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA PH. ĂNGGHEN. Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - Pdf 25

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG
TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ NHIÊN” CỦA PH. ĂNG-GHEN.
Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ
NGHĨA MÁC-LÊNIN Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÁC PHẨM “BIỆN CHỨNG CỦA TỰ
NHIÊN” CỦA PH. ĂNG-GHEN
1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của tác phẩm
Trong “Lời nói đầu” của tác phẩm “Chống đuy-rinh”, ngoài việc chứng minh
sự thống nhất của ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác và phân tích phép biện
chứng duy vật, cũng như chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa phép biện chứng duy vật
với phép siêu hình và phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen; Ph. Ăng-ghen đã tóm
tắt sự phát triển của triết học và chỉ ra tính tất yếu của sự hình thành chủ nghĩa
Mác. Ông đã chứng minh tính quy luật của quá trình thay thế các thời kỳ cơ bản
của lịch sử triết học: phép biện chứng tự phát thời cổ đại - phép siêu hình thế kỷ
XVII, XVIII - phép biện chứng duy tâm của triết học cổ điển Đức - phép biện
chứng duy vật của chủ nghĩa Mác. Ngoài ra, ở phần này, Ph. Ăng-ghen cũng đánh
giá sự đóng góp của nhiều thế hệ triết gia vào sự phát triển của t duy triết học nhân
loại và cho rằng, sự phát triển của khoa học tự nhiên và thực tiễn của cuộc đấu
tranh giai cấp là điều kiện của sự phát triển triết học. (tìm xem và trích dẫn - luận
giải cho việc tác động của khoa học tự nhiên vào sự phát triển của triết học)…
Thời cổ đại và cả trung đại, khoa học tự nhiên tập trung nghiên cứu vũ trụ và
các nguyên tố cấu tạo nên vạn vật (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ - thuộc thế giới siêu vĩ
mô), triết học có yếu tố duy vật. Thời cận đại tập trung nghiên cứu thế giới vĩ mô
(các nguyên tố cụ thể, tế bào, năng lượng, nhiệt, nguyên tử…) và thời hiện đại tập
trung nghiên cứu thế giới vi mô (sóng, hạt…).
Ph. Ăng-ghen viết tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” trong bối cảnh lịch sử
có những nét nổi bật là:
1
Do tác động bởi sự thất bại của Công xã Pa-ri (1871) nên phong trào đấu tranh
của giai cấp vô sản có xu hướng chững lại; tuy nhiên, Công xã Pa-ri cũng để lại

Lút-vích Buy-sn (1824-1899) - nhà sinh lý h c và là nhà tri t h c t s n c, đ i bi u tiêu bi u c a ch ngh a duyơ ọ ế ọ ư ả Đứ ạ ể ể ủ ủ ĩ
v t t m th ng.ậ ầ ườ
(2)
Giu-li-út Rô-b c May- (1814-1878) - nhà khoa h c t nhiên l i l c ng i c, m t trong nh ng ng i đ u tiênớ ơ ọ ự ỗ ạ ườ Đứ ộ ữ ườ ầ
tìm ra “ nh lu t b o toàn và chuy n hoá n ng l ng”.Đị ậ ả ể ă ượ
(3)
Giêm-x Brê-xc t Giu-l (1818-1889) - nhà v t lý h c n i ti ng ng i Anh chuyên nghiên c u v đi n t và nhi t.ơ ố ơ ậ ọ ổ ế ườ ứ ề ệ ử ệ
(1)
Sác-l Rô-b c ác-uyn (1809-1882) - nhà khoa h c t nhiên v đ i ng i Anh.ơ ớ Đ ọ ự ĩ ạ ườ
2
theo các quy luật khách quan; M.G. Slai-đen
(2)
và T. Svan-nơ
(3)
đã phát minh ra
“Học thuyết tế bào”, học thuyết này đã chứng minh rằng, tế bào là cơ sở của kết
cấu và sự phát triển của thế giới động, thực vật, từ đó khẳng định tính thống nhất
và tính liên hệ phổ biến trong cấu trúc và phát triển của giới tự nhiên hữu cơ.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên đã làm thay đổi quan niệm siêu
hình về nhận thức giới tự nhiên, đồng thời khẳng định biện chứng khách quan của
mọi quá trình trong sự vận động và phát triển của thế giới. Thế nhưng, vào thời
điểm này, hầu hết các nhà khoa học tự nhiên vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi
phương pháp siêu hình, chưa thấy được tầm quan trọng của phương pháp tư duy
biện chứng, nên họ đã bất lực khi giải thích sự thống nhất, sự phát triển và các mối
quan hệ trong tự nhiên, chưa vượt qua được ranh giới trong nhận thức về giới tự
nhiên vô cơ và giới tự nhiên hữu cơ; điều đó đã dẫn đến cuộc đấu tranh tư tưởng
trong lĩnh vực khoa học tự nhiên diễn ra gay gắt. Vì vậy, cuộc đấu tranh chống lại
chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức trong khoa học tự nhiên vào lúc này có ý
nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ các nguyên lý triết học cơ bản của chủ nghĩa Mác.
Trên cơ sở tư tưởng về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, Ph. Ăng-ghen đã

Ăng-ghen chủ yếu tập hợp tư liệu, viết các bài báo riêng và “Lời nói đầu”; sau đó,
theo đề nghị của C. Mác, từ tháng 5/1876 đến tháng 7/1878, Ph. Ăng-ghen tạm
dừng công trình này để viết tác phẩm “Chống Đuy-rinh”. Thời kỳ thứ hai, từ tháng
7/1878 đến tháng 3/1883, Ph. Ăng-ghen hoàn thiện đề cương cụ thể của tác phẩm
tương lai, viết phần lớn các đoạn ngắn và hầu hết các chương.
Sau khi C. Mác mất, Ph. Ăng-ghen phải dừng hẳn công trình khoa học này để
tiếp tục hoàn thành nội dung và cho xuất bản các tập II, III và IV của bộ “Tư bản”
mà C. Mác viết còn dang dở, đồng thời thay C. Mác trực tiếp lãnh đạo phong trào
công nhân quốc tế. Vì thế, tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” của Ph. Ăng-ghen
chưa thực sự hoàn chỉnh, nhiều phần vẫn còn là những đoạn ngắn mới tập hợp lại.
Sau khi Ph. Ăng-ghen qua đời vào năm 1895, bản thảo “Biện chứng của tự
nhiên” nằm trong tay các lãnh tụ của Quốc tế cộng sản II, cụ thể là E. Béc-xtanh,
đã lưu giữ tác phẩm suốt 30 năm không cho xuất bản. Mãi tới năm 1925, lần đầu
tiên, tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” được chuyển sang Liên Xô và được xuất
bản bằng tiếng Nga và tiếng Đức.
4
Dựa theo bản in nguyên văn bằng tiếng Đức đã được xuất bản ở Stút-gát năm
1894 như đã đề cập ở trên, những người cách mạng Nga đã dịch sang tiếng của
mình và lần đầu tiên xuất bản tác phẩm “Chống Đuy-rinh” ở Xanh Pê-téc-bua vào
năm 1907. Sau đó, Liên Xô tiếp tục đăng tác phẩm này trong bộ “Toàn tập C. Mác
và Ph. Ăng-ghen”, tập 20, do Nhà xuất bản sách Chính trị quốc gia Liên xô xuất
bản tại Mát-xcơ-va năm 1961.
Theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,
Hội đồng xuất bản toàn tập C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã dựa theo bộ sách nguyên
bản bằng tiếng Nga nói trên, dịch sang tiếng Việt và in trong bộ “Toàn tập C. Mác
và Ph. Ăng-ghen”, tập 20, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1994,
từ trang 07 đến trang 450.
Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” là một trong những tác phẩm quan trọng nhất
của chủ nghĩa Mác. Nội dung của tác phẩm bao gồm cả ba bộ phận cấu thành của
chủ nghĩa Mác: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế

.
Thông qua tranh luận với Đuy-rinh về hàng loạt vấn đề triết học, kinh tế chính trị,
chủ nghĩa xã hội, tác phẩm đã có tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh vạch trần
các quan điểm sai trái của vị giáo sư này và một số đảng viên Đảng dân chủ - xã
hội Đức. Vì vậy, tác phẩm “Chống Đuy-rinh” không chỉ có ý nghĩa là kết quả trực
tiếp của cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận trong Đảng dân chủ - xã hội Đức mà còn
là sự trình bày chủ nghĩa Mác đầy đủ nhất, rõ ràng nhất. Không những thế, “Chống
Đuy-rinh” còn đóng góp lớn về mặt lý luận trong quá trình tuyên truyền, giác ngộ
chủ nghĩa Mác cho phong trào công nhân quốc tế và các phong trào đấu tranh vì
dân sinh, dân chủ và công bằng xã hội. Những vấn đề được nêu ra và giải quyết
trong tác phẩm không chỉ đóng vai trò định hướng lý luận đối với phong trào công
nhân quốc tế mà còn tạo nên chủ nghĩa lạc quan có cơ sở khoa học trong sinh hoạt
tinh thần của xã hội lúc đó. Lo sợ trước ảnh hưởng to lớn của tác phẩm, chính
quyền Đức đã phải ban hành một đạo lực đặc biệt để ngăn chặn việc xuất bản và
truyền bá cuốn sách “Chống Đuy-rinh” của C. Mác và Ph. Ăng-ghen vào phong
trào công nhân thế giới, đồng thời cấm lưu hành tác phẩm này ở Đức. Song, hành
vi cưỡng bức của chính quyền Đức không những không ngăn cản được ảnh hưởng
to lớn của tác phẩm, mà trái lại, nó càng có sức hút mạnh mẽ, làm tăng thêm sự
(1)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.Ă
(2)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.20.Ă
6
quan tâm của nhiều người đọc ở các nước Nga, Thuỵ Sĩ, Pháp và nhiều nước khác
ở châu Âu thời bấy giờ.
2. Kết cấu và những tư tưởng cơ bản của tác phẩm
Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của C. Mác và Ph. Ăng-ghen in trong C. Mác
và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, 444
trang, gồm lời tựa cho ba lần xuất bản (I, II, III), lời mở đầu (I: “Nhận xét chung”.
II: “Ông Đuy-rinh hứa những gì”) và ba phần chính, trình bày ba bộ phận cấu

Ph. Ăng-ghen đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Các
chương IX, X, XI, Ph. Ăng-ghen tập trung bàn về các vấn đề đạo đức và pháp
quyền, phê phán Đuy-rinh về quan điểm “chân lý vĩnh cửu”, bình đẳng, tự do và
tất yếu. Trong chương XII và XIII, Ph. Ăng-ghen trình bày các quy luật cơ bản của
phép biện chứng duy vật. Trong chương XIV, Ph. Ăng-ghen trình bày khái quát
những kết luận chung.
Hầu hết các chương ở phần Triết học đã được C. Mác và Ph. Ăng-ghen cho
công bố trên tạp chí “Vorwarts” theo hình thức những bài báo, dưới nhan đề: “Ông
Đuy-rinh đảo lộn triết học”
(1)
từ tháng 01 đến tháng 5/1877. Lời mở đầu chung cho
cả ba phần chính của tác phẩm khi nó được xuất bản thành sách riêng, vốn là hai
chương đầu của phần 1, đã được C. Mác và Ph. Ăng-ghen tách ra kể từ lần xuất
bản thứ nhất.
Phần thứ hai: Kinh tế chính trị học (từ trang 207 đến trang 355, gồm 10
chương, từ chương I đến chương X). Ph. Ăng-ghen viết phần này từ tháng 6 đến
tháng 8/1877. Riêng chương X viết về quyển “Lịch sử phê phán” do C. Mác trực
tiếp biên soạn. Tư tưởng chính của phần này là, bên cạnh việc phân tích những vấn
đề cơ bản của kinh tế chính trị học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, thông qua
đó, C. Mác và Ph. Ăng-ghen còn nêu lên những vấn đề về triết học trong lĩnh vực
xã hội. Các chương của phần này đã được đăng tải dưới nhan đề: “Ông Đuy-rinh
(1)
Nhan đ cu n sách c a C. Mác và Ph. ng-ghen đã m a mai nh i l i nhan đ tác ph m c a uy-rinh đã đ c xu tề ố ủ Ă ỉ ạ ạ ề ẩ ủ Đ ượ ấ
b n Muyn-sen n m 1865 “Kê-ri đ o l n h c thuy t v kinh t qu c dân và khoa h c xã h i”. Trong tác ph m này,ả ở ă ả ộ ọ ế ề ế ố ọ ộ ẩ
uy-rinh đã tán t ng nhà kinh t h c t m th ng Kê-ri, th y c a ông ta trong l nh v c kinh t chính tr h c.Đ ụ ế ọ ầ ườ ầ ủ ĩ ự ế ị ọ
8
đảo lộn kinh tế chính trị học”, làm phụ lục khoa học cho báo “Vorwarts” từ tháng 7
đến tháng 12/1877.
Phần thứ ba: Chủ nghĩa xã hội (từ trang 356 đến trang 450, gồm 05 chương,
từ chương I đến chương V). Ph. Ăng-ghen viết phần này từ tháng 8/1877 đến tháng

Đề cập đến phép biện chứng cổ đại, Ph. Ăng-ghen cho rằng: “Những nhà triết
học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và A-ri-xtốt bộ
óc bách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thức
căn bản nhất của tư duy biện chứng”
(1)
. Về mặt giá trị, Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra tính
tích cực và mặt hạn chế của phương pháp biện chứng trên cơ sở phỏng đoán của
thời kỳ này, ông viết: “Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất
thì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã
được Hê-ra-clít trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại
không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật
đều không ngừng phát sinh và tiêu vong. Nhưng cách nhìn ấy, dù cho nó có nắm
đúng tính chất chung của toàn bộ bức tranh về các hiện tượng, vẫn không đủ để
giải thích những chi tiết hợp thành bức tranh toàn bộ, và chừng nào chúng ta chưa
biết được các chi tiết ấy thì chúng ta chưa thể hiểu rõ được bức tranh toàn bộ ấy.
Muốn nhận thức được những chi tiết ấy, chúng ta buộc phải tách chúng ra khỏi mối
liên hệ tự nhiên hay lịch sử của chúng, và phải nghiên cứu riêng từng chi tiết một
theo đặc tính của chúng, theo nguyên nhân và kết quả riêng của chúng…”
(2)
.
Song song với việc đánh giá phép biện chứng cổ đại, Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra
sự đối lập giữa nó với phép siêu hình. Ông cho rằng, từ nửa cuối thế kỷ XV trở đi
thì nhân loại mới có một nền khoa học tự nhiên thật sự, bốn thế kỷ tiếp theo đó,
nhờ việc phân chia giới tự nhiên ra thành những bộ phận riêng biệt cũng như việc
nghiên cứu cấu tạo bên trong của những vật thể hữu cơ theo các hình thái giải phẫu
nhiều vẻ của nó, là những điều kiện căn bản khiến cho khoa học tự nhiên đã đạt
được những tiến bộ ngày càng nhanh chóng, thu được những thành tựu quan trọng,
đem lại cho con người hệ thống tri thức lớn về giới tự nhiên. Thế nhưng, theo Ph.
(1)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.34.Ă

thân loài người, và nhiệm vụ của tư duy hiện nay là phải theo dõi bước tiến tuần tự
của quá trình ấy qua tất cả những khúc quanh co của nó và chứng minh tính quy
luật bên trong của nó qua tất cả những cái ngẫu nhiên bề ngoài. Việc Hê-ghen
(1)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.36.Ă
11
không giải quyết được nhiệm vụ ấy, thì điều đó ở đây đối với chúng ta không quan
trọng gì. Công lao lịch sử của ông ta là đã đề ra nhiệm vụ ấy”
(1)
.
Nhận định trên của Ph. Ăng-ghen về phép biện chứng của Hê-ghen trong triết
học cổ điển Đức, đã cho thấy: C. Mác và Ph. Ăng-ghen đánh giá rất cao công lao
cống hiến của Hê-ghen trong tiến trình lịch sử triết học nói chung, lịch sử phép
biện chứng nói riêng, và trên thực tế, nhiều nội dung thuộc về phép biện chứng
được Hê-ghen trình bày đã trở thành “cái hạt nhân hợp lý” đối với sự phát triển của
tư duy triết học nhân loại, được C. Mác và Ph. Ăng-ghen trực tiếp kế thừa, hoàn
thiện. Bên cạnh đó, do chịu sự quy định của những điều kiện lịch sử thời đại mình,
cho nên trong phép biện chứng Hê-ghen còn tồn tại những hạn chế cần được khắc
phục, nhất là hạn chế về mặt thế giới quan, điều này đã dẫn đến mâu thuẫn giữa hệ
thống và phương pháp triết học của ông. Đề cập đến vấn đề này, Ph. Ăng-ghen
viết: “Mặc dù Hê-ghen, cũng như Xanh-xi-mông, là một khối óc bách khoa nhất
của thời đại bấy giờ, song dù sao ông vẫn bị hạn chế, một là bởi những giới hạn
không thể tránh được của những tri thức của bản thân ông, và hai là bởi những tri
thức và những quan niệm của thời đại ông… Ngoài ra còn có thêm một điều thứ ba
nữa. Hê-ghen là một nhà duy tâm, nghĩa là đối với ông thì những tư tưởng trong
đầu óc của chúng ta không phải là những phản ánh ít nhiều trừu tượng của những
sự vật và quá trình hiện thực, mà ngược lại, những sự vật và sự phát triển của
chúng, đối với Hê-ghen, chỉ là những phản ánh thể hiện cái “ý niệm” nào đó tồn tại
ở một nơi nào đó ngay trước khi có thế giới”
(2)

đó
(1)
. Vì thế, điều cần thiết, theo Ph. Ăng-ghen là phải rà soát lại lịch sử phép biện
chứng trong đó có phép biện chứng Hê-ghen, để từ điểm xuất phát này xác lập
hình thức hiện đại của phép biện chứng - phép biện chứng duy vật.
Như vậy, việc chỉ ra bản chất “sai lầm” của chủ nghĩa duy tâm Đức, cũng như
mặt tích cực và mặt hạn chế của nó là con đường đưa C. Mác và Ph. Ăng-ghen đến
với chủ nghĩa duy vật. Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác ra đời có sự kế
thừa “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hê-ghen với
tư cách là một tiền đề lý luận trực tiếp. Tuy nhiên phép biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mác hoàn toàn khác, thậm chí còn đối lập với nó, như C. Mác đã thừa nhận.
Trong tác phẩm này, Ph. Ăng-ghen đã khẳng định: “Có thể nói rằng, hầu như chỉ
có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học
duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử”
(2)
.
(1)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.21, tr.391-451.Ă
(2)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.22.Ă
13
Trong chương XII và chương XIII, tính luận chiến trong sự trình bày các quan
điểm của chủ nghĩa Mác về phép biện chứng có tác dụng mở đường cho việc cụ
thể hoá các nội dung của nó. Ph. Ăng-ghen chỉ rõ, mặc dù Đuy-rinh đã “tái thiết
lại” phép biện chứng Hê-ghen bằng “phương pháp tổng quát” và “loại suy” điển
hình, song sự “tái thiết lại” ấy vẫn không che đậy được tư tưởng chống phép biện
chứng, vốn đặc trưng ở chủ nghĩa máy móc của ông ta, và cùng gắn với nó là
phương pháp siêu hình, nghĩa là “xem xét các sự vật như là đứng im và không có
sinh khí, cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếp cái
kia… không thấy được một mâu thuẫn nào trong các sự vật cả”

(3)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.187.Ă
(4)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.176, 179.Ă
14
Tóm lại, trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã trình
bày một cách có hệ thống về lịch sử của phép biện chứng, xem sự ra đời của phép
biện chứng như là tất yếu khách quan, là sản phẩm của khoa học tự nhiên, khoa
học xã hội và khả năng tư duy con người phát triển đến một mức độ nhất định. Bên
cạnh đó, C. Mác và Ph. Ăng-ghen cũng chỉ rõ sự đối lập giữa phép biện chứng với
phép siêu hình, nêu lên sự khác nhau, thậm chí đối lập nhau giữa phép biện chứng
duy vật của chủ nghĩa Mác với phép biện chứng duy tâm khách quan của Hê-ghen;
đồng thời, các ông đã chỉ ra bản chất của phép biện chứng duy vật và khẳng định
đó là phương pháp tư duy khoa học, có khả năng đem lại cho con người tính tự
giác cao trong hoạt động thực tiễn.
2. Về nội dung của phép biện chứng duy vật
Song song với việc phân tích về lịch sử của của phép biện chứng, chỉ rõ bản
chất của phép biện chứng duy vật… Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, C. Mác và
Ph. Ăng-ghen đã tập trung phân tích làm nổi bật những nguyên lý, quy luật của
phép biện chứng duy vật; đồng thời, chỉ ra tính khách quan và tính phổ biến của
những quy luật đó. Cụ thể là:
a) Nguyên lý về mối liên hệ và phát triển
Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, thông qua việc phê phán các quan điểm
sai lầm, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã đề cập nhiều đến mối liên hệ phổ biến, về vận
động và phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Quá trình
đề cập nội dung này, các ông đã chỉ ra những vấn đề bản chất của nó.
Theo quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen thì, phép biện chứng duy vật là
sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp tư duy biện
chứng và giữa lý luận nhận thức với logic biện chứng. Sự ra đời của phép biện
chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết học, là phương

hiểu như là khoa học về mối liên hệ phổ biến. Nghiên cứu những mối liên hệ, phép
biện chứng vạch ra những quy luật phổ biến, mà theo đó, mọi vận động và phát
triển được thực hiện, bởi lẽ, các quy luật trước hết là những mối liên hệ nhất định.
Ph. Ăng-ghen còn nhìn nhận phép biện chứng như là khoa học về các quy luật
chung nhất của vận động và ông cho rằng, các quy luật của phép biện chứng khác
với các quy luật của các khoa học cụ thể; các quy luật chung nhất của sự vận động
(1)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.38.Ă
(2)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.39.Ă
16
thể hiện ở tất cả các lĩnh vực của thực tiễn, các hình thức vận động của vật chất,
cũng như các quá trình nói chung.
Trong tác phẩm này, lần đầu tiên, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã trình bày các
quy luật cơ bản của phép biện chứng: quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập, quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về
chất và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định (sẽ trình bày cụ thể ở phần sau).
Các quy luật này không chỉ phổ biến trong tự nhiên và xã hội, mà còn được phổ
biến cho cả quá trình nhận thức và tư duy. Sự nhận thức và tư duy luôn phản ánh
sự phát triển biện chứng của tự nhiên và xã hội. Bởi thế, Ph. Ăng-ghen đã đưa ra
định nghĩa về phép biện chứng như sau: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn
khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự
nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
(1)
.
a) Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, Ph. Ăng-ghen chưa phân tích nội dung cụ
thể của quy luật này, mà chỉ mới đưa ra tư tưởng về tính khách quan và tính phổ
biến của mâu thuẫn. Ông viết: “Như vậy là ở đây chúng ta có một mâu thuẫn tồn
tại một cách khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình và có thể bộc

quan điểm biện chứng, tất cả sự đối lập ấy, như chúng ta đã thấy, đều chỉ là tương
đối; không có thể tĩnh tuyệt đối, không có sự thăng bằng vô điều kiện. Vận động
riêng biệt thì có xu hướng thăng bằng, song vận động toàn thể thì lại loại trừ sự
thăng bằng. Cho nên, thể tĩnh và thể thăng bằng ở nơi nào chúng diễn ra thì đều là
kết quả của một vận động có hạn nào đó, và hiển nhiên là vận động ấy có thể đo
được bằng kết quả của nó… và đi từ kết quả ấy có thể được phục hồi lại nó dưới
hình thức này hay hình thức khác”
(3)
.
Cũng xét về đặc trưng mâu thuẫn của sự vận động, khi phác thảo chương XII,
có tên gọi “Phép biện chứng. Lượng và chất”, Ph. Ăng-ghen cho rằng, bản thân
vận động - thuộc tính cố hữu và phương thức tồn tại của vật chất – vốn đã là một
mâu thuẫn. Ông viết: “Bản thân sự vận động đã là một mâu thuẫn; ngay như sự di
động một cách máy móc và đơn giản sở dĩ có thể thực hiện được, cũng chỉ là vì
một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác, vừa ở cùng một chỗ
lại vừa không ở chỗ đó. Sự nảy sinh thường xuyên và việc giải quyết đồng thời
mâu thuẫn này - đó cũng chính là sự vận động”
(4)
.
Ph. Ăng-ghen cho rằng, không chỉ vận động mới có đặc trưng mâu thuẫn, mà
bản thân sinh vật cũng có đặc trưng mâu thuẫn. Trên cơ sở lý giải, sự sống trước
hết chính là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nó nhưng lại vừa là một cái
(1)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.172.Ă
(2)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.173.Ă
(3)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.93.Ă
(4)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.172-173.Ă

Tính khách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn đã được Ph. Ăng-ghen
chứng minh bằng sự phát triển lâu dài, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,
từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; nó diễn ra trong tự nhiên, trong đời sống và
trong tư duy như đã nêu trên. Điều đó chứng tỏ rằng, mâu thuẫn là điều kiện tiên
(1)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.173-174.Ă
(2)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.77.Ă
(3)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.174.Ă
19
quyết của vận động và phát triển, nếu không có mâu thuẫn thì sẽ không có sự vật
nào tồn tại. Nói tóm lại, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong
tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của C. Mác và Ph. Ăng-ghen chưa nêu lên nội dung
cụ thể mà mới chỉ làm sáng tỏ tính khách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn.
Sau này, trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph. Ăng-ghen đã làm sâu sắc
thêm. Tiếp theo đó, V.I. Lênin trong “Bút ký triết học” đã phân tích quy luật này
như là hạt nhân của phép biện chứng.
b) Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi
về chất và ngược lại.
Ph. Ăng-ghen bắt đầu nêu ra quy luật này trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”
bằng các ví dụ trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, tiêu biểu là ví dụ cụ thể
được rút ra từ sự phân tích của C. Mác trong “Tư bản”. Chẳng hạn, khi nghiên cứu
quá trình hình thành tư bản, C. Mác rút ra kết luận rằng, không phải bất kỳ số tiền
nào cũng có thể chuyển thành tư bản, mà tiền đề của sự chuyển hoá đó là một số
tiền hoặc giá trị trao đổi tối thiểu nhất định trong tay người sở hữu tiền, hoặc hàng
hoá. Cũng chính từ điểm này, Ph. Ăng-ghen phê phán sự xuyên tạc của Đuy-rinh
đối với C. Mác, mà thực chất là tầm thường hoá cách hiểu về sự chuyển hoá lượng
thành chất
(1)

chính là điều kiện cần thiết và cũng là phương thức kết hợp chuyển hoá lẫn nhau
giữa lượng và chất. Chứng minh cho quan điểm này, Ph. Ăng-ghen đã đưa ra hàng
loạt ví dụ, tiêu biểu như: “… dưới áp suất của không khí bình thường, ở 0 độ C,
nước từ trạng thái lỏng chuyển sang trạng thái rắn, và ở 100 độ C thì từ trạng thái
lỏng chuyển sang trạng thái hơi, thành ra ở hai điểm ngoặt đó, sự thay đổi giản đơn
về lượng của nhiệt độ đưa tới sự thay đổi về chất trạng thái của nước”
(4)
. Ph. Ăng-
ghen cũng dẫn ra cách hiểu của Hê-ghen về điểm nút các mối quan hệ của độ, các
bước nhảy, và thông qua các ví dụ đơn giản để chứng minh cho Đuy-rinh thấy
rằng, dù Hê-ghen là nhà duy tâm, nhưng nhà duy tâm này đã xác lập cách tiếp cận
thực sự nghiêm túc và khoa học về các quá trình của thế giới dưới hình thức triển
khai các khái niệm logic. Sự tác động ngược lại của chất, làm cho lượng thay đổi,
được ví như sự tác động của một “sức mới” nào đó lên chính những yếu tố cấu
thành. Ph. Ăng-ghen viết tiếp: “… lĩnh vực sản xuất máy móc và đại công nghiệp
bàn đến vô số trường hợp thay đổi về lượng làm cho chất của sự vật biến đổi, cũng
như thay đổi về chất làm cho lượng của sự vật biến đổi”
(1)
.
(1)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.181.Ă
(2)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.183.Ă
(3)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.179.Ă
(4)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.181.Ă
(1)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.181.Ă
21

C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.184.Ă
22
Phê phán Đuy-rinh, “khi ông ta quyết đoán rằng phủ định cái phủ định là một
loại suy kỳ quái do Hê-ghen sáng chế ra, lấy trong lĩnh vực tôn giáo và xây dựng
trên lịch sử của tội tổ tông và của sự chuộc tội”
(1)
; Ph. Ăng-ghen đã lý giải vấn đề
này thông qua viện dẫn một đoạn nổi tiếng trong vở hài kịch “Trưởng giả học làm
sang” của Mô-li-e, ông viết: “Từ lâu người ta đã suy nghĩ một cách biện chứng
trước khi biết biện chứng là gì, cũng như từ lâu người ta đã nói theo văn xuôi trước
khi có danh từ “văn xuôi”. Quy luật phủ định của phủ định thực hiện một cách
không có ý thức trong tự nhiên, trong lịch sử và cả trong đầu óc ta nữa, trước khi ta
nhận thức được nó. Quy luật đó, lần đầu tiên đã được Hê-ghen nêu lên một cách
nổi bật”
(2)
. Đó là lời đánh giá xác đáng về công lao lịch sử của Hê-ghen đối với
phép biện chứng. Tuy nhiên, do Hê-ghen xuất phát từ những quy định của tư duy
để khách quan hoá tự nhiên và lịch sử, nên phủ định của phủ định được xem như
khâu kết thúc (tổng hợp) của tam đoạn thức logic. Sự chật hẹp này, quả nhiên
không thể chấp nhận được, một khi đối diện với chuỗi các biến cố và các thời đại
lịch sử. Thế mà Đuy-rinh lại khẳng định rằng, nếu không dựa vào phủ định của
phủ định của Hê-ghen, thì C. Mác không có cách gì khác để chứng minh tính tất
yếu của cách mạng xã hội
(3)
.
Cũng như ở các phần trước, Ph. Ăng-ghen bắt đầu sự phân tích quy luật phủ
định của phủ định bằng việc tranh luận và bác bỏ các luận điểm của Đuy-rinh về sự
xuyên tạc học thuyết của C. Mác trong nội dung này. Điểm khác nhau căn bản giữa
C. Mác và Hê-ghen là cơ sở để phân biệt phép biện chứng duy vật với phép biện
chứng duy tâm. Đối với Hê-ghen, tư duy dành cho mình quyền thiết định toàn bộ

này
(3)
.
Sự phủ định diễn ra bởi sự phát triển tự nhiên của quá trình, sự hoạt động
mang tính chất quy luật vốn có của nó, chứ không phải bởi sự can thiệp của lực
lượng bên ngoài xa lạ. Phủ định không chấm dứt sự phát triển, ngược lại, là điều
kiện của nó và diễn ra dưới hình thức được xác định bởi bản chất của quá trình đó.
Tất cả những gì hợp lý, hữu ích từ giai đoạn phát triển trước đó chuyển vào giai
đoạn mới và tiếp tục phát triển theo hình thức mới. Sự phủ định biện chứng, một
khi bác bỏ cái cũ lỗi thời và giữ lại các thành tựu tiến bộ của thời đại trước sẽ là
điều kiện của sự phát triển tiên tiến - nó đi từ cái cũ sang cái mới, mang ý nghĩa
tích cực trong thiên nhiên hữu cơ và cuộc sống xã hội.
Ph. Ăng-ghen đem đối lập phủ định biện chứng với quan điểm siêu hình về
phủ định, quan điểm “thủ tiêu một lần”, mang tính phá huỷ, bất chấp những điều
kiện cụ thể. Ông viết: “Phủ định trong phép biện chứng không phải chỉ có ý nghĩa
(1)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.191.Ă
(2)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.191.Ă
(3)
C. Mác và Ph. ng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.191-197.Ă
24
giản đơn là nói: không, hoặc giả tuyên bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá
huỷ sự vật ấy theo một cách nào đó”
(1)
.
Cũng ở đây, Ph. Ăng-ghen nói đến tính khuynh hướng và tính thường xuyên
lặp lại của phát triển, sự phủ định không phải một lần, mà nhiều lần, gắn với bản
chất và quá trình sự vật - phủ định của phủ định. Điều này chứng tỏ phủ định
không diễn ra theo đường thẳng. Cùng với sự vận động về phía trước vẫn có thể

25

Trích đoạn NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH TRONG LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status