CUỘC ĐẤU TRANH CỦA HAI PHE CHỦ CHIẾN - CHỦ HÒA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC (1858 – 1888)_4 - Pdf 19

CUỘC ĐẤU TRANH CỦA HAI PHE CHỦ
CHIẾN - CHỦ HÒA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP
XÂM LƯỢC (1858 – 1888)

Chiếm xong 3 tỉnh miền Đông, Pháp mở rộng đánh chiếm ba tỉnh miền
Tây Nam Kỳ. Sáng ngày 20/6/1867, Pháp cho quân dàn trận trước thành
Vĩnh Long đưa tối hậu thư đòi Phan Thanh Giản nộp thành. Kết quả là
Phan Thanh Giản nộp thành Vĩnh Long cho Pháp và còn ra lệnh cho các
quan cầm đồn 2 tỉnh còn lại ở miền Tây cũng phải nộp thành theo lệnh
của Pháp ngày 24/6/1867 mà không có sự chống cự nào.

Lấy xong 3 tỉnh miền Tây, thực dân Pháp cho người ra Huế báo sự việc
đã rồi. Triều đình không hề phản ứng, mà chỉ xin đổi 3 tỉnh miền Tây
mới mất để lấy lại tỉnh Biên Hoà nhưng không được Pháp chấp nhận.
Còn Phan Thanh Giản thì uống thuốc độc tự vẫn vì lo sợ trách nhiệm với
triều đình.

Nhưng tại sao Phan Thanh Giản lại nộp thành nhanh như vậy? Sự thật
thì khi giao nộp thành cho Pháp ông không chỉ hành động theo ý mình
mà đã làm đúng ý Viện Cơ mật của triều đình. Như vậy, nguyên nhân để
mất thành của Phan Thanh Giản là một phần bị chi phối bởi tư tưởng
chủ hoà của triều đình, không có một đường lối minh bạch cho tình thế
nước ta lúc đó.

Trong thời kỳ này, phe chủ hoà với sự hậu thuẫn của Tự Đức vẫn đang
chiếm ưu thế. Về phía phe chủ chiến dưới sự lãnh đạo của Tôn Thất
Thuyết đang bí mật bố trí trận địa kinh thành Huế để chuẩn bị ngày đối
phó với giặc Pháp.

Sau khi để mất ba tỉnh miền Tây, phong trào kháng chiến trong nhân

hại cho ta. Triều đình Huế chính thức thừa nhận chính quyền của Pháp
ở cả 6 tỉnh Nam Kỳ, nền ngoại giao Việt Nam lệ thuộc Pháp. Phần đất
còn lại bị Pháp chi phối cả nội trị và ngoại giao.

Không thực hiện được đầy đủ âm mưu xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất,
thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị tiến công ra Hà Nội lần thứ hai vào năm
1882. Lấy cớ triều đình Pháp vi phạm hiệp ước 1874, chính phủ Pháp
tăng cường quân đội cho Bắc kỳ. Chủ chương của thực dân Pháp lúc
này là sự suy yếu của triều đình Huế để dùng lực lượng quân sự làm áp
lực buộc phải công nhận nền bảo hộ Pháp trong cả nước.

Chủ trương của triều đình Huế lần này cũng không khác gì lần trước.
Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu một mặt tích cực tổ chức phòng thủ, mặt
khác cấp báo về Huế, xin tăng viện. Kết quả là triều đình không tán
thành, cho phòng thủ như vậy là không phải lúc, địch sẽ lấy cớ gây sự
thêm.

Sau khi chiếm thành Hà Nội lần thứ 2, thừa cơ triều đình Huế tự hãm
mình trong thế bị động, thương thuyết, quân Pháp mở rộng đánh
chiếm nhiều tỉnh vùng đồng bằng. Nhưng ngay từ ngày đầu đánh
chiếm, quân Pháp gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ của quân dân Hà
Nội và khắp nơi ở Bắc Kỳ. Tiêu biểu là trận Cầu Giấy lần thứ 2
(19/5/1883). Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ 2 làm cho quân dân cả nước
vô cùng phấn khởi, sẵn sàng xông lên tiêu diệt địch. Nghĩa quân các nơi
quy tụ ngày càng đông dưới ngọn cờ chống Pháp của các quan lại chủ
chiến. Trong khi đó triều đình Huế vẫn tiếp tục hãm mình trong thế bị
động thương thuyết, hạ lệnh triệt hết quân để tỏ rõ tín nghĩa với quân
Pháp và với hoà ước Giáp Tuất (1874).

Về phía Pháp, lợi dụng thời cơ thuận lợi nên đã đẩy mạnh ý đồ xâm


Chớp thời cơ thuận lợi, triều đình Huế đang rối ren khi vua Tự Đức qua
đời, Pháp đánh thẳng vào Huế buộc triều đình đầu hàng. Sáng ngày
18/8/1883, hạm đội Pháp do đô đốc Courbet (Cuốc bê) chỉ huy tiến vào
cửa biển Thuận An đưa tối hậu thư buộc triều đình dao tất cả các pháo
đài phòng thủ bờ biển cho chúng. Quân ta kháng cự quyết liệt. Cuộc
đấu pháo kéo dài 3 ngày liền. Tối chiều ngày 20/8, quân Pháp mới đổ
bộ lên được Thuận An. Được tin Thuận An mất vào tay Pháp, triều đình
vội xin đình chiến. Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành đến tìm giám
mục Caspard (Cố Lộc) làm trung gian để điều đình. Harmand (Hác
măng) đòi các đồn phải giải giới từ cửa Thuận An lên Huế. Sau đó
Harmand đi ngay Huế buộc triều đình ký vào bảng điều ước đã được
thảo sẵn gồm 27 khoản rất nặng. ở ngôi vua lúc này là Hiệp Hoà.

Công việc của Viện Cơ mật hầu như chỉ do hai đại thần Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết đảm nhận (phái chủ chiến), phụ chính Trần
Tiễn Thành (phái chủ hoà) vì hai chân đau buốt khó đi lại nên xin miễn
không phải vào chầu. Mọi việc của Viện Cơ mật đều do hai phụ chính
(phe chủ chiến) quyết định. Hai ông này chủ trương lấy tấn công làm
phòng thủ ở cửa Thuận An

Khi Thuận An thất thủ, vua liền ngả hoàn toàn theo phái chủ hoà vì lo sợ
giặc. Lúc này trong các quan của Viện Cơ mật và Bộ binh, người chiếm
ưu thế lại chính là Trần Tiễn Thành và bên cạnh ông ta còn có một
người mang nặng tư tưởng chủ hoà khác ấy là Thượng thư bộ lại
Nguyễn Trọng Hợp, người mới được Hiệp Hoà bổ sung vào Viện Cơ
mật.

Hiệp ước Harmand được kí kết ngày 25/8/1883. Theo điều ước này,
Nam triều chính thức công nhận chịu quyền bảo hộ của nước Pháp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status