CUỘC ĐẤU TRANH CỦA HAI PHE CHỦ CHIẾN - CHỦ HÒA VÀ NHỮNG TÁC
ĐỘNG ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC (1858 – 1888)
I. MỞ ĐẦU
1. Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nhà Nguyễn là triều đại ở vị trí rất đặc biệt, đó là
điểm giao thời từ Việt Nam độc lập sang nước Việt Nam nô lệ. Nhà Nguyễn tồn tại 143
năm (1802 – 1945) trong thời kì đất nước có nhiều biến động, là nhà nước phong kiến cuối
cùng trong lịch sử Việt Nam. Hiếm có triều đại nào thu hút nhiều sự chú ý của các nhà
nghiên cứu lịch sử như triều Nguyễn. Một nguyên nhân quan trọng vì đây là thời kì gần với
lịch sử hiện đại Việt Nam, còn lưu giữ được nhiều những tư liệu thành văn nhưng phần
khác là ở triều Nguyễn luôn tồn tại hai mảng sáng tối đan xen với nhau, dễ gây nên sự
tranh luận của các nhà khoa học, trong đó nội dung được đề cập nhiều là cuộc đấu tranh
chống Pháp xâm lược (1858 – 1885) và nguyên nhân để mất nước ta vào tay thực dân
Pháp. Đa số các học giả cho rằng, nguyên nhân quan trọng để mất độc lập, chủ quyền là do
nhà Nguyễn thiếu quyết tâm đánh Pháp đến cùng, sai lầm trong đường lối chỉ đạo chiến
lược, từ bỏ vai trò lãnh đạo của người đại diện cho lợi ích dân tộc nên biến việc mất nước
từ chỗ không tất yếu thành tất yếu. Nhưng cũng có ý kiến đánh giá nguyên nhân mất nước
của dân tộc ta hồi nửa cuối thế kỉ XIX là do tình trạng lạc hậu và yếu kém so với phương
Tây gây nên, do đó để mất nước vào tay người Pháp là điều khó tránh khỏi.
Chia sẻ quan điểm của các nhà nghiên cứu lịch sử trên đây, chúng tôi nhận thấy cần đi sâu
phân tích những mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn nhằm làm sáng
tỏ những mâu thuẫn về tư tưởng trong lực lượng quan lại Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Đó là
cuộc đấu tranh nhằm xác định đường lối chiến lược kháng Pháp giữa hai phe chủ chiến và
chủ hòa. Qua đây, chúng tôi mong muốn góp phần lí giải rõ thêm nguyên nhân để nước ta
rơi vào tay thực dân Pháp từ yếu tố chủ quan ở bên trong cơ quan chỉ huy cao nhất cuộc
đấu tranh chống xâm lăng. Điều này không chỉ giúp cho sinh viên năm thứ hai khoa Việt
Nam học có thể hiểu rõ hơn về nhà Nguyễn và lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỉ
XIX mà còn có được cách nhìn nhận và đánh giá sự kiện lịch sử, biến cố lịch sử và vấn đề
lịch sử đưới góc nhìn đa diện, nhiều chiều.
Nghiên cứu những xung đột giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa trong nội bộ nhà Nguyễn
thời kì đấu tranh chống Pháp xâm lược (1858 - 1885) không những rất cần thiết để hiểu về
quá khứ mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ hiện nay, nhất là ở thời điểm chúng ta
Lượng.
- kế chống giữ lâu dài làm chính vì thuyền tàu, súng đạn là cái sở trường của giặc, giặc
muốn đánh mau, thắng mau, ta không nên chống lại với sở trường của chúng mà phải kiên
trì chống và giữ để đợi khi chúng mệt mỏi, cần giảng hoà, lúc đó ta sẽ tuỳ cơ ứng phó. ý
kiến này của các đại thần như Trương Quốc Dụng, Trần Văn Chung, Lâm Duy Hiệp, Chu
Phúc Minh, Phan Huy Vịnh, Pham Chi Hương, Nguyễn Xuân Huân, Nguyễn Hữu Thành,
Nguyễn Luận, Lê Đức, Vũ Xuân Sán.
- Quyết tâm giữ đất, tấn công giặc, quyết không nghị hoà với giặc. Cụ thể là ở Quảng Nam,
địch đã tiến sâu vào nội địa bằng đường sông ta phải dụ chúng lên bộ để tiêu diệt chúng. ở
Gia Định ta nên hợp quân các tỉnh lại để nhất loạt tiến công, đốt phá, tiêu diệt địch. ý kiến
này của các quan lại cấp Nha như: Tô Trân, Phạm Hữu Nghị, Trần Văn Vy, Lê Hiếu Hữu,
Nguyễn Đăng Điều, Hồ Sĩ Tuấn.
- Hoà có mức độ: Nếu giặc chỉ yêu cầu tự do truyền đạo và thông thương mua bán thì nên
hoà, nếu đó chỉ là những yêu sách giả dối thì ta phải cố giữ. Đây là ý kiến của Vũ Đức
Nhu.
- Nên hoà ngay. Ý kiến của Lê Trí Tín, Đoàn Thọ, Tôn Thất Thường, Tôn Thất Dao,
Nguyễn Hào [7; 16].
2
Tựu chung năm ý kiến là có hai luồng tư tưởng rõ ràng: chiến hay hòa. Có thể nói, đây
chính là một trong những nguồn tư liệu quý cho thấy sự dao động, thiếu nhất quán ngay từ
đầu trong đường lối chống Pháp của lực lượng vua quan nhà Nguyễn - những người đại
diện cao nhất cho lợi ích của toàn dân tộc. Từ đây, chúng tôi có thêm những căn cứ quan
trọng để có thể đánh giá thái độ và trách nhiệm của nhà nước phong kiến Nguyễn trong
việc để nước ta rơi vào tay Pháp.
Gần đây nhất, khi xuất bản cuốn Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh - những vấn đề
nghiên cứu, NXB Tổng hợp TP.HCM – 2007, tác giả Xuân Biên khẳng định: khi tiếng
súng thực dân Pháp bùng nổ, giai cấp phong kiến Việt Nam phân ra hai phe chủ hoà và chủ
chiến. Phái chủ hoà phần đông bọn đại phong kiến và quan lại với Tự Đức đứng đầu nhanh
chóng câu kết với thực dân Pháp để làm tay sai cho chúng đàn áp và bóc lột nhân dân cả
nước. Tác giả đã xác định rõ phe chủ hòa chính là bọn phong kiến phản động chóp bu. Ý
Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp so sánh để làm
rõ các bước phát triển khác nhau của hai lực lượng trong quá trình tiến hành cuộc đấu tranh
chống Pháp cũng như tác động của nó đến kết quả của cuộc đấu tranh này.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Phát súng lệnh xâm lược đầu tiên của thực dân Pháp ở Sơn Trà (Đà Nẵng) đã nhanh chóng
làm chia rẽ nội bộ triều Nguyễn thành hai phe chủ chiến và chủ hoà. Từ đó trong quá trình
đấu tranh chống Pháp, hai luồng tư tưởng này luôn đối chọi nhau, nhằm tiêu diệt lẫn nhau.
Chỉ khi thực dân Pháp hoàn thành kế hoạch xâm lược Việt Nam thì sự phân hoá này mới
chấm dứt với phần thắng nghiêng về phe chủ hoà. Cuối cùng phe chủ hoà đã câu kết với
Pháp cùng bóc lột và cai trị nhân dân ta.
1. Hoàn cảnh lịch sử
1.1. Cuối thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Vấn đề
tìm kiếm thị trường và thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc đang trở thành vấn đề bức thiết
nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền sản xuất đại công nghiệp. Là một nước tư bản
phát triển, Pháp nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc trong hệ thống chủ nghĩa đế
quốc.
Bấy giờ trên thế giới, châu Á vẫn đang chìm đắm trong chế độ phong kiến nghèo nàn, lạc
hậu nên đã trở thành “mảnh đất hứa” của chủ nghĩa đế quốc. Pháp nhanh chóng nhận thấy
châu Á và Đông Nam Á là thị trường cần được mở rộng. Việt Nam nhanh chóng trở thành
mục tiêu thôn tính của thực dân Pháp.
Đầu thế kỉ XX, liên quân 8 nước đế quốc nhảy vào xâu xé Trung Quốc. Pháp là nước đi
đầu và cũng gặt hái được khá nhiều lợi nhuận. Sau khi hoàn thành xong việc phân chia
Trung Quốc, Pháp bắt đầu tiến hành xâm lược Việt Nam.
Thực chất từ lâu Pháp đã có quan hệ với Việt Nam. Đó là thời điểm Nguyễn Ánh chạy trốn
quân Tây Sơn, gặp được Bá Đa Lộc và cho con trai theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu cứu
viện. Sau khi lập nên nhà Nguyễn, Nguyễn Ánh nhiều lúc muốn cắt đứt quan hệ với người
Pháp vì ông đã phần nào nhận thấy dã tâm của người Pháp đối với đất nước này nhưng
thực dân Pháp vẫn không ngừng nhòm ngó Việt Nam. Pháp đã để lại cố đạo Bá Đa Lộc
nhằm làm nội ứng cho cuộc xâm lược sau này.
Giai đoạn đầu, Pháp tổ chức các đội truyền giáo và thương nhân xâm nhập vào Việt Nam.
1827 đến 1847, trong vòng 20 năm, nhà Nguyễn đã gây chiến tranh với người Miên, người
Xiêm và người Lào, khiến cho nhân dân vô cùng khốn khổ. Đi đánh giặc Lạp, giặc Lào,
giặc Xiêm là ác mộng của nhân dân miền Trung và miền Nam trong thời gian đó. Kết quả
của 20 năm theo đuổi chính sách xâm lược tai hại đã khiến cho tài lực và nhân lực bị hao
mòn, hiềm thù ngày càng khoét sâu giữa các nước láng giềng với nhau, trong lúc bọn thực
dân đang nhòm ngó ngoài cửa ngõ.
Trên đây là một nét cơ bản về tình hình của Việt Nam giữa thế kỉ XIX trước khi thực dân
Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nổi bật lên là sự khủng hoảng của chế độ phong kiến. Nhà
nước phong kiến Nguyễn đang đứng trước một thử thách to lớn:
+ Một là, cần phải cải cách để đáp ứng nhu cầu lịch sử, xây dựng một triều đại tiến bộ, một
nhà nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh mẽ hơn, có khả năng duy tân đất nước và
bảo vệ nền độc lập dân tộc. Vấn đề này đã được không ít các quan lại cao cấp đương triều
như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ… đề xuất nhưng vì điều kiện
chủ quan và khách quan khác nhau mà mọi đề nghị cải cách nhà nước đều bị các vua nhà
Nguyễn chối từ.
5
+ Hai là, nước Việt Nam bị xâm lược và bị biến thành một nước thuộc địa của tư bản
phương Tây.
Thực tế lịch sử cho thấy, khả năng thứ nhất không xảy ra, còn khả năng thứ hai thì liền kề.
Khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam thì cũng là lúc chế độ phong kiến Việt Nam
đi vào phân hoá và chia rẽ sâu sắc với hai phe chủ chiến và chủ hoà. Nhà Nguyễn đã không
tìm ra sách lược hữu hiệu với kẻ thù, luôn bị động và bất đồng về đường lối, do đó nhà
Nguyễn luôn tỏ ra lúng túng khi đối đầu với thực dân Pháp và cuối cùng là đầu hàng từng
bước rồi để mất cả nước ta vào tay Pháp, biến quá trình mất nước không tất yếu trở thành
tất yếu.
2. Quá trình hình thành và các đấu tranh giữa phe chủ chiến và chủ hoà
2.1. Quá trình hình thành hai phe chủ chiến - chủ hòa trong nội bộ triều đình Huế
Sự xâm lược của thực dân Pháp đã nhanh chóng hình thành nên hai luồng tư tưởng chủ
chiến và chủ hoà trong nội bộ triều Nguyễn. Hành động xâm lược của thực dân Pháp đã
làm cho nội bộ triều Nguyễn vốn đã phức tạp, rối ren nay càng trở nên lúng túng bị động