ĐỀ TÀI :Tìm hiểu về sự phát triển của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc và những tác động của nó đối với các nước trên thế giới potx - Pdf 11

SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

1
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
^]
Luận Văn
ĐỀ TÀI :Tìm hiểu vềsự phát triển của Ngân hàng Nhân
dân Trung Quốc và những tác động của nó đối với các
nước trên thế giới
GVHD: BS. Bùi Quốc Thái
SVTH: Trương Công Danh
MSSV: 10097241
SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

2

NHẬN XÉT GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN


Mục Lục
Lời tựa 10
Lời giới thiệu 11
PHẦN I GIỚI THIỆU HỆ TỔNG QUAN THỐNG NGÂN HÀNG TRUNG
QUỐC 14
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRUNG QUỐC 14
1.1 Quá trình cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc 14
1.1.1 Lịch sử hình thành 14
CHƯƠNG II: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG
NHÂN DÂN TRUNG QUỐC 23
2.1 Sơ lược lịch sử hình thành Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc 23
2.2 Vai trò , Điề
u hành, bộ máy, danh sách thống đốc, lãi suất ,cấu trúc hệ
thống đối với sự phát triển của hệ thống thanh toán tại Trung Quốc 26
2.2.1 Vai trò 26
2.2.1.1 Vai trò của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đối với sự phát
triển của CUP 26
2.1.1.2 Vai trò của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đối với sự phát
triển của hệ thống thanh toán tại Trung Quốc 27
2.2.2 Điều hành 28
2.2.2 Bộ máy 29
2.2.3 Danh sách thống đốc 30
2.2.4 Lãi suất 30
2.2.5 Về cấu trúc hệ thống thanh toán: 30
CHƯƠNG 3 32
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠN MẠI TRUNG
QUỐC 32
3.1 Lịch sử phát triển hệ thống NHTM Trung Quốc 33
3.1.1. Hoạt động ngân hàng thời phong kiến 33

THỐNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 55
CHƯƠNG VII:XU THẾ QUỐC TẾ HÓA ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ 55
7.1 Những đặc trưng của một đồng tiề
n quốc tế 55
7.2 Trung Quốc và “cái bẫy đôla” 55
7.3 Chiến lược quốc tế hóa đồng nhân dân tệ 58
7.4 Đánh giá khả năng đồng CNY thay thế USD 60
7.4.1 sự cần thiết của việc dự trữ ngoại tệ 60
7.4.2 nhận định chung 60
7.4.3 khả năng đồng CNY thay thế USD 61
PHẦN IV: SỨC ÉP NÂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ CỦA TRUNG
QUỐC 63
CHƯƠNGVIII: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HOÁI ĐOÁI CỦA TRUNG QUỐC VÀ
VẤN ĐỀ NÂNG GIÁ ĐỒ
NG NHÂN DÂN TỆ 63
SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

5

8.1 Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó đến cán
cân thương mại của Trung Quốc với Mỹ, EU và Nhật Bản 63
8.2 Sức ép của các nước đối với việc nâng giá đồng nhân dân tệ và phản ứng
của Trung Quốc 68
8.2.1 Sức ép của các nước đối với việc nâng giá đồng nhân dân tệ 68
8.2.1.1 Sức ép từ phía Mỹ 68
8.2.1.2 Sức ép của các t
ổ chức và quốc gia khác 70
8.2.2 Phản ứng của Trung Quốc 71
CHƯƠNG XI:TÁC ĐỘNG CỦA NÂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ ĐỐI
VỚI VIỆT NAM 73


ABC: Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (Agriculture Bank of
China)
ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asia Development Bank)
AMC: Công ty xử lý nợ và khai thác tài sản (Asset Management
Company)
BIS: Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank for International
Settlement)
BOC: Ngân hàng Trung Quốc ( Bank of China)
BTA: Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ
BEPS Hệ thống thanh toán điện tử theo lô
CAR: Hệ số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio)
CNAPS Hệ thống thanh toán quốc gia tiên tiến của Trung Quốc
CSTT :Cơ sở thông tin
CEPA Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện(Comprehensive Economic
Partnership Agreement)
CUP Công ty chuyển mạch thẻ quốc gia(China UnionPay)
CNAPS Hệ thống thanh toán quốc gia tiên tiến của Trung Quốc
(Co-Processing Node Architecture for Parallel Systems)
CIS Tổ chức liên minh các quốc gia được thành lậpCommonwealth of
Independent States
CBRC: Ủy ban giám sát hoạt động ngân hàng Trung Quốc
(China Banking Regulatory Commision)
CCB: Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc ( China Construction
Bank)
CCTT Cán cân thanh toán
CCTMCán cân thương mại
CEIM: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
CCP: Đảng Cộng Sản Trung Quốc (China Communist Party)
SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

SDR. Quyền rút vốn đặc biệt(Special Drawing Rights)
RMB RENMINBI (đơn vị tiền tệ của Trung Hoa, Nhân Dân Tệ)
TCTD Tổ chức tín dụng
WTO Tổ chức thương mại thế giới(Worrld Trade Organnization).
WB Ngân hàng thế giới (world bank )
SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

8

Danh sách các bảng

Bảng Số trang
Bảng 8.1: Cán cân thương mại của Mỹ với Trung
Quốc từ năm 2001-2010 Bảng 8. 2: Cán cân thương mại của EU với Trung
Quốc từ năm
2006-2010

Bảng 8.3 : Cán cân thương mại của Nhật Bản với
Trung Quốc từ năm 2005-2009
Hình 8.4 : Biểu đồ Cán cân thương mại của EU với
Trung Quốc từ năm 2006 – 2010 Hình 8.5 : Biểu đồ Cán cân thương mại của Nhật Bản
với Trung Quốc từ năm 2005 – 2009
SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

10
Lời tựa
Người Trung Quốc đã làm được những điều khiến cả thế giới phải thán phục.
Sau hơn 30 năm cải cách mở cửa, từ một nước lạc hậu Trung Quốc đã trở
thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, vượt qua cả Nhật Bản, với nhiều dự
đoán cho rằng sẽ vượt Mỹ trong thời gian không xa. Trung Quốc hiện là nhà
xuất khẩu lớn nhất thế giới, là chủ nợ lớn nhất thế giới và đang nắm giữ
lượng dự trữ ngoại tệ cũng lớn nhất thế giới. Đồng Nhân dân tệ của Trung
Quốc còn được kỳ vọng sớm trở thành một đồng tiền quốc tế.
Ở Việt Nam cho tới nay đã có nhiều nghiên cứu về Trung Quốc trên nhiều

Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong ba thập kỷ qua đã đưa Trung Quốc
từ một nước có nền kinh tế lạc hậu lên đứng thứ hai trên thế giới về qui mô
tổng sản phẩm quốc nội, chỉ đứng sau Mỹ và vượt trên cả Nhật Bản. Trung
Quốc hiện đang là nước xuất khẩu đứng đầu thế giới đồng thời là nước có dự
trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới. Đồng Nhân dân tệ được nhiều nhận định cho
rằng sẽ trở thành đồng tiền quốc tế vào năm 2020.
Khi Trung Quốc ngày càng đóng vai trò lớn hơn trong nền kinh tế thế giới,
lĩnh vực tài chính - ngân hàng Trung Quốc cũng thu hút sự chú ý nhiều hơn.
Hệ thống ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Trung
Quốc, vì nó thu hút gần như toàn bộ tiền tiết kiệm của hộ gia đình và cung cấp
đến 95% vốn cho khu vực doanh nghiệp. Tiền gửi tiết kiệm ở hệ thống ngân
hàng Trung Quốc là rất lớn, chiếm đến 160% GDP.
Khu vực ngân hàng cũng là một khu vực tăng trưởng vào loại nhanh nhất ở
Trung Quốc, đạt tốc độ tăng trung bình 19% trong suốt hai thập kỷ qua. Tính
đến cuối năm 2008, tổng tài sản của toàn hệ thống là 62,3 ngàn tỷ Nhân dân
tệ, hơn gấp hai lần GDP của nước này. Đến nay, về mặt quy mô và phạm vi
hoạt động, ngành ngân hàng Trung Quốc có thể sánh ngang với các nền kinh
tế công nghiệp hóa hàng đầu. Tuy nhiên, ngành ngân hàng Trung Quốc vẫn
được coi là đang ở giai đoạn đầu phát triển khi nguồn thu nhập chủ yếu của
các ngân hàng thương mại vẫn từ hoạt động tín dụng, chiếm trên 85%.
Luận văn này nhằm mục đích nghiên cứu một cách hệ thống khu vực ngân
hàng Trung Quốc và được chia thành ba phần với 9 chương có kết cấu như
sau. Phần I giới thiệu tổng quan hệ thống ngân hàng Trung Quốc bao gồm cả
SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

12

lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Trung Quốc với trọng
tâm đặt vào việc phân tích những cải cách mà ngành ngân hàng Trung Quốc
đã trải qua cho đến ngày nay. Phần II nghiên cứu kinh nghiệm điều hành
Hình 2:
Ngân hàng trung
ươ
ng Trung Qu

cSVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

14
PHẦN IGIỚI THIỆU HỆ TỔNG QUAN THỐNG NGÂN
HÀNG TRUNG QUỐC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
TRUNG QUỐC

1.1 Quá trình cải cách hệ thống ngân hàng Trung Quốc
1.1.1 Lịch sử hình thành
Các ngân hàng nước ngoài đã có lịch sử hiện diện tại Trung Quốc từ hàng
trăm năm trước. Sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập
năm 1949, bốn ngân hàng nước ngoài vẫn tiếp tục duy trì văn phòng đại diện
tại thành phố Thượng Hải là: HSBC, Ngân hàng Đông Á, Tập đoàn Ngân
hàng Hoa Kiều và Ngân hàng Standard Chattered. Năm 1978, nền kinh tế
Trung Quốc bắt đầu mở cửa chào đón các nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó,
hệ thống ngân hàng của Trung Quốc cũng đã trải qua 3 giai đoạn trong quá

tư nước ngoài trên toàn lãnh thổ Trung Quốc với tên gọi là: Quy chế của nước
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về quản lý các định chế tài chính có vốn nước
ngoài. Quy chế này được phát triển từ quy định được ban hành từ 1985 mang
tên Quy chế của nước Công hòa Nhân dân Trung Hoa về quản lý các ngân
hàng có vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh hoạt động tại các đặc khu
kinh tế. Quy định mới đã cung cấp các hướng dẫn pháp lý đối với việc gia
nhập thị trường và hoạt động thanh tra các ngân hàng có vốn nước ngoài.
Trong khi đó, hoạt động của các ngân hàng nước ngoài đã được mở rộng từ
các thành phố ven biển và các thành phố lớn ra toàn quốc và các ngân hàng
nước ngoài được phép mở chi nhánh tại tất cả các thành phố của Trung Quốc.
Đến năm 1996, Chính phủ Trung Quốc công bố Quy chế về việc thí điểm
kinh doanh đồng nhân dân tệ tại khu vực Thương Hải - Phố Đông của các
định chế trài chính nước ngoài. Quy định này cho phép các ngân hàng nước
ngoài tiếp cận hoạt động kinh doanh bằng đông nhân dân tệ phục vụ các
doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài. Chính vì vậy đã thúc đẩy sự phát triển
của các ngân hàng nước ngoài đạt con số 175, tăng 99 ngân hàng so với 4
năm trước đó, trong khi tài sản có của các ngân hàng này đã tăng gấp 4 lần.
Cũng chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, các ngân
hàng nước ngoài trở nên thận trọng hơn trong việc mở rộng hoạt động của
mình tại khu vực châu Á, do đó hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
nước ngoài tại Trung Quốc cũng bị giảm sút. Một số ngân hàng thậm chí còn
đóng cửa. Từ 1998 đến 2001, chỉ có 15 tổ chức cung cấp dịch vụ ngân hàng
SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

16

được thành lập tại Trung Quốc. Chinh phủ Trung Quốc đã phải thực hiện
hàng loạt các biện pháp để kích thích hoạt động của các ngân hàng nước
ngoài tại thị trường này. Trong đó, việc lựa chọn Thâm Quyến là thành phố
thứ hai sau Thượng Hải được thực hiện thí điểm cho phép các ngân hàng có


với các ngân hàng có vốn nước ngoài đã được bãi bỏ tuân theo nguyên tắc đối
xử quốc gia được thoả thuận trong cam kết gia nhập WTO.
1.1.2 Các sáng kiến độc lập với các cam kết gia nhập WTO:
Trung Quốc cũng tiến hành hàng loạt các sáng kiến tự do hoá độc lập với
những cam kết WTO nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách và thị trường của nền
kinh tế.
Thứ nhất, nhằm mục đích khuyến khích các ngân hàng nước ngoài mở chi
nhánh tại các khu vực không gần biển như khu vực miền Trung, miền Tây và
vùng đông Bắc nơi chưa có dịch vụ ngân hàng, một số thành phố trong đó có
Tây An, Thẩm Dương, Cáp Nhĩ Tân, Trường Xuân, Lan Châu, Tây Ninh đã
mở của cho các ngân hàng có vốn nước ngoài thực hiện kinh doanh bằng
đồng nhân dân tệ trước thời hạn, đồng thời đẩy nhanh việc xem xét thông qua
các thủ tục cho các ngân hàng có vốn nước ngoài mở chi nhánh tại các khu
vực này.
Thứ hai, yêu cầu về vốn hoạt động đối với các ngân hàng có vốn nước ngoài
được hạ xuống một cách hợp lý nhằm nới lỏng các hạn chế về vốn khả dụng
đối với các ngân hàng này.
Thứ ba, tương tự như các ngân hàng trong nước các ngân hàng có vốn nước
ngoài được phép tham gia vào các hoạt động kinh doanh các công cụ phái
sinh, các hoạt động quản lý tài sản, lưu ký và đại lý bảo hiểm ở nước ngoài.
Thứ tư, theo thoả thuận đối tác thân thiện hơn (CEPA) với các đặc khu hành
chính Hồng Kông và Ma Cao, các ngân hàng ở hai đặc khu này được đối xử
ngang bằng khi xin phép mở chi nhánh hoặc các dự án kinh doanh mới ở Đại
lục.
Thứ năm, để khuyến khích sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài vào
khu vực ngân hàng trong Đại lục, Trung Quốc cho phép và khuyến khích các
nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đủ tiêu chuẩn mua cổ phần của các ngân
hàng Trung Quốc trên cơ sở thương mại và tự nguyện.
Như vậy, việc mở cửa hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã tập trung vào ba

hàng, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại quốc tế và cơ sở hạ tầng hệ thống
thanh toán, cho vay hợp vốn, quản lý tiền mặt và tài sản. Sự hiện diện của các
ngân hàng nước ngoài tại Trung Quốc đã làm phong phú thêm các sản phẩm
trên thị trường ngân hàng, nâng cao chất lượng phục vụ của các ngân hàng, do
đó đã đóng góp vào việc xúc tiến thương mại và đầu tư ra nước ngoài. Bên
cạnh đó, thông qua hoạt động đầu tư tại Trung Quốc, các ngân hàng nước
ngoài đã mang lại nguồn vốn cho sự phát triển của kinh tế này.
Thứ hai, góp phần phát triển theo chiều sâu thị trường tài chính cũng như cải
cách và tái cơ cấu khu vực ngân hàng ở Trung Quốc. Các ngân hàng nước
SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

19

ngoài đã và đang phát triển về cả số lượng và quy mô kinh doanh tại Trung
Quốc, đồng thời đã giúp gia tăng chất lượng dịch vụ ngân hàng ở tất cả các
cấp độ, khuyến khích cạnh tranh thị trường, tăng cường năng lực của khu vực
ngân hàng nhằm đáp ứng được nhu câu của thị trường. Để tăng cường năng
lực tổng thể và tính cạnh tranh của khu vực ngân hàng, Trung Quốc đã đưa ra
một loạt các cải cách nhằm hỗ trợ quá trình mở cửa. Đến cuối năm 2003,
Ngân hàng Xây dựng và Ngân hàng Ngoại thương Trung Quốc đã được chọn
làm thí điểm tái cơ cấu thành các ngân hàng cổ phần, với tổng số vốn bơm
vào lên đến 45 tỷ USD. Cuối năm 2005, Ngân hàng Công thương Trung Quốc
cũng được bơm vốn 15 tỷ USD. Đồng thời, các ngân hàng thương mại vừa và
nhỏ cũng được cải cách và tái cơ cấu. Các biện pháp này, cùng với sự tham
gia của các định chế tài chính nước ngoài với tư cách là nhà đầu tư chiến
lược, đã góp phần cải thiện quản trị doanh nghiệp, quản lý rủi ro, tăng cường
khả năng đổi mới, sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, góp phần đổi mới doanh nghiệp và sản phẩm: Với việc mở cửa lĩnh
vực ngân hàng đã nhập khẩu những công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến,
cũng như là các sản phẩm và dịch vụ hoàn thiện được thị trường kiểm chứng,

sự ổn định của hệ thống ngân hàng và đảm bảo an ninh tài chính.
1.1.6 Trên cơ sở các nguyên tắc nêu trên, Trung Quốc đưa ra các chính
sách chủ yếu sau:
Tuân thủ các cam kết WTO và tiếp tục mở cửa hơn nữa với bên ngoài.
Theo các cam kết WTO, Trung Quốc đã xoá bỏ các quy định hạn chế về
khách hàng và khu vực địa lý đối với hoạt động kinh doanh đồng nhân dân tệ
của các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài kể từ ngày 11/12/2006. Để
khuyến khích các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài triển khai kinh doanh
tại miền Đông Bắc, miền Tây và miền Trung, Trung Quốc có chính sách ưu
đãi trong việc thành lập cơ sở mới và tiếp cận thị trường.
Đưa ra chính sách định hướng thành lập tại địa phương để đáp ứng nhu cầu
phát triển của các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài. Các ngân hàng có vốn
đầu tư nước ngoài có thể tự lựa chọn hình thức hoạt động phù hợp tại Trung
Quốc theo chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Để đẩy mạnh sự phát triển
của các ngân hàng này và bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, Trung Quốc
khuyến khích các ngân hàng nước ngoài thành lập các ngân hàng con tại địa
phương hoặc chuyển đổi các chi nhánh hiện tại thành các ngân hàng con. Các
pháp nhân thành lập tại địa phương của các ngân hàng nước ngoài được phép
cung cấp tất cả các dịch vụ bằng ngoại tệ và nội tệ, được hưởng quy chế đối
xử như các ngân hàng Trung Quốc.
SVTH: Trương Công Danh GVHD: BS. Bùi Quốc Thái

21

Tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho các chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Khuyến khích các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng các hình thức
hoạt động đa dạng để phát triển ở Trung Quốc.
Về giám sát phòng ngừa rủi ro: Do mức độ mở cửa lĩnh vực ngân hàng lớn
nên sẽ đem đến một số rủi ro nhất định. Trung Quốc cũng nhận thức được
rằng trong quá trình mở cửa sẽ phát sinh nhiều rủi ro khác nhau. Do vậy, việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status