Luận văn Đề tài tìm hiểu về đạo Công giáo - Tin lành trong văn hóa Hàn Quốc - Pdf 13

LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO – TIN
LÀNH TRONG VĂN HÓA HÀN QUỐC.
Thành phố Hồ Chí Minh
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Khái quát chung về đạo Công Giáo – Tin Lành
1. Nguồn gốc và những điểm giống nhau
Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hoặc Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán-Việt) là
một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, Abraham là tổ phụ của dân Do
Thái và dân Ả Rập (hai tôn giáo còn lại là Do Thái giáo và Hồi giáo), đặt nền tảng
trên giáo huấn, hy sinh trên thập tự giá và sự sống lại của Chúa Giêsu như được ký
thuật trong Kinh thánh Tân Ước. Những người theo đạo Kitô tin rằng Giêsu là con
của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người Do Thái như đã được tiên báo
trong Kinh thánh Cựu Ước. Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các
dị biệt văn hóa cũng như hàng ngàn xác tín và giáo phái khác nhau. Trải qua
hai thiên niên kỷ, Kitô giáo tự hình thành nên ba nhánh chính: Công giáo
Rôma, Chính Thống giáo Đông phương và Kháng Cách(Protestantism). Tính
chung, đây là tôn giáo lớn nhất thế giới với hơn 2,1 tỉ tín hữu (chiếm khoảng 34%
dân số thế giới).
Công giáo là thuật ngữ được sử dụng đặc biệt trong ngữ cảnh Kitô giáo. Nó
có xuất xứ từ chữ Hi Lạp καθολικος có nghĩa "chung" hay "phổ quát". Trong tiếng
Việt, thuật ngữ Công giáo được dùng để dịch
chữ καθολικος, Catholica (Catholique), với ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ
quát, đạo công cộng đón nhận mọi người, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc
gia nào. Ngoài ra, Công giáo tại Việt Nam còn được gọi là đạo Gia Tô, Thiên Chúa
giáo hoặc Kitô giáo.
Danh xưng Tin Lành thường được dùng để chỉ một nhóm các giáo phái khởi
phát từ cuộc cải cách tôn giáo bắt đầu vào thế kỷ 16 bởi Martin Luther. Tin Lành là
đạo ra đời sau, tách ra từ đạo Công Giáo. Bởi vì có chung nguồn gốc như vậy, giữa
đạo Công Giáo – Tin Lành có nhiều đặc điểm chung.
Về mặt lịch sử giáo hội, từ ban đầu chỉ có một giáo hội. Từ khi Chúa Giê-su

Chỉ sử dụng Kinh Thánh
Đức Mẹ
Ma-ri-a
Mẹ của Thiên Chúa  đề cao tôn
sùng
Mẹ trần thế của Chúa Kitô
 tôn trọng, không tôn sùng
thờ lạy
Thánh Đề cao tôn sùng Kính trọng và noi gương các
Thánh, không đề cao, tôn sùng
Hành hương
viếng các nơi
Thánh
Có Không
Lễ
bảy phép bí tích gồm: rửa tội,
thêm sức, giải tội, thánh thể, xức
dầu Thánh, truyền chức Thánh,
hôn phối.
bắp tem, phép tiệc Thánh, một
số lễ hôn phối, lễ dâng con trẻ
cho Thiên Chúa.
lễ rửa tội: vẩy nước + đặt tên
Thánh
Bắp tem: dìm mình dưới nước
Xưng tội Qua linh mục Chỉ xưng tội với Chúa
Cầu nguyện Kinh nguyện soạn sẵn hai bài chung là Kinh Lạy Cha
và Kinh Tin Kính + tự cầu
nguyện
Khi

thần quyền
Dòng tu Nam, nữ, chia theo quy chế địa
phận
không duy trì dòng tu nào
B. TÌM HIỂU ĐẠO CÔNG GIÁO – TIN LÀNH Ở HÀN QUỐC
I. Quá trình du nhập Đạo Công Giáo - Tin Lành vào bán đảo Triều Tiên:
1. Công Giáo
Làn sóng truyền giáo của đạo Thiên Chúa đã đến Hàn Quốc vào thế kỉ 17,
khi những bản sao của các tác phẩm của nhà truyền giáo Matteo Ricci viết bằng
tiếng Hán được mang từ Bắc Kinh đến cho hoàng đế Trung Hoa như một vật phẩm
cống nạp. Cùng với học thuyết về tôn giáo, những quyển sách này còn có cả những
mặt học thuật của phương Tây như lịch theo mặt trời và những vấn đề khác thu hút
sự chú ý của các học giả thời Choson của Silhak, tức là trường học Thực tiễn. Năm
1783, Công Giáo bắt đầu được rao giảng và phổ biến trong các thành phố và làng
mạc.
2. Tin Lành
Xuất hiện từ 1832 nhưng mãi đến năm 1884 mới thực sự bắt đầu du nhập
vào Hàn Quốc. Năm 1884, Horace N. Allen, một bác sĩ người Mỹ và là nhà truyền
giáo của Hội Trưởng lão đã đến Hàn Quốc. Horace G. Underwood thuộc cùng môn
phái và Henry G. Từ thời điểm đó, Hàn Quốc chính thức thiết lập mối quan hệ
ngoại giao với nước ngoài, đặc biệt các nước phương Tây. Sau đó những người
phương Tây có thể đến buôn bán và cư trú hợp pháp tại “Đất nước Ẩn sĩ” này. Từ
đây người dân Hàn cũng bắt đầu giao tiếp với người nước ngoài và những người
truyền giáo được phép tới Hàn Quốc truyền đạo. Appenzeller là nhà truyền giáo
của Hội Giám lý cũng đã từ Mý đến vào năm sau. Sau đó là những đại biểu khác
của đạo Tin Lành cũng đã đến Hàn Quốc.
II. Quá trình phát triển của đạo Công Giáo – Tin Lành ở Hàn Quốc
Những quyển sách của Ricci ngay tức khắc gây ra những tranh luận học
thuật. Vào đầu thế kỷ 17, Yi Su Gwang, một học giả cung đình, và Yu Mon Gin,
một quan thượng thư, viết những bài phê bình gay gắt chỉ trích các tác phẩm của

Các giáo hội Hàn Quốc biết cách sử dụng truyền thống Hàn Quốc. Không
giống Trung Quốc hay Nhật Bản, người Hàn theo đạo Shaman đã có sẵn một khái
niệm độc thần về Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá mà họ gọi là Hwan-in (Hoàn Ấn)
hoặc Haneu-nim (sau này cũng gọi là Hana-nim). Theo truyền thuyết xa
xưa, Hwan-in có một con trai tên Hwan-ung, năm 2333 TCN. người này sinh một
con trai đặt tên là Tangun (Đoạn Quân). Tangun là người thành lập nước Hàn,
cũng theo chuyện kể, Tangun dã dạy người dân biết những điều căn bản về văn
minh trong suốt thời trị vì của ông kéo dài một ngàn năm. Cũng xuất hiện vài dị
bản từ truyền thuyết này, một trong số đó kể rằng Tangun được sinh ra bởi một nữ
đồng trinh – dù chuyện kể có thể là một sự thêm thắt sau này. Hiện nay vẫn có một
số nhà thần học cố gắng giải thích khái niệm Cơ Đốc về giáo lý Ba Ngôi theo ngôn
từ của ba đặc tính thần linh của truyền thuyết Tangun. Dù chỉ là truyền thuyết, điều
này lại là một chuẩn bị tốt về mặt tâm lý giúp người dân Hàn chấp nhận giáo lý
về Chúa Jesu hoá thân thành người (incarnation).
Ngoài ra, kết hợp các nghi lễ Shaman để cầu các thế lực siêu nhiên giúp cho
các tín đồ có thêm sức khỏe và nhận được nhiều phúc đức
Thiện cảm trong giới khoa bảng - Trường Shilhak
Dù vậy, vẫn có một số học giả có thiện cảm với Cơ Đốc giáo. Các thành
viên của trường Shilhak (học đi đôi với hành) rất tâm đắc với điều họ nhìn nhận là
những giá trị của quyền bình đẳng trong Cơ Đốc giáo. Ủng hộ một cấu trúc xã hội
dựa trên tài năng chứ không phải trên nguồn gốc gia đình, các học giả trường
Shilhak (thường bị chống đối gay gắt bởi giới cầm quyền) nhận ra Cơ Đốc giáo
cung ứng một nền tảng ý thức hệ cho niềm tin của họ. Như vậy, khi Công giáo
được thành lập năm 1784, đã có sẵn một thành phần trí thức ủng hộ tôn giáo này –
sự ủng hộ này là nhân tố căn cốt cho sự phát triển đức tin Công giáo trong thập
niên 1790. Một nghiên cứu tiến hành năm 1801 chỉ ra rằng có đến 55% tín hữu
Công giáo có mối quan hệ gia đình với trường Shilhak. Rõ ràng là nhân tố quan
trọng đầu tiên kích hoạt sự tăng trưởng của Cơ Đốc giáo là thiện cảm của một thiểu
số thuộc thành phần tinh hoa có học thức của xã hội Hàn Quốc.
Quyền Lãnh đạo của Tín hữu

giáo là cộng đồng đầu tiên chính thức công nhận giá trị của nó. Đầu thập niên
1780, những phần của sách Phúc Âm bằng chữ Hangul bắt đầu xuất hiện; các sách
giáo lý như cuốn Chuyo Yogi được ấn hành trong thập niên 1790 và khoảng thập
niên 1800 một thánh ca Công giáo cũng được xuất bản.
Năm 1887, John Ross, nhà truyền giáo Trưởng Lão đến từ Scotland hoàn tất
công cuộc dịch thuật Kinh Thánh sang tiếng Hàn, ngay lập tức các nhà lãnh đạo
Kháng Cách tập trung vào nỗ lực phổ biến Kinh Thánh rộng rãi cho người dân
Hàn.
Gắn bó với tinh thần dân tộc Hàn
Có lẽ nhân tố quan trọng nhất giúp Cơ Đốc giáo được chấp nhận rộng rãi tại
Hàn Quốc là nhiều tín hữu Cơ Đốc đã gắn bó với chính nghĩa đấu tranh cho dân
tộc Hàn trong thời kỳ đất nước này bị Nhật Bản chiếm đóng (1905–1945). Khi ấy,
người dân phải chịu đựng nhiều thống khổ; có đến bảy triệu người bị lưu đày hoặc
bị trục xuất khỏi quê hương cùng lúc với một chiến dịch có hệ thống nhằm xóa bỏ
mọi dấu vết của bản sắc dân tộc và văn hóa Hàn. Đến năm 1938, ngay cả tiếng Hàn
cũng bị đặt ngoài vòng pháp luật.
Ngày 1 tháng 3 năm 1919, một hội nghị gồm 33 nhà lãnh đạo tôn giáo và
giới chuyên môn đã thông qua bản Tuyên ngôn Độc lập. Dù hội nghị được tổ chức
bởi những nhà lãnh đạo của đạo Chondogyo, 15 trong số 33 chữ ký là của những
người thuộc cộng đồng Kháng Cách – nhiều người bị bắt giữ sau đó. Năm 1919
chứng kiến sự ra đời của Ulmindan ("Đạo quân Người Công chính") với thành
phần chính là Công giáo, và sự thành lập chính phủ lưu vong đặt cơ sở tại Trung
Hoa dưới sự lãnh đạo của Lee Seung Man , một tín hữu Giám Lý. Song tác nhân
chính giúp nối kết Cơ Đốc giáo với tinh thần yêu nước trong mắt người dân Hàn là
sự kiện nhiều tín hữu Cơ Đốc dám từ khước thờ lạy Thiên hoàng Nhật Bản, một
điều bắt buộc trong thập niên 1930. Mặc dù tín hữu Cơ Đốc khước từ thờ lạy Thiên
hoàng dù phải chịu tù đày vì cớ xác tín tôn giáo hơn là chính trị, nhiều người dân
Hàn nhìn xem điều này như là sự biểu thị mạnh mẽ lòng yêu nước và sự đề kháng
chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản.
Sự phát triển không ngừng của Cơ Đốc giáo ở Hàn Quốc :

thị và giác mạc do Hồng y hiến tặng đã trở thành món qùa vô cùng quý giá giúp 2
bệnh nhân nhìn thấy ấy sáng thế gian. Tấm lòng ấy đã khơi dậy làn sóng chia sẻ
cùng những lời hứa sẽ hiến tặng nhiều cơ quan nội tạng trong xã hội Hàn Quốc.
Cuộc đời của Hồng y Kim Sou-hwan cho thấy hình ảnh về một người theo tôn giáo
chân chính, khiến ta không khỏi nghĩ rằng đạo Thiên chúa phải chăng đã tới và đặt
gốc rễ bằng lòng tin tôn giáo trên đất Hàn Quốc.
Giáo hội Hàn Quốc đẩy mạnh sự hiệp nhất Kitô hữu
(T6, 07/01/2011 - 16:02)
Hiệp nhất thực sự chỉ bắt đầu khi chúng ta công nhận chúng ta chịu trách
nhiệm về sự chia rẽ giữa các Giáo hội Kitô giáo, chủ tịch ủy ban hiệp nhất Kitô
hữu của các giám mục Hàn Quốc nói.
Các Kitô hữu thời sơ khai cảm nghiệm sự phục sinh của Đức Giêsu đã cùng
nhau cầu nguyện liên lỉ, sống tình hiệp thông mặc dù họ cũng bị chia rẽ, Đức Tổng
Giám mục Hyginus Kim Hee Joong của tổng giáo phận Kwang Ju lưu ý trong
thông điệp nhân Tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô hữu.
“Khởi đầu của hiệp nhất Kitô hữu là hiệp thông và cầu nguyện” – Đức cha
Kim nhấn mạnh.
Ngài nói thêm người Công giáo phải “tạo cơ hội cầu nguyện chung với các
anh chị em Tin lành tại nhà hoặc nơi làm việc.”
“Khi chúng ta cố gắng hòa giải và đoàn kết trước, chúng ta có thể trở thành
muối và ánh sáng thật sự để thiết lập hòa bình của Đức Kitô trong đất nước này” –
Đức cha Kim kết luận.
Tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô hữu được tổ chức tại nhà thờ Đội
quân Cứu tế ở Seoul vào ngày 21-1-2011.
Tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô hữu thường niên được kỷ niệm
trên toàn thế giới từ ngày 18-25/1 đã bắt đầu từ năm 1965, khi Giáo hội Công giáo
và Tin lành ở Hàn Quốc bắt đầu viếng thăm nhau và tổ chức các cuộc họp mặt cầu
nguyện chung đầu tiên.
III. Ảnh hưởng của đạo Công Giáo và Tin Lành đến đời sống của người dân
Hàn Quốc

phát triển kinh tế của đất nước này. Họ xem đức tin là nhân tố quan trọng tạo ra sự
tăng trưởng và tiến bộ của xã hội Hàn Quốc trong các lĩnh vực khác nhau trong ba
thập niên qua, họ cũng tin rằng sự thành công và thịnh vượng và chỉ dấu của phước
hạnh đến từ Thiên Chúa.
c. Quan hệ xã hội
Nếu như trong xã hội Joseon vốn có sự phân biệt đối xử nam nữ hà khắc, rào
cản thân phận tạo khoảng cách lớn của tư tưởng Nho giáo thì giáo lý Công giáo chỉ
rõ: “Trước thần thánh, không có chuyện phân biệt nam nữ, không có thường dân và
quý tộc yangban mà tất cả đều bình đẳng” đã được xem như nguồn hy vọng mới.
Có lẽ không nơi nào mà các giá trị Cơ Đốc lại có ảnh hưởng mang tính cách
mạng như trong lãnh vực quan hệ xã hội. Theo truyền thống, xã hội Hàn Quốc rất
mực tuân giữ tôn ti trật tự đặt nền tảng trên những nguyên tắc Khổng học dưới
quyền cai trị của một hoàng đế được xem là thiên tử.Theo Nho giáo, thứ tự ưu tiên
trong đời sống con người là “quân, sư, phụ”. Nghĩa là, trước hết chúng ta phải làm
tròn bổn phận với vua, hay người lãnh đạo đất nước, vì đó là người thay mặt Trời
để hướng dẫn chúng ta. Sau đó đến bổn phận đối với các bậc thầy là người dạy dỗ
ta, và cuối cùng mới đến bổn phận đối với cha mẹ. Không có một quyền xã hội nào
được dành cho phụ nữ; trẻ con phải tuyệt đối tuân phục cha mẹ, và cá nhân không
có quyền gì ngoài những quyền được xã hội ban cho. Ðạo của Chúa ngược lại, dạy
chúng ta phải chu toàn bổn phận đối với Ðức Chúa Trời trước nhất, vì Ngài là
Ðấng tạo dựng nên chúng ta, sau đó là bổn phận đối với cha mẹ rồi mới đến những
bổn phận khác.Sự dạy dỗ của Cơ Đốc giáo cho rằng mọi người được tạo dựng theo
"Hình ảnh của Thiên Chúa", và mỗi cá nhân đều có giá trị tự thân.
Liên kết chặt chẽ với khái niệm này là sự tập chú vào quyền tư hữu. Tín hữu
Cơ Đốc xem nhà vua chỉ đơn thuần là một con người và phải thần phục Thiên
Chúa như mọi thần dân của nhà vua. Họ cũng biết rằng thẩm quyền của Thiên
Chúa là lớn hơn của nhà vua. Sự truyền bá các giá trị Cơ Đốc đã góp phần vào
công cuộc giải phóng phụ nữ và bảo vệ quyền trẻ em. Kể từ năm 1784, Công giáo
nói riêng và Cơ Đốc giáo nói chung, cho phép các góa phụ tái hôn (điều này vẫn bị
cấm đoán trong các xã hội Đông Á), nghiêm cấm đa thê và quan hệ ngoài hôn

nữa, gia đình là nơi con người được rèn luyện sớm nhất, cũng là nơi để con người
áp dụng tiêu chuẩn sống của Chúa trước nhất. Chúng ta phải làm trọn bổn phận
trong gia đình rồi mới có thể nói đến những bổn phận quan trọng khác.
Một số lời dạy tiêu biểu trong sách sách Châm ngôn trong Thánh Kinh Cựu
Ước:
Hỡi con, hãy nghe lời khuyên dạy của cha, chớ bỏ các phép tắc của mẹ con
Hỡi con hãy nghe lời khuyên dạy của một người cha, khá chú ý vào
hầu cho biết sự thông sáng.
Kẻ hảm hại cha mình và xô đuổi mẹ mình là một con trai gây xấu hổ, gom
góp sỉ nhục
Ngọn đèn của kẻ rủa sả cha mẹ mình sẽ tắc giữa vùng tăm tối mờ mịt
Hãy nghe lời cha đã sanh ra con, chớ khinh bỉ mẹ con khi người trở
nên già yếu.
Trong những lời dạy về bổn phận giữa người đối với người, Thánh Kinh
luôn luôn nói đến sự hỗ tương, nghĩa là người này có bổn phận với người kia thì
người kia cũng phải có bổn phận với người này. Nếu con cái có bổn phận đối với
cha mẹ thì cha mẹ cũng có trách nhiệm đối với con cái Cha mẹ có niềm tin Cơ
Đốc biết xem con cái là sự ban cho của Thiên Chúa và họ có trách nhiệm nuôi
nấng con cái. Không những chỉ lo cho con có đủ thức ăn và quần áo mặc, cha mẹ
có trách nhiệm bảo vệ con khỏi những nguy hiểm trong đời sống, ngoài ra họ còn
hướng dẫn, dạy dỗ, làm gương, nâng đỡ, khích lệ, thông cảm, gần gũi và yêu
thương con, cha mẹ còn có trách nhiệm hướng dẫn con trong đời sống đức tin để
con nên người trưởng thành, hữu dụng cho Chúa và cho người xung quanh. Tục
tảo hôn và tệ hắt hủi con gái cũng bị cấm.
d.Chính trị:
Có lẽ nhân tố quan trọng nhất giúp Cơ Đốc giáo được chấp nhận rộng rãi tại
Hàn Quốc là nhiều tín hữu Cơ Đốc đã gắn bó với chính nghĩa đấu tranh cho dân
tộc Hàn trong thời kỳ đất nước này bị Nhật Bản chiếm đóng (1905–1945). Khi ấy,
người dân phải chịu đựng nhiều thống khổ; có đến bảy triệu người bị lưu đày hoặc
bị trục xuất khỏi quê hương cùng lúc với một chiến dịch có hệ thống nhằm xóa bỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status