ĐỀ TÀI
Tìm hiểu về thực trạng giải quyết tranh
chấp trong lĩnh vực chứng khoán và
đưa ra ý kiến pháp lý để hạn chế và giải
quyết tốt các tranh chấp
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Thị trường chứng khoán được coi là môi trường đầu tư kinh doanh phức tạp và
nhạy cảm, số lượng người tham gia đông đảo, giá trị đầu tư lớn cùng với độ rủi ro
cao, kéo theo sự cạnh tranh gay gắt trong các mối quan hệ lợi ích được thiết lập trên
thị trường. Do vậy tranh chấp là hiện tượng tất yếu xảy ra. Tuy nhiên thời gian qua
tranh chấp trên thị trường chứng khoán diễn ra ngày một phức tạp liên quan đến nhiều
đối tượng khác nhau, như giữa các nhà đầu tư, giữa nhà đầu tư với công ty chứng
khoán, giữa doanh nghiệp với cổ đông…Vậy nguyên nhân của tình trạng trên là do
đâu? Thực trạng giải quyết tranh chấp đó như thế nào? Các giải pháp nhằm hạn chế và
giải quyết tốt tranh chấp là gì? Đó là nội dung em xin trình bày trong bài tập lớn học
kì của mình với đề tài : “Tìm hiểu về thực trạng giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực
chứng khoán và đưa ra ý kiến pháp lý để hạn chế và giải quyết tốt các tranh chấp”.
Do thời gian ngắn, kiến thức còn hạn chế nên bài làm của em còn nhiều thiếu sót. Em
rất mong được các thầy cô trong tổ bộ môn chỉ dạy thêm để em hoàn thiện bài làm
của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. Một số vấn đề lý luận.
1. Khái niệm tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán.
Luật chứng khoán năm 2006 không đưa ra khái niệm cụ thể về thế nào là tranh
chấp trong lĩnh vực chứng khoán. Tuy nhiên có thể hiểu : “Tranh chấp trên thị
trường chứng khoán là những xung đột về quyền và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể
khi tham gia thị trường chứng khoán và được thể hiện bên ngoài dưới dạng nhu cầu
cần giải quyết thông qua hình thức nhất định theo quy định của pháp luật” (trang 415
– giáo trình Luật chứng khoán, trường Đại học Luật Hà Nội).
quyết bằng thương lượng thường được áp dụng với tranh chấp đơn giản, giái trị tranh
chấp không lớn.
Thực tiễn cho thấy giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng là hình thức
được sử dụng phổ biến nhất, chiếm tỷ trọng gần như quyết định trên thị trường chứng
khoán hiện nay. Điều này xuất phát từ chính ưu điểm của phương thức này là không
có sự xuất hiện của bên thứ 3, uy tín của các bên không bị ảnh hưởng (đây lại là vấn
đề được đặc biệt quan tâm bảo vệ khi thị trường có tính cạnh tranh cao). Điều đó cũng
lí giải vì sao trong thời gian qua, mặc dù thực tế có nhiều tranh chấp nhưng không
được đề cập trên các phương tiện thông tin đại chúng.
3
2. Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải.
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp trong đó các bên tự thỏa thuận để
thống nhất lựa chọn giải pháp chấm dứt xung đột với sự hỗ trợ của người thứ ba đóng
vai trò là trung gian hòa giải (hòa giải viên). Đối với việc giải quyết tranh chấp thị
trường chứng khoán giữa các thành viên, trung tâm giao dịch chứng khoán có thể làm
trung gian hòa giải. Khoản 8 Điều 37 LCK không quy định Sở giao dịch CK hoặc
trung tâm giao dịch CK có thể làm trung gian hòa giải nếu được thành viên yêu cầu
đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch CK. Quy định này cho thấy rất nhiều tranh
chấp khác phát sinh trên thị trường chứng khoán có thể thực hiện hòa giải bởi các hòa
giải viên khác. Chẳng hạn như tranh chấp phát sinh trong quá trình tư vấn đầu tư, bảo
lãnh phát hành, quản lý quỹ đầu tư hay danh mục quản lý quỹ đầu tư CK, tranh chấp
phát sinh trong quá trình lưu kí CK.
Cũng giống như quốc gia có thị trường trung tâm giao dịch CK Việt Nam
thành lập ban hòa giải nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết tranh
chấp bằng con đường này.
Hình thức hoà giải phải có sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian, có
nhiệm vụ giúp đỡ, hỗ trợ các bên trong quá trình đàm phán để nhanh chóng tìm ra giải
pháp thích hợp, Xem xét các văn bản pháp lý cao nhất về CK và TTCK từ trước đến
nay cho thấy, pháp luật luôn ghi nhận vai trò trung gian hào giải của Sở giao dịch CK.
Trung tâm giao dịch CK đối với những tranh chấp liên quan đến hoạt động giao dịch
giữa hai công ty CK với nhau, công ty CK chỉ nhập lệnh vào hệ thống giao dịch của
trung tâm để trung tâm xác nhận kết quả giao dịch. Đối với phương thức khớp lệnh,
căn cứ vào lệnh ( mua hoặc bán CK ) của khách hàng, công ty CK nhập lệnh vào hệ
thống giao dịch tại trung tâm để tiến hành khớp lệnh trên cơ sở ưu tiên về giá. Quy
trình giao dịch CK kết thúc bằng thủ tục chuyển giao CK và thanh toán tiền giữa
trung tâm lưu ký CK và ngân hàng chỉ định thanh toán. Tranh chấp liên quan đến hoạt
động giao dịch CK có thể phát sinh tại bất kỳ giai đoạn nào trong quy trình giao dịch
trên giữa các chủ thể là công ty CK, nhà đầu tư, tổ chức thanh toán và tổ chức có CK
giao dịch. Khi xảy ra tranh chấp, các chủ thể này đều có quyền đề nghị trung tâm tiến
hành hoà giải vì quy định nêu trên không xác định rõ quyền đề nghị thuộc chủ thể
nào. Nếu xem xét quy định của pháp luật Việt nam về vai trò trung gian hòa giải của
các tổ chức như Sở giao dịch CK, trung tâm giao dịch Ck trong mối tương quan với
pháp luật của các quốc gia thì đây là quy định có tính kế thừa thành tựu lập pháp của
các nước. Hầu hết các nước có TTCK phát triển lâu đời hay vừa hình thành đều ghi
nhận quy định trên. Bên cạnh đó pháp luật của một số nước còn ghi nhận vai trò hòa
5
giải các tranh chấp trên TTCK cho một số tổ chức khác. Ví dụ: Luật CK Hàn Quốc
quy định rõ về Ủy ban hòa giải TC về CK và thủ tục hòa giải TC về CK….
3. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông
qua hoạt động của trọng tài viên (với tư cách là bên thứ ba độc lập) nhằm chấm dứt
xung đột bằng việc đưa ra các phán quyết có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Trên
thế giới, trọng tài được sử dụng phổ biến để giải quyết các tranh chấp trên thị trường
chứng khoán nói riêng và tranh chấp trong kinh doanh nói chung bởi tranh chấp luôn
được giải quyết tận gốc bằng phán quyết chung thẩm, có tính bắt buộc chung trong
khi thởi gian và chi phí không cao, thủ tục đơn giản, không cứng nhắc. Tuy nhiên khi
đã lựa chọn hình thức trọng tài, các bên đương nhiên mất quyền khởi kiện vụ tranh
chấp ra tòa án.
- Giải quyết tranh chấp trên TTCK tại trọng tài thương mại phải tuân theo
trình tự thủ tục luật định. Do pháp luật chuyên ngành không có quy định riêng nên
coi là vô hiệu và khi đó tòa án sẽ có thẩm quyền giải quyết.
Do một số hạn chế nhất định cùng tập quán và thói quen nên ở nước ta trọng
tài thương mại thường không được các bên lựa chọn để giải quyết các tranh chấp
trong lĩnh vực chứng khoán nói riêng và các tranh chấp thương mại nói chung.
Qua số liệu thống kê của các năm cho thấy số lượng các vụ tranh chấp chứng
khoán được giải quyết tại các trung tâm trọng tài thấp hơn rất nhiều so với số lượng
các vụ tranh chấp chứng khoán được giải quyết tại tòa án. Cùng với các tranh chấp
trong lĩnh vực chứng khoán, các tranh chấp trong các lĩnh vực thương mại khác đã
khiến hệ thống tòa án trở nên quá tải, dẫn đến tăng lượng vụ tồn đọng, không kịp giải
quyết, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
4. Giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
Với mục đích tạo một mặt bằng thông thoáng về mặt thủ tục giải quyết tranh
chấp tại tòa án và hình thành một nền văn hóa tư pháp công bằng, lành mạnh thông
qua hoạt động xét xử, Quốc hội đã ban hành Bộ luật tố tụng dân sự 2005, quy tụ các
thủ tục tố tụng gần nhau vào thành một mối. Phạm vi điều chỉnh của Bộ luật không
chỉ giới hạn trong khuôn khổ các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự mà còn mở rộng
sang các quan hệ tố tụng kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình. Do vậy, mọi tranh
chấp xảy ra trên TTCK đưa ra giải quyết tại tòa án tuân theo một trình tự tố tụng
chung, thống nhất trên cơ sở Bộ luật tố tụng dân sự.
Giải quyết tranh chấp tại tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp theo đó một
bên bằng đơn kiện yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và tòa án theo
7
thủ tục luật định sẽ đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên. Lựa
chọn hình thức này, các bên phải tuân theo trình tự, thủ tục pháp lý phức tạp, thời gian
bị kéo dài, công sức và chi phí cao. Do vậy giải quyết tranh chấp bằng tòa án chủ yếu
trong các trường hợp, hòa giải không thành hoặc không thể áp dụng hình thức trọng
tài (do không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
- Về thẩm quyền của tòa án:
+ Theo vụ việc: căn cứ vào điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự, có thể xác định
tranh chấp trên thị trường chứng khoán thuộc thẩm quyền của tòa kinh tế và tòa dân
1 Điều 168 Bộ luật TTDS). Sau khi thụ lý vụ án, tòa án sẽ tiến hành một số công việc
cần thiết để chuẩn bị cho phiên tòa xét xử. Điểm đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử là trách nhiệm hòa giải của tòa án, cụ thể là của thẩm phán được giao giải quyết vụ
án. Pháp luật hiện hành quy định rõ, trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, tối đa là
6 tháng (kể từ ngày thụ lý) đối với tranh chấp về dân sự và 3 tháng đối với tranh chấp
về kinh doanh thương mại, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với
nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến
hành hòa giải được. Trong trường hợp hòa giải thành, thẩm phán lập biên bản hòa giải
thành. Các bên được pháp luật dành cho một khoảng thời gian cần thiết là 7 ngày (kể
từ ngày lập biên bản hòa giải thành) để suy nghĩ và cân nhắc nhữn nội dung đã thỏa
thuận. Hết thời hạn đó mà không có bên nào thay đổi ý kiến thì thẩm phán mới ra
quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định này có hiệu lực
pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm nhưng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng
sự thỏa thuận đó là do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Trường hợp hòa giải không thành, thẩm phán sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Phiên tòa sơ thẩm diễn ra công khai theo thời gian và địa điểm do thẩm phán ấn định.
Đương sự có thể tự mình tham gia hoặc cử người đại diện và có quyền tranh luận tại
phiên tòa. Đây được coi là “hoạt động trung tâm của phiên tòa, bảo đảm cho đương
sự bảo vệ được quyền và lợi ích hơp pháp của mình trước tòa án”. Theo quy định, hội
đồng xét xử gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Hội đồng xét xử làm việc
tập thể và ra bản án giải quyết vụ tranh chấp theo nguyên tắc đa số dựa trên kết quả
của việc hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Bản án có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với
các bên và được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà nước mà đại diện là cơ quan thi
hành án. Tuy nhiên, nếu không đồng ý với quyết định phân xử của tòa án, các bên
tranh chấp có quyền kháng cáo trong thời gian luật định theo thủ tục phúc thẩm. Đây
chính là điểm khác biệt cơ bản giữa bản án của tòa án và phán quyết của trọng tài, bởi
9
phán quyết của trọng tài có giá trị trung thẩm, các bên không có quyền kháng cáo.
Quy định thủ tục kháng cáo trong tố tụng tòa án thể hiện tính chất hai mặt, vừa tạo cơ
10
Với tư cách là luật sư hoạt động trong lĩnh vực tài chính, Luật sư Trương
Thanh Đức, Giám đốc Ban pháp chế, Ngân hàng Bảo Việt lý giải, người bị hại, nhất
là NĐT khó tìm đến Toà để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình không phải do khó
khăn trong thu thập chứng cứ, vì rất nhiều vụ chứng cứ đã có đầy đủ. Lý do chủ yếu
là bởi thủ tục khởi kiện và giải quyết tranh chấp của Toà án quá phức tạp, kéo dài.
Tâm lý của người đi kiện thường muốn giải quyết nhanh tranh chấp, trong khi dù có
thắng kiện ở Toà án cũng chưa chắc thu hồi được tiền hoặc phải chịu cảnh theo kiện
nhiều năm, làm mất hết cơ hội đầu tư, nên khiến người bị hại ngán ngại tìm đến tòa.
* NHẬN XÉT CHUNG:
Có thể nhận thấy tranh chấp trên thị trường chứng khoán thời gian vừa qua
diễn ra khá phức tạp. Các tranh chấp khá mới và có xu hướng tăng mạnh. Ông Trần
Vũ Hải, Trưởng Văn phòng Luật sư Trần Vũ Hải, là một nhà đầu tư chứng khoán
không thành công, nhưng lại khá “phát” trên thị trường chứng khoán với vai trò một
luật sư, bởi có rất nhiều việc để làm.
Theo ông Hải, thời gian qua, do những kẽ hở về pháp lý, nên đã xuất hiện khá
nhiều tranh chấp trên thị trường chứng khoán, liên quan đến nhiều đối tượng khác
nhau, như giữa các nhà đầu tư, giữa nhà đầu tư với công ty chứng khoán, giữa doanh
nghiệp với cổ đông… Vì thế, các luật sư như ông làm không hết việc.
Theo các chuyên gia về pháp luật, trên thị trường chứng khoán đang xuất hiện
những tranh chấp rất phức tạp, nhiều vụ việc tưởng chừng đã xử lý xong, toà đã tuyên
án rồi, nhưng hệ quả còn kéo dài, để lại tiền lệ xấu trong xã hội.
III. Ý kiến pháp lý để hạn chế và giải quyết tốt các tranh chấp.
1. Bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về hạn chế và giải quyết các
tranh chấp trên thị trường chứng khoán.
Việc hoàn thiện pháp luật cần được triển khai theo các hướng sau:
a. Quy định rõ về việc xác định thiệt hại để xác định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong các vụ tranh chấp.
Theo quy định hiện hành của Luật chứng khoán, việc giải quyết tranh chấp trên
thị trường chứng khoán sẽ được thực hiện theo thứ tự ưu tiên thông qua các con
Ví dụ: giả sử mối quan hệ giữa công ty chứng khoán A và khách hàng B là
hợp đồng dịch vụ môi giới. Ngày 1/1/2007 khách hàng B đặt lệnh bán 10.000 cổ
phiếu X, giá 150.000 VNĐ/ cổ phiếu, nhưng công ty chứng khoán A nhậ lệnh mua
10.000 cổ phiếu với giá 155.000 VNĐ/ cổ phiếu, lệnh được khớp. Giá cổ phiếu X có
xu hướng giảm mạnh, khách hàng B thấy bị thiệt hại, vào ngày 4/1/2007 đã kiện ra
tòa, tại thời điểm này giá cố phiếu X là 120.000 VNĐ/ cổ phiếu. Ngày 4/2/2007 tòa án
12
kết luận công ty chứng khoán A có hành vi vi phạm, gây thiệt hại và phải bồi thường
cho khách hàng, lúc này giá cổ phiếu X là 130.000 VNĐ/ cổ phiếu. Vậy công ty
chứng khoán A phải bồi thường cho khách hàng bằng cách nào và bồi thường bao
nhiêu??? Có một số vấn đề cần xem xét trong trường hợp này: Thứ nhất: hành vi của
công ty chứng khoán A có thể đã gây ra 2 loại thiệt hại cho khách hàng, đó là: thiệt
hại không bán được chứng khoán với giá tốt và mua phải chứng khoán với gíá cao,
vậy công ty chứng khoán sẽ hủy bỏ giao dịch sai bằng cách mua lại 10.000 cố phiếu
với giá 155.000 VNĐ/ cổ phiếu và thực hiện lệnh bán của khách hàng bằng cách mua
10.000 cổ phiếu với giá 150.000 VNĐ/ cổ phiếu hay bồi thường thiệt hại cho khách
hàng một khoản xác định bằng tổng thiệt hại trên cơ sở chênh lệch giá. Thứ hai: nếu
xác định thiệt hại là chênh lệch giữa giá trị đã giao dịch và giá thị trường được tính tại
thời điểm khởi kiện hay thời điểm tòa án đưa ra quyết định.
Hiện nay các vấn đề này chưa được pháp luật quy định rõ ràng cho nên không
có căn cứ pháp lý để giải quyết. Trong khi trên thực tế, những tranh chấp như vậy có
thể diễn ra rất phổ biến trên thị trường nhiều khi còn phức tạp hơn. Giả sử chứng
khoán trong ngày 2/1/2007 tăng lên 160.000VNĐ/ cổ phiếu, khách hàng thấy giao
dịch chênh lệch sai được khớp là có lợi nên không có yêu cầu gì với công ty chứng
khoán. Đến ngày 4/1/2007 khi giá giảm mạnh, khách hàng mới phản ánh việc nhập sai
với công ty chứng khoán và không được chấp nhận. Trong tình huống này, liệu có
mặc nhiên coi như khách hàng đã chấp nhận giao dịch bị nhầm vì không có khiếu nại
ngay đến công ty chứng khoán hay không??? Đây là vấn đề cần được pháp luật quy
định cụ thể.
Qua sự phân tích trên ta thấy cần hoàn thiện các cơ sở pháp lý cho vấn đề này
thập thông tin, chứng cứ, số liệu cần phải thực hiện, còn cần đến hoạt động phân tích
dữ liệu đó để chứng minh các hành vi vi phạm ẩn giấu đằng sau đó. Công việc này
cần có sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán. Hoạt động của cơ
quan điều tra cần được tổ chức toàn diện, bao gồm các hoạt động kiểm tra, giám sát,
thanh tra, điều tra. Các hoạt động này sẽ nâng cao tính tự chủ của hoạt động quản lý
nhà nước, đồng thời hỗ trợ cho hoạt động tố tụng sau này khi có tranh chấp xảy ra
trên thị trường.
Thứ hai: cần hoàn thiện các thiết chế bổ trợ và xây dựng mô hình giám sát thị
trường toàn diện. Về mô hình giám sát thị trường, rõ ràng sẽ không đạt hiệu quả tối
đa nếu chỉ thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán. Điều đó cho thấy
rằng để có được mô hình giám sát thị trường toàn diện và hiệu quả, nhất thiết phải tạo
14
được sự liên kết linh hoạt từ các mắt xích hay các thành tố chủ yếu của thị trường
như UBCDCK, SGDBDS, TTGDCK, các chủ thể, các nguồn thông tin, các biến động
của thị trường để hạn chế tới mức thấp nhất các tranh chấp xảy ra.
d. Cần bổ sung luật
Thiết nghĩ rằng trong tương lai không xa sẽ phát sinh loại tranh chấp mới là
các cổ đông yêu cầu tòa buộc hội đồng quản trị cũ phải bồi thường thiệt hại do việc ký
kết hợp đồng cũ bị tranh chấp hoặc chưa giải quyết xong làm ảnh hưởng đến hoạt
động của công ty. Nội dung này luật chưa quy định cụ thể. Hay các tranh chấp liên
quan đến việc thành lập, giải thể, chia tách… một số loại hình như trường tư thục,
trường dân lập… trong khi các mô hình tổ chức này chưa được quy định trong Luật
Doanh nghiệp khiến tòa án gặp khó khăn. Do đó cần phải bổ sung khoản 3 Điều 29,
hướng dẫn cụ thể cho khoản 4 Điều 29 và khoản 4 Điều 30 BLTTDS. Điều 56
BLTTDS cũng cần được bổ sung thuật ngữ bên yêu cầu và bên liên quan để gọi các
bên đương sự cho phù hợp.
2. Thành lập tòa án riêng dành cho chứng khoán và đơn giản hóa các thủ tục.
Có nên chăng trong tương lai cần lập một tòa án riêng chuyên giải quyết các vụ
về giao dịch nội gián, giao dịch không công bằng trong hoạt động chứng khoán. Mặt
khác cũng cần tăng cường năng lực của các hiệp hội bảo vệ cổ đông và hiệp hội này
thiếu hiểu biết về lĩnh vực chứng khoán. Chính điều này đã góp phần tạo ra các tranh
chấp không đáng trên thị trường chứng khoán. Việc áp dụng các biện pháp nhằm nâng
cao năng lực đầu tư của nhà đầu tư để phòng ngừa ngay từ đầu tranh chấp xảy ra.
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ.
Là một lĩnh vực mới mẻ và nhiều tiềm năng chúng ta luôn hy vọng chứng
khoán Việt Nam sẽ phát triển thịnh vượng trong những năm tới.
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật chứng khoán, trường ĐH Luật HN, NXB CAND – HN 2008.
2. Luật chứng khoán 2006.
3. Bộ luật tố tụng dân sự 2004.
4. Luật doanh nghiệp 2005.
5. Dương Quỳnh Nga “ Hiệu ứng của luật chứng khoán trước yêu cầu bảo vệ quyền
lợi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán” – khóa luận tốt nghiệp, HN 2007.
6. Các bài viết trên các báo, tạp chí và các trang web về chứng khoán.
17