LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Tổ chức thương mại thế giới WTO và
tác động của nó đối với các nước
đang phát triển
1
MỤC LỤC
Mục lục 1
Lời mở đầu 3
Chương 1: Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO
1.1Sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới WTO 5
1.1.1Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT- tổ chức tiền thân
của WTO … 5
1.1.2Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO 12
1.2 Mục tiêu,chức năng và các nguyên tắc của WTO ……. 18
Chương 2:Tác động của WTO đối với các nước đang phát triển
2.1 Những ảnh hưởng của WTO đến các nước đang phát triển
2.1.1 Những ảnh hưởng tích cực
2.1.2 Những ảnh hưởng tiêu cực
2.2 Những cơ hội và thách thức đặt ra với các nước đang phát
triển trong quá trình thực hiện một số Hiêp định của WTO.
2.2.1 Hiệp đinh về tự do hàng nông sản
2.2.2 Hiệp định hàng dệt may
2.2.3 Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ GATS
2.2.4 Hiệp định về đàu tư liên quan đến thương mại TRIMs
2.2.5 Hiệp định về quyền sở hữu trú tuệ liên quan đến thương
mại TRIPS
2.3 Các giải pháp nhằm đem lại lợi ích cao hơn cho các nước đang
phát triển
2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến sự thiệt thòi của các nước đang phát
triển
UNCTAD :United Nations Conference on Trade and Development -
WTO :World Trade Organization - Tổ chức thương mại quốc tế .
4
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) kế
thừa Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) bắt đầu hoạt động từ
1/1/1995 nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của hệ thông thương mại
đa biên, đảm bảo cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ dần các rào cản trong
thương mại quốc tế. Từ đó cho đến nay, WTO đã không ngừng mở rộng cả vế quy
mô lẫn phạm vi hoạt động của mình, đã thực sự khẳng định được vai trò quan
trọng của mình trong quá trình tự do hoá thương mại quốc tế.
Cùng với hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, các Hiệp định của mình,WTO đã
tạo ra một hành lang pháp lý để từ đó các nước có thể đẩy nhanh tiến hành tiến
trình toàn cầu hoá, tự do thương mại, đồng thời tiếp nhận những cơ hội thuận lợi
để phát triển nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, hoạt động của WTO cùng với hệ
thông các nguyên tắc và hiệp định của mình không phải lúc nào cũng có lợi và
đảm bảo được sự công bằng cho các nước thành viên, đặc biệt là đối với các nước
đang phát triển.
Để có thể tìm hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng của WTO đến sự phát triển nền
kinh tế của các nước đang phát triển, em đã lựa chọn đề tài:
Tổ chức thương mại thế giới WTO và tác động của nó
đối với các nước đang phát triển.
làm khoá luận tốt nghiệp. Ngoài phần mở đầu, kết luận, và phụ lục, nội dung của
khoá luận được chia làm ba chương:
Chương 1 : Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO.
Chưong 2 : Tác động của WTO đến các nước đang phát triển.
Chương 3: Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam, những cơ hội và thách
thức.
Với những kiến thức đã được trang bị trong 4 năm qua tại Khoa Kinh tế Đại
học Quốc Gia-Hà Nội, cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn Khu
Các nước này mong muốn nhanh chóng thúc đẩy tự do hoá mậu dịch, khôi phục
lại nền kinh tế bị phá huỷ nặng nề sau chiến tranh thế giới thứ II.
6
Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại thế giới đã được thoả thuận tại
Hội nghị Liên hợp Quốc tế về thương mại và việc làm tại Havana từ 11/1947 đến
24/3/1948, nhưng do một số nước không tán thành nên việc hình thành tổ chức
thương mại thế giới (ITO) đã không thực hiện được. Tuy nhiên kết quả của cuộc
đàm phán cũng đem lại sự thành công nhất định; đã có 45000 nhượng bộ về thuế
quan, ảnh hưởng đến khối lượng thương mại trị giá 10 tỉ $, tức là gần 1/5 tổng
thương mại trên thế giới. 23 nước này đều cùng nhất trí chấp nhận ủng hộ một số
quy định trong hiến chương của ITO. Các quy định này sẽ được thực hiện hết sức
nhanh chóng một cách tạm thời để có thể bảo vệ được thành quả của những cam
kết thuế quan đã được đàm phán. Kết hợp của những qui định thương mại và cam
kết thuế quan được biết đến dưới tên gọi Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GATT). Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 11/1/1948. 23 nước
tham gia trở thành những thành viên sáng lập GATT, hay còn gọi là "các bên tham
gia hiệp định". Mặc dù GATT chỉ mang tính tạm thời nhưng đây vẫn là công cụ
duy nhất mang tính đa biên điều tiết thương mại thế giới kể từ năm 1948 cho đến
khi WTO được thành lập vào năm 1995 và trong suốt thời gian đó các văn bản
pháp lý của GATT vẫn được duy trì gần giống năm 1948. Có thêm một số hiệp
định mới được đưa vào dưới dạng hiệp định "nhiều bên" và các nỗ lực cắt giảm
thế quan vẫn được tiếp tục. Tất cả những bước tiến lớn của thương mại quốc tế đã
diễn ra thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa biên được biết đến dưới cái
tên "vòng đàm phán thương mại".
7
Bảng 1: Các vòng đàm phán của GATT
Năm Địa điểm Chủ đề đàm phán Số
nước
1947 Geneva Thuế quan 23
1949 Annecy Thuế quan 13
8
các trường hợp thì chỉ có một số nước rất nhỏ, chủ yếu là các nước công nghiệp
phát triển chấp nhận tham gia vào các hiêp định mới này vì họ là những người
được lợi ích nhiều nhất. Do đó, các hiệp định này chỉ được gọi là "hệ thống qui
tắc". Những qui tắc này không mang tính chất đa biên, nhưng đây là một bước
khởi đầu mới.
Các "hệ thống qui tắc" của vòng Tokyo:
+ Trợ cấp và các biện pháp đổi kháng - diễn giải điều 6.16 và 23 hiệp định
GATT.
+ Các hàng rào kỹ thuật đổi với thương mại - còn được gọi là: Hiệp định về
tiêu chuẩn.
+ Các thủ tục cấp phép nhập khẩu.
+ Mua sắm chính phủ.
+ Định giá hải quan - diễn giải điều 7.
+ Chống phá giá - diễn giải điều 6, thay cho qui định vòng Kenedy.
+ Thoả thuận về sữa quốc tế.
+ Thương mại máy bay dân dụng.
Một số hệ thống qui tắc sau vòng đàm phán Uuguay đã được điều chỉnh lại và
được cam kết mang tính chất đa biên buộc các nước thành viên phải cùng nhau
thực hiện. Chỉ có 4 hiệp định: mua sắm chính phủ, máy bay dân dụng cho đến hiện
nay vẫn mang tính nhiều bên. Vào năm 1997, hai hiệp định về thịt bò và sữa đã
được huỷ bỏ.
Cho đến hết vòng đàm phán Tokyo, GATT hoạt động mang tính tạm thời và
có phạm vi hoạt động hạn chế. Tuy nhiên, GATT đã đem lại những thành công rất
lớn trong việc đảm bảo tự do hoá phần lớn thương mại quốc tế. Chỉ tính đến việc
cắt giảm thuế quan đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trung bình của thương mại thế
giới lên mức trung bình trong suốt thập niên 50-60.
Chính tốc độ tự do hoá mậu dịch đã giúp cho tốc độ tăng trưởng của thương
mại luôn luôn vượt qua tốc độ tăng trưởng kinh tế trong suốt thời kỳ GATT tồn
tại. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều nước đệ đơn tham gia xin gia nhập đã cho thấy
Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hoá GATT cũng còn
nhiều bất cập, ví dụ đối với lĩnh vực nông nghiệp, những lỗ hổng của hệ thống
10
thương mại đa biên đã bị lợi dụng triệt để và mọi nỗ lực nhằm tự do hoá hàng
nông sản đã không đạt được thành công. Trong lĩnh vực hàng dệt may cũng vậy,
các nước đã cùng nhau miễn trừ các nguyên tắc của GATT và đưa ra một hiệp
định mới là Hiệp định đa sợi.
Thứ tư, cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng gây ra
nhiều lo ngại. GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia không mang tính chất bắt
buộc do vậy các nước có thể tuân theo và cũng có thể không. Bên cạnh đó, thương
mại quốc tế trong những năm 80 trở đi đòi hỏi phải có một tổ chức cố định, có nền
tảng pháp lý vững chắc để có thể đảm bảo thực thi các quy định, các nguyên tắc
chung của thương mại quốc tế. Về hệ thống các quy chế giải quyết tranh chấp,
GATT cũng chưa có cơ chế chặt chẽ, chưa có thời gian biểu nhất định do vậy các
cuộc tranh chấp thường bị kéo dài, dễ đi vào ách tắc.
Đây là những nhân tố khiến cho các thành viên của GATT tin rằng phải có
những nỗ lực mới nhằm củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên. Những
nỗ lực đó đã dẫn đến kết quả có vòng đàm phán Uruguay, tuyên bố Marrakesh và
việc tổ chức thương mại thế giới WTO ra đời.
1.1.2 Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO.
1.1.2.1 Vòng đàm phán Uruguay.
Vòng đàm phán Uruguay là vòng đàm phán lớn nhất cả về thời gian và các
lĩnh vực thương mại. Vòng này kéo dài 7 năm rưỡi, gần bằng 2 lần thời gian dự
định ban đầu. Đến cuối vòng đàm phán số nước tham dự đă lên tới 125 nước; đây
thực sự là vòng đàm phán thương mại lớn nhất từ trước tới nay và có lẽ đây cũng
là cuộc đàm phán thuộc loại lớn nhất trong lịch sử.
Một số thời điểm chủ chốt của vòng Uruguay:
Tháng 9/86 Punta del Este: bắt đầu.
Tháng 12/88 Montreal: rà soát giữa kỳ của các bộ trưởng.
Tháng 4/89 Geneva: Rà soát giữa kỳ hoàn thành.
các vị bộ trưởng đều thống nhất thông qua hầu hết các kết quả ban đầu gồm : các
nhượng bộ mở cửa thị trường cho hàng nhiệt đới nhằm mục đích giúp đỡ các nước
đang phát triển; cơ chế giải quyết tranh chấp được đơn giản hóa và một cơ chế rà
soát chính sách thương mại. Từ trước đến nay, đây là lần đầu tiên đưa ra được một
12
cơ chế thường xuyên, mang tính hệ thống và toàn diện để rà soát chính sách và
thực hành thương mại đối với các nước thành viên của GATT. Vòng đàm phán
này đã dự định kết thúc tại Brussels vào tháng 12 năm 1990, nhưng do bất đồng
quan điểm giữa các bên về cách thức tiến hành cải cách hệ thống thương mại hàng
nông sản nên đã phải kéo dài. Đây là thời kỳ vòng Uruguay đang đi vào giai đoạn
khó khăn nhất. Cho dù viễn cảnh chính trị đen tối, một khối lượng công việc kỹ
thuật đáng kể đã được thực hiện và dẫn đến kết quả là có một dự thảo hiệp định
pháp lý cuối cùng, dự thảo này được gọi là “Dự thảo luật cuối cùng”. Dự thảo này
được đệ trình tại Geneva vào năm 1991. Dự thảo đã hoàn tất được tất cả các mục
tiêu đề ra tại Punta del Este, ngoại trừ danh mục cam kết cắt giảm thuế quan và mở
cửa thị trường dịch vụ của các nước. Dự thảo này đã trở thành cơ sở để có được sự
thống nhất cuối cùng.
Trong vòng hai năm tiếp theo, các cuộc đàm phán đã đứng giữa hai ngả, một bên
là thất bại cận kề, một bên là thành công với tới được. Một vài thời hạn cuối cùng
được đưa ra và bị vượt quá. Tại vòng đàm phán đã nảy sinh những bất đồng quan
điểm bên cạnh vấn đề nông nghiệp ; đó là dịch vụ, mở cửa thị trường, các qui tắc
chống bán phá giá và đề xuất về việc thành lập một tổ chức thương mại mới. Tại
đây, bất đồng quan điểm của Mỹ và EU chính là nguyên nhân quan trọng nhất
khiến cho vòng đàm phán chưa thể kết thúc thành công được.
Tháng 11 năm 1992, Mỹ và EU đã thống nhất được phần lớn sự khác biệt
trong lĩnh vực nông nghiệp, cả hai đã đưa ra được một thỏa thuận mang tên “Thỏa
thuận Blair House”. Đến tháng 7 năm 1993, nhóm Quad ( Mỹ, EU, Nhật, Canada )
tuyên bố đã đạt được những thỏa thuận đáng kể trong đàm phán thuế quan và các
vấn đề liên quan đến mở cửa thị trường. Đến 15 tháng 12 năm 1993 thì tất cả mọi
vấn đề đều được giải quyết và đàm phán về mở cửa thị trường cho hàng hóa và
+ Sản phẩm tài nguyên thiên nhiên
+ Hàng dệt may
+ Nông nghiệp
+ Sản phẩm nhiệt đới
+ Các điều khoản của GATT
14
+ Các hệ thống qui định của vòng đàm phán Tokyo
+ Chống phá giá
+ Trợ cấp
+ Tài sản trí tuệ
+ Các biện pháp đầu tư
+ Giải quyết tranh chấp
+ Hệ thống GATT
+ Dịch vụ.
1.2.2. Sự khác nhau giữa WTO và GATT
WTO là một tổ chức thương mại được thành lập trên cơ sở kế thừa GATT.
GATT sau WTO đã được sửa đổi, bổ sung và là một trong những hiệp định của
WTO. Sau đây là những khác biệt chủ chốt :
+ GATT chỉ mang tính chất tạm thời. Hiệp định chung về thương mại và thuế
quan chưa bao giờ được quốc hội các nước phê chuẩn; nó không có qui định nào
về việc thành lập một tổ chức nhất định.
WTO và các hiệp định của nó mang tính thường trực lâu dài. WTO là một tổ
chức quốc tế được thành lập bởi sự nhất trí của các quốc gia thành viên. WTO có
nền tảng pháp lý vững chức bởi vì các nước thành viên đã thông qua các hiệp định
và chính các hiệp định đã mô tả phương thức hoạt động của tổ chức. Các quốc gia
thành viên phải thực hiện đúng theo các qui định, nguyên tắc của WTO và các
hiệp định của nó.
+ GATT chỉ có "các bên tham gia ký kết", điều này cho thấy rõ ràng là GATT
chỉ mang tính chất một hiệp định. WTO có các nước thành viên và WTO là một tổ
chức quốc tế.
WTO dựa trên qui định luật pháp và giúp cho hệ thống thương mại an toàn và dễ
dự báo hơn. Hệ thống này dựa trên các qui tắc được xác định rõ ràng với cả biểu
thời gian để hoàn thành một vụ tranh chấp. Một nhóm chuyên gia sẽ được thành
lập cho mỗi tranh chấp. Nhóm này sẽ đưa ra các qui định đầu tiên và các thành
viên WTO có thể ủng hộ hay phản đối, các kháng cáo dựa trên luật là có thể chấp
nhận được. Các thành viên WTO đều nhất trí rằng khi mà một nước thành viên
16
khác đang vi phạm qui tắc thương mại, họ sẽ sử dụng hệ thống thương mại đa biên
để giải quyết tranh chấp thay cho việc thực hiện các hành động đơn phương.
Trước đây GATT có thủ tục để giải quyết tranh chấp nhưng nó chưa đưa ra
được thời gian biểu cụ thể, các qui định dễ bị cản trở và nhiều vụ vẫn không giải
quyết được sau một thời gian dài. WTO đã đưa ra một quy trình giải quyết tranh
chấp với thời gian và thủ tục được xác định rõ ràng hơn. Khoảng thời gian để giải
quyết một vụ tranh chấp dài hơn trước kia. Thời hạn cuối cùng cho mỗi giai đoạn
giải quyết tranh chấp rất linh hoạt. Hiệp định nhấn mạnh việc giải quyết nhanh
chóng là cần thiết. Các thủ tục và thời gian biểu phải được tuân theo trong quá
trình giải quyết.
WTO cũng không cho phép các nước thất bại trong vụ tranh chấp ngăn cản
việc thi hành quyết nghị. Theo thủ tục của GATT các quyết định chỉ có thể được
thông qua theo các thoả hiệp. Điều đó có nghĩa là chỉ cần một sự phản đối nào đó
cũng có thể ngăn việc thi hành quyết nghị. Nhưng hiện nay các quyết nghị được
thông qua một cách tự động, trừ khi có một thoả hiệp để từ chối một quyết nghị.
Bất kỳ một nước nào muốn ngăn cản một quyết nghị cũng cần phải thuyết phục
các thành viên khác (kể cả đối thủ) đồng ý với quan điểm của mình.
Tóm lại, hệ thống giải quyết tranh chấp được coi là một trong những thành
tựu lớn nhất của WTO.
1.2 Mục tiêu, chức năng và nguyên tắc hoạt động của WTO
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là cơ quan quốc tế duy nhất giải quyết
các qui định về thương mại giữa các quốc gia với nhau. Nội dung chính của WTO
là các hiệp định được hầu hết các nước có nền thương mại cùng nhau tham gia
viên và có khả năng làm cho mọi thành viên có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện.
Bất cứ một nước thành viên nào một khi đã thừa nhận "hiệp định WTO" và những
hiệp định phụ khác của WTO thì nước đó cần phải điều chỉnh hay chuyển các quy
định pháp luật và các thủ tục hành chính của mình theo các quy định của WTO.
Chức năng thứ ba của WTO: Là khả năng giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp
mậu dịch quốc tế. WTO có chức năng như là một toà án giải quyết các tranh chấp
nảy sinh giữa các thành viên trong các lĩnh vực liên quan. Bất cứ một thành viên
nào của WTO khi thấy lợi ích của nước mình đang bị xâm hại trong hoạt động
18
kinh tế ở một thị trường nào đó vì có thành viên khác đang thực hiện chính sách
trái với các qui tắc của WTO thì có quyền khởi tố lên cơ quan giải quyết mâu
thuẫn mậu dịch của WTO và yêu cầu nước đó ngừng các hoạt động kinh tế xâm
hại đến lợi ích của mình. Bất cứ thành viên nào cũng phải chấp nhận khi bị các
thành viên khác khởi tố lên WTO vì đây là một trong những nghĩa vụ của mọi
thành viên, không nước nào có thể tránh khỏi.
Chức năng thứ tư của WTO: Là phát triển nền kinh tế thị trường. Để nền kinh tế
thị trường hoạt động và nâng cao được hiệu quả, WTO xúc tiến việc giảm nhẹ qui
chế. Phần lớn các nước trước kia theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập
trung hiện nay đều đang chuyển sang nền kinh tế thị trường đã và đang làm thủ tục
để xin gia nhập WTO. Qua các cuộc đàm phán cần thiết để gia nhập WTO, các
nước này có thể tìm hiểu được về hệ thống kinh tế thị trường và đồng thời xắp xếp
lại những chế độ và qui tắc để có thể quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường.
1.2.3 Các nguyên tắc của WTO.
Các hiệp định của WTO mang tính chất lâu dài và phức tạp đó là vì những văn bản
pháp lý bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn. Các hiệp định này giải quyết
các vấn đề liên quan đến: nông nghiệp, hàng dệt may, ngân hàng, bưu chính viễn
thông, mua sắm chính phủ, tiêu chuẩn công nghiệp, các qui định về vệ sinh dịch
tễ, sở hữu trí tuệ và nhiều lĩnh vực khác nữa. Tuy nhiên có một số các nguyên tắc
hết sức cơ bản và đơn giản xuyên suốt tất cả các hiệp định. Các nguyên tắc đó
chính là nền tảng của hệ thống thương mại đa biên. Sau đây là chi tiết các nguyên
tắc này mặc dù hàng nội địa không chịu thuế tương tự.
Nguyên tắc thứ hai: Thương mại phải ngày càng được tự do thông qua đàm
phán.WTO đảm bảo thương mại giữa các nước ngày càng tự do hơn thông qua quá
trình đàm phán hạ thấp hàng rào thuế quan để thúc đẩy buôn bán. Hàng rào thương
mại bao gồm thuế quan, và các biện pháp khác như cấm nhập khẩu, quota có tác
dụng hạn chế nhập khẩu có chọn lọc, đôi khi vấn đề khác như tệ quan liêu, chính
sách ngoại hối cũng được đưa ra đàm phán.
Kể từ khi GATT, sau đó là WTO được thành lập đã tiến hành 8 vòng đàm phán
để giảm thuế quan, dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trường. Để thực
hiện nguyên tắc tự do thương mại này, WTO đảm nhận chức năng là diễn đàn đàm
20
phán thương mại đa phương để các nước có thể liên tục thảo luận về vấn đề tự do
hoá thương mại.
Nguyên tắc thứ ba: WTO tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng.
WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng
và không bị bóp méo. Các quy định về phân biệt đối xử được xây dựng nhằm đảm
bảo các điều kiện công bằng trong thương mại. Các đều khoản về chống phá giá,
trợ cấp cũng nhằm mục đích tương tự. Tất cả các hiệp định của WTO như Nông
nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đều nhằm mục
đích tạo ra được một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các
nước.
Nguyên tắc thứ tư: Tính tiên liệu được thông qua ràng buộc thuế. Các cam kết
không tăng thuế cũng quan trọng như việc cắt giảm thuế vì cam kết như vậy tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp có thể dự đoán tốt hơn các cơ hội trong tương lai.
Trong WTO, khi các nước thoả thuận mở cửa thị trường cho các hàng hoá và dịch
vụ nước ngoài, họ phải tiến hành ràng buộc các cam kết thuế. Đối với thương mại
hàng hoá, các ràng buộc này được thể hiện dưới hình thức thuế trần.
Một nước có thể thay đổi mức thuế ràng buộc, tuy nhiên điều này chỉ có thể thực
hiên được sau khi nước đó đã đàm phán với các nước bạn hàng và có nghĩa là phải
bồi thường cho khối lượng thương mại đã bị mất. Qua vòng đàm phán Uruguay,
quân của các nước đang phát triển luôn đạt khoảng từ 4% đến 5%. Tỷ trọng kinh
tế của các nước này trong nền kinh tế toàn cầu đã tăng lên nhanh chóng, từ 13%
năm 1995 lên 29% năm 1998 (chỉ 3 năm, sau khi WTO ra đời). Tỷ trọng trong
thương mại thế giới của các nước đang phát triển cũng tăng lên từ 11% đến 32%
trong cùng thời kỳ. Đến năm 2010, theo dự báo, tỷ lệ này có thể lên tới 45%. Đặc
biệt, các nền kinh tế Đông á trong nhiều năm liền có tốc độ tăng trưởng nhanh đã
đạt đến tỷ lệ 7%. Các nước Mỹ La Tinh cũng đạt mức tăng trưởng bình quân cao;
các nước Châu Phi đã dần dần bước ra khỏi tình trạng bi đát về kinh tế. Năm 1999,
Châu Phi đã đạt mức tăng trưởng 3,6% là mức cao nhất từ hơn một thập kỷ qua.
Một số nước đang phát triển có tốc độ phát triển cao đã trở thành một trong những
động lực thúc đẩy nền kinh tế thế giới. Đây là những con số tổng quan về những
thành công của hoạt động của tổ chức thương mại thế giới đối với các nước đang
phát triển, làm rõ thêm những ảnh hưởng tích cực của WTO đến các mặt của nền
kinh tế:
Thứ nhất, tất cả các hàng hoá và dịch vụ của các nước đang phát triển là thành
viên của WTO đều được đối xử theo các nguyên tắc, quy định của WTO; được đối
xử bình đẳng, không phân biệt đối với hàng hoá và dịch vụ của các nước phát
triển. Các loại hàng hoá và dịch vụ này khi được xuất khẩu sang bất kỳ một thị
trường của một nước thành viên nào kể cả Mỹ hay EU đều được hưởng mọi quyền
lợi mà chính phủ nước đó dành cho hàng hoá và dịch vụ nước mình.
23
Thứ hai, các rào cản thuế và phi thuế quan đều buộc phải cắt giảm, các biện
pháp hạn chế định lượng đều bị cấm sử dụng được áp dụng cho mọi thành viên
của WTO không loại trừ một thành viên nào của WTO. Do đó cơ hội xuất khẩu
của các nước đang phát triển gia tăng rõ rệt, thị trường tiêu thụ hàng hoá và dịch
vụ được mở rộng. Các nước đang phát triển đã và sẽ tập trung chuyên môn hoá các
mặt hàng mà mình có lợi thế, nhằm thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Thứ ba, sản xuất trong nước được chú trọng và thu hút được nhiều lao động,
tạo được nhiều công ăn việc làm hơn cho người dân, đặc biệt là trong những ngành
nghề sản xuất phục vụ xuất khẩu làm tăng nhanh sự tăng trưởng của nền kinh tế và
tăng sức mua của xã hội thúc đẩy thương mại và sản xuất nội địa. Thêm vào đó,
các nước phát triển thường nhập khẩu lao động từ các nước đang phát triển và sau
thời gian làm việc cho các hãng, công ty kinh nghiệm, tay nghề và trình độ của
người lao động được nâng lên, có khả năng tiếp cận với nền công nghiệp tiên tiến,
khi trở về tổ quốc, họ sẽ trở thành nguồn nhân lực quan trọng cho phát triển đất
nước.
2.1.2. Những ảnh hưởng tiêu cực.
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, những lợi ích không nhỏ, nhận được từ
WTO, các nước đang phát triển phải đối mặt với những ảnh hưởng tiêu cực của
nó:
Thứ nhất, trong tổ chức thương mại thế giới, theo các nguyên tắc của nó, mọi
thành viên đều được đối xử như nhau, đều được hưởng mọi đãi ngộ MFN và NT,
các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các nước đều được giảm dần chính
vì vậy, thị trường tiêu thụ được mở rộng, các nước đều tập trung sản xuất theo
định hướng xuất khẩu. Các nước đang phát triển cũng không là ngoại lệ. Các nước
này đều chú trọng sản xuất các mặt hàng xuất khẩu mà mình có lợi thế so sánh và
mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất là nguyên liệu thô và các mặt hàng công nghiệp có
giá trị thấp. Tuy nhiên trên thực tế, các nước đang phát triển cũng bị buộc phải sản
xuất ra các mặt hàng có giá trị và lợi nhuận thấp đó. Các nước phát triển sử dụng
đòn bẩy thuế quan buộc các nước đang phát triển phải tập trung khai thác và xuất
khẩu hai loại hàng hoá có mức thuế thấp như nguyên liệu thô và hàng hoá bán
25