Phần 1
mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước
theo hướng công nghiệp hoá và đa dạng hoá các thành phần kinh tế theo cơ
chế thị trường. Ngành chăn nuôi từ chỗ sản xuất nhỏ với mô hình gia đình
mang tính tự cung, tự cấp đã phát triển thành mô hình trạng thái theo quy mô
công nghiệp thì các dịch bệnh do phương thức chăn nuôi công nghiệp cũng
phát triển. Song song với sự phát triển của ngành chăn nuôi công nghiệp thì
dịch bệnh cũng phát triển, đòi hỏi Nhà nước có trách nhiệm quan tâm đến
ngành chăn nuôi cũng như các loại thuốc thú y để góp phần xây dựng đất
nước ngày một phát triển.
Các loại thuốc thú y ngày nay rất phong phú và đa dạng, kể cả thuốc kê
đơn và biệt dược. Đó là một thuận lợi lớn cho những người làm nghề chữa
bệnh và phòng bệnh cho gia sóc gia cầm. Tuy nhiên, cái phong phú và đa
dạng này đôi khi làm cho những người dùng thuốc băn khoăn khi cần
quyết định chọn thuốc nhanh để cấp cứu hoặc chống dịch kịp thời cho gia
sóc, gia cầm.
Norfoxacin là kháng sinh thuộc thế hệ thứ 2 của dòng fluoroquinolon
thuộc nhóm Quinolon. Nhóm kháng sinh Quinolon tác dụng trực tiếp lên
Enzym Gyrase của vi khuẩn, qua đó làm ngưng trệ khả năng tự nhân đôi của
chuỗi xoắn kép ADN trong nhân tế bào vi khuẩn. Vì thế làm mất khả năng
sinh trưởng và phát triển của chúng. Do đặc tính tác động trên nên hoạt phổ
tác dụng của nhóm kháng sinh Quinolon rất rộng, tác dụng nên cả nhóm vi
khuẩn gram âm và gram dương.
Norfloxacin thuộc thế hệ thứ 2 của dòng Fluoroquinolon nên ngoài hoạt
phổ tác dụng rộng thì khả năng nhờn thuốc của vi khuẩn với dòng
Fluoroquinolon là vô cùng nhỏ. Chính nhờ hai đặc tính tác dụng đặc biệt này,
1
nên ngoài việc sử dụng để điều trị các bệnh thường gặp, thuốc kháng sinh
- KÐo dài thời gian tác dụng của thuốc,
- Giảm số lần phải điều trị,
- Hạn chế stress cho vật bệnh,
- Giảm giá thành điều trị.
Trong năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu của thị trường, Xưởng Sản
xuất Thực nghiệm thuốc thú y - Viện Thó y đã nghiên cứu bào chế thành công
thuốc kháng sinh Norflox-D-10% dạng nhũ dầu. Để đánh giá độ an toàn, tác
dụng và hiệu lực của thuốc, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ''Nghiên
cứu khảo nghiệm, đánh giá độ an toàn, tác dụng và hiệu lực của chế phẩm
kháng sinh nhũ dầu Norflox- D-10% trong phòng chống dịch bệnh ở gia
sóc, gia cầm''.
*Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá độ an toàn của thuốc kháng sinh dạng nhũ tương Norflox-
D-10%
- Xác định thời gian tác dụng của thuốc trên vật bệnh
- Đ ánh giá tác dụng và hiệu lực của chế phẩm kháng sinh dạng nhũ dầu
Noflox-D-10% trong phòng chống dịch bệnh ở gia sóc, gia cầm.
3
Phần 2
TổNG QUAN TàI LIệU
2.1. Cơ sở khoa học
- Căn cứ vào kết qủa xác định thời gian bán phân huỷ (lượng tồn dư
kháng sinh trong huyết thanhl) và kết quả thử nghiệm, khảo nghiệm để xác
định quy trình và thời gian điều trị, thời gian ngưng sử dụng thuốc và điều
kiện bảo quản.
- Thử an toàn và hiệu lực bằng phương pháp vi sinh vật và sinh vật học
(trên chuột, lợn, đại gia súc và gia cầm)
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Vi khuẩn có thể kháng thuốc và quen thuốc: Khi vi khuẩn quen thuốc
thì beta - lactamin chỉ kìm khuẩn và nếu muốn có hiệu lực cao, cần phải phối
hợp kháng sinh
- Nhãm Aminoglycosid: Gồm framycetin, gentamycin, kanamycin,
neomycin, paromomycin, Streptomycin , pristinamycin và virginiamycin
. Tác dông: Thuốc diệt khuẩn có tác dụng chủ yếu trên khuẩn Gram âm,
tác dụng vừa phải với tụ cầu. Các AG không thấm qua ống tiêu hoá, dùng
tiêm bắp hoặc tĩnh mạch để chữa các bệnh không phải đường tiêu hoá. Có thể
dùng tại chỗ đường phúc mạc, bàng quang, Framicetin theo các đường này vì
nhiều độc tính.
Vi khuẩn có thể kháng các thuốc AG do giảm tính thấm của thuốc vào tế
bào vi khuẩn hoặc do vi khuẩn tiết ra men huỷ hoại AG.
- Nhãm Macrolid: Gồm erythromycin, josamycin, midecamycin,
roxithromycin, troleandromycin, spiramycin, tylosin và licomycin.
. Tác dông: Kìm khuẩn nhưng cũng diệt khuẩn trên những khuẩn nhạy nhất
(như cầu khuẩn gram dương) nếu nồng độ đủ cao, ví dụ trong viêm màng
trong tim do liên cầu, nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu, nhiễm phế cầu
5
Giữa kháng sinh của 3 nhóm: Macrolid, Phenicol và Lincosamid có tác
dụng đối kháng nhau, không dùng phối hợp được.
Nhãm Macrolid còn đối kháng với nhóm beta - lactamin nhưng lại hiệp
đồng với nhóm Aminoglycosid và với các tetracyclin.
Vi khuẩn có thể kháng thuốc: Kháng tự nhiên và kháng mắc phải.
Các Macrolid dùng thay thế khi người bệnh bị dị ứng với các beta
-lactamin. VÝ dô trong nhiễm khuẩn toàn thân do lậu cầu, viêm tai mũi họng
và dùng dự phòng cho viêm màng trong tim do liên cầu, viêm thấp khớp,
viêm màng não do màng não cầu, viêm họng do liên cầu. Khi có thai dùng
trong viêm cổ tử cung, viêm trực tràng, niệu đạo, viêm vú.
- Nhãm Phenicol: Gồm chloramphenicol, thiophenicol.
rosoxacine. Nitroimidazol: metronidazole, omidazole, và các sulfonamide.
Phân loại theo theo phổ tác dụng, theo yếu tố gây bệnh, theo mục tiêu
điều trị.
- Kháng sinh phổ hẹp: Như penicillin G, penicillin V.
- Kháng sinh phổ rộng: Như chloramphenicol, tertracyclin, amoxycilin
- Kháng sinh chống tụ cầu (antistaphylococcus): Như methicillin,
cloxacillin.
- Kháng sinh chống lao (antituberculosis, tuberculostatic drug): Như
rifamycin, streptomycin
- Kháng sinh chống NÊm (antifungal): Như grieofulvin, nystatin
2.2.1.3. Tác dụng và cơ chế tác dụng của kháng sinh.
Các kháng sinh tác dụng kìm và diệt vi khuẩn theo các cơ chế: ức chế
tổng hợp màng tế bào vi khuẩn như các penicillin, cephalosporin,
vancomycin; tác dộng đến tính thấm của màng tế bào như polymycin,
amphotericin; ức chế tổng hợp protein do tác động trên ribosom của vi khuẩn
như tetracycline, các aminoglycozit, các macrolid; làm rối loạn chuyển hóa
7
axit nucleic như rifamycin, axit nalidixic; chống chuyển hóa (antimetabolite)
như sulfamide, trimethoprim
Các kháng sinh có phổ tác dụng khác nhau; ngay trong cùng một nhóm,
một họ cũng có sự khác biệt như penicillin G, V có tác dụng chủ yếu trên
nhiều vi khuẩn Gram dương, trong khi carbenicillin là một penicillin bán tổng
hợp, với liều cao có tác dụng trên nhiều vi khuẩn gram âm, kể cả
Pseudomonas và Proteus.
Trong quá trình sử dụng, phổ tác dụng của kháng sinh luôn luôn bị biến
đổi vì xuất hiện các vi khuẩn kháng thuốc.
2.2.1.4 Các đường đào thải kháng sinh:
- Thải trừ thuốc qua bộ máy tiêu hoá:
Nhiều thuốc khi bài tiết không nhất thiết là thải trừ mà còn được tái hấp
Nhiều thuốc qua được biểu mô tuyến sữa theo nguyên tắc khuyếch tán
thụ động qua mang sinh học. Thuốc thải qua sữa phụ thuộc vào các yếu tố:
Sinh lý tuyến sữa của các gia sóc, liều lượng, PH…
- Thải trừ thuốc qua thận:
Phần lớn các thuốc tan trong nước được thải qua thận. Sau khi uống 5-
15 phót, thuốc đã có mặt trong nước tiểu. Sau 30- 90 phót, thuốc đạt nồng độ
cao trong nước tiểu, sau đó nồng độ thuốc giảm dần khoảng 80% hàm lượng
thuốc đã hấp thu trong máu sẽ thải trong 24 giờ đầu. Sự thải thuốc qua thận
phụ thuộc vào 3 yếu tố:
+ Lọc qua mao mạch cầu thận: Hầu hết các thuốc đều là vật lạ, nên cơ
thể tim cách loại thải qua đây trừ các chất thay thế huyết tương, chất cần bổ
sung thêm và những chất còn đang gắn với protein huyết tương.
+ Thải qua các tế bào của biểu mô cầu thận: Đ ây là quá trình vận
chuyển tích cực của thuốc. Cã 2 loại chất màng cerrier nằm ngay trên màng tế
bào biểu mô ống thận thẳng làm nhiệm vụ vẩn chuyển tích cực thuốc từ huyết
tương ra nước tiểu.
9
+ Tái hấp thu qua tế bào biểu mô ống thận: Tái hấp thu thuốc theo 2 cơ
chế, tích cực do cerrier đảm nhiệm và thụ động. Do thuốc là vật lạ nên nó
không được tái hấp thu.
2.2.1.5 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn
Khái niệm:
Cũng như mọi loại sinh vật trên trái đất, vi sinh vật cũng có quá trình
đấu tranh, sinh tồn và phát triển. Môi trường xung quanh nó luôn biến đổi
dưới áp lực của thiên nhiên hay do sự tác động của con người. Muốn bảo tồn
nòi giống buộc nó phải phát sinh biến dị, đột biến để thích nghi và tồn tại.
Trong quá trình đấu tranh giữa con người với bệnh tật, loài người đã tìm thấy
những vũ khí sắc bén hoặc đi đến tiêu diệt các bệnh nhiễm khuẩn. Nhưng sự
thật, bệnh này bị đẩy lùi thì bệnh khác lại xuất hiện, nhiều khi có phần nguy
(chromosome), gọi là những plasmides.
Đây là những vòng ADN cực nhỏ và di động. Khi vi khuẩn chết đi, các
plasmides này sẽ được thải vào môi sinh, và từ đó nhiễm vào các vi khuẩn
khác.
Còn đối với siêu vi (virus), chúng cần phải xâm nhập vào vi khuẩn để
trích lấy plasmides và đem truyền sang cho những vi khuẩn khác.
2.2.1.6. TÝnh kháng thuốc của vi khuẩn.
Có nhiều kiểu kháng thuốc:
- Kháng tự nhiên (natural resistance) như Pseudomonas kháng penicillin.
- Kháng nguyên phát (primary resistace) xuất hiện ngẫu nhiên cá biệt
giữa một quần thể vi khuẩn vốn nhậy cảm với kháng sinh mà chư hề tiếp súc
với kháng sinh đó.
- Kháng thứ phát: Sự phát triển tính kháng thuốc của vi khuẩn liên quan
đến việc biến đổi di truyền, kế thừa từ thế hệ này qua thế hệ khác, và vì vậy vi
khuẩn có thể kháng với thuốc do đột biến (mutation), chuyển di truyền
(transduction) từ vi khuẩn này đế vi khuẩn khác qua trung gian thực khuẩn
thể, biến đổi gen (transformation) qua ADN, tiếp hợp (conjugation) kiểu giao
11
phối, liên quan đến yếu tố kháng (resistance factor-RF) là một đoạn của ADN
ngoài nhiễm sắc thể (plasmid hoặc episom) mang thông tin kháng thuốc và
yếu tố chuyển kháng (resistance transfer factor-RTF) cũng là một đoạn ADN.
Theo Yves Millemann, (2005) [9]: Vi khuẩn có sức kháng thu được
liên quan với một đột biến làm thây đổi mục tiêu của kháng sinh hoặc với một
sơ đồ chuyển hoá. Sù thu được này cơ thể là hậu quả của sự chuyển ngang
bao gồm cả giữa các loài xa nhau về chủng
Tại sao vi khuẩn kháng được thuốc? Hiện tượng kháng thuốc có thể xảy ra
theo mét trong những cơ chế sau đây:
- Làm thay đổi mục tiêu tác động của thuốc trên vi khuẩn.
- Vô hiệu hóa thuốc bằng enzyme beta lactamase
cần thiết, chóng cung cấp vitamin thuộc nhóm B, vitamin K giúp cơ thể tiêu
hoá chất xơ và cung cấp cho bò cai sữa một số axit hữu cơ
- Những thuốc kháng sinh có hoạt phổ rộng, đảo lộn quần thể vi khuẩn
này, nhất là streptomycin và tetracyclin, trực trùng coli, clostridium, liên cầu
khuẩn thì biến đi còn proteus, pseudomonas aeruginosathì phát triển mạnh.
Ở loài nhai lại tiêu hoá bị đảo lộn bằng triệu chứng chán ăn, khó tiêu. Vì
vậy sau khi chữa thuốc kháng sinh, nên cho chúng uống những vi khuẩn tiêu
xơ, vi khuẩn lactic để cấy lại vi khuẩn vào dạ cỏ.
Các vi khuẩn có chức năng tổng hợp các vitamim B mà bị diệt thì bệnh
súc sẽ bị thiếu một hoặc nhiều lạo vitamin B, cho uống vitamin chỉ đạt Ýt kết
quả vì phần lớn vitamin đưa vào đã bị quần thể vi khuẩn mới hình thành
chiếm đoạt. Trong trường hợp này cũng phải cấy lại vi khuẩn vào dạ cỏ bằng
cách cho bệnh súc ăn sữa chua, sữa đôn hoặc uống nhưng vi khuẩn được nuôi
một cách chọn lọc
13
Các phản ứng dị ứng miễn dịch phần lớn nhẹ, xẩy ra ở ngoài da, nhưng
có những phản ứng tăng cảm, phản vệ rất nguy hiểm (các betac -lactam,
clindamycin, lincomycin).
Các phản ứng gây thương tổn gan (Beta-lactam, Tetracycline,
Lincomycin, Gentamycin, Rifampicin), các phản ứng gây thương tổn ở thận
(các aminoglycozit, macrolid, polypeptit, sulfonamide); các tai biến ở thận
thường đi đôi với các tai biến ở tai (ototoxicity).
Các phản ứng về máu và sinh máu: Từ thiếu máu, thiểu máu, tan máu,
giảm huyết cầu (mất bạch cầu hạt rất nguy kịch) đến suy tủy.
Các phản ứng gây tai biến tiêu hóa, mà quan trọng là viêm ruột non kết
màng nhầy.
2.2.1.8. Tương tác của thuốc kháng sinh
Phối hợp kháng sinh được phối hợp trong các trường hợp sau nhằm làm
giảm khả năng xuất hiện chủng vi khuẩn kháng thuốc. Với kiểu kháng thuốc
- Bảo quản không tốt làm thuốc biến chất.
- Vi khuẩn kháng thuốc
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, hầu hết các kháng sinh dạng nhũ dầu đều phải nhập ngoại với
giá thành rất cao, xong ở nước ta chưa sản xuất ra để đáp ứng nhu cầu thị
trường.
Số liệu của viện Thó y Mỹ, lượng kháng sinh được sử dụng trong chăn
nuôi ở Mỹ năm 1999 là khoảng 20, 42 triệu Pao (9270 tấn), trong đó kháng
sinh nhóm Tetracycline (15,67%), Penicillin (4,26%), và các loại khác
(32,57%).
Theo số liệu của Ghislain Follet,( 1997) [10 ] tổng lượng kháng sinh
dùng trong dân y và chăn nuôi ở các nước châu Âu là 10500 tấn (qui theo
mức 100q% tinh khiết của các thành phần hoạt tính), trong đó 52% sử dụng
trong dân y, 33% trong điều trị thú y và 15% như chất bổ sung trong thức ăn
chăn nuôi. Trong đó, tỷ lệ các loại kháng sinh được sử dụng trong chăn nuôi:
Penicillin 9%, Tetracycline 66%, Macrolide 12%, Aminoglycoside 4%,
Fluoroquinolone 1%, Trimethomprim/sulpha 2% và các kháng sinh khác 6%.
16
Theo Yves Millemann,(2005)[9] cho biết:
Biểu đồ 2.1: Tổng kháng sinh dùng trong năm 1997
Biểu đồ 2.2: Tổng kháng sinh dùng trong năm 1999
Trong đó: Năm 1997 tổng số kháng sinh dùng là 12,752 tấn, năm 1999
tổng số kháng sinh dùng là 13,216 tấn
17
Chất bổ sung không dùng giống như các kháng sinh " cổ điển" mà dùng
liều rất thấp, với mục tiêu không phải là kháng sinh chữa bệnh mà là kích
thích chăn nuôi
Nhiều thuốc kháng sinh dùng chữa bệnh rất hiệu quả. Một số nghiên
fluoroquinolon, mặc dù không còn phát hiện được nồng độ thuốc.
2.2.2 Tương tác thuốc:
Một vấn đề cần chú ý với kháng sinh nhóm fluoroquinolon là chúng có
khả năng gắn với các cation hóa trị hai và hóa trị ba ở những mức độ khác
nhau, là vấn đề cũng gặp khi dùng tetracyclin.
Các chất chống acid, sắt bổ sung, và ngay cả các vitamin cùng với muối
khoáng như kẽm và calci có thể gắn và làm giảm tới 90% sinh khả dụng
đường uống của kháng sinh quinolon. Sắp xếp giờ uống thuốc sẽ ngăn ngừa
sự gắn kết trong dạ dày. Ngoài ra, không nên bỏ qua những thuốc có chứa
cation hóa trị 2 và hóa trị 3. (www. Khoahoc.net) [19].
2.2.3 Những phản ứng có hại:
Các fluoroquinolon có khá Ýt tác dụng phụ và độc tính. Cã hai điều cần
chú ý khi dùng các kháng sinh này. Do đã thấy những dị dạng sụn ở động vật
non dùng quinolon ở liều lớn gấp nhiều lần liều dùng cho người, nên người ta
khuyên không dùng thuốc cho trẻ em dưới 16 tuổi. Nói chung, không nên
dùng thuốc cho trẻ em, mặc dù nhiều trẻ dùng Fluoroquinolon không bị tổn
thương sụn. Người ta cũng chú ý tới tình trạng đứt gân có liên quan tới
những liệu trình Fluoroquinolon ngắn ngày.
Tóm lại, fluoroquinolon là những kháng sinh mới. Mỗi thế hệ mới lại
được bổ sung thêm một tác nhân gây bệnh vào phổ tác dụng. NÕu các
fluoroquinolon được sử dụng thận trọng, chúng sẽ tiếp tục là những thuốc
quan trọng trong điều trị nhiễm vi khuẩn hiếu khí gram âm và gram dương.
2.2.4 Phân loại
Có thể chia làm 4 nhóm sau:
19
- Thế hệ 1: Gồm Axit Nalidixic và Cinoxacin chỉ được dùng trong điều
trị nhiễm trùng đường tiết niệu không biến chứng. Hiện nay, việc sử dụng
thuốc này bị hạn chế do vi khuẩn kháng thuốc.
- Thế hệ 2 hay Fluoroquinolon: Gồm Ciprofloxacin, Enoxacin,
khi vẫn giữ được hoạt tính chống gram âm và gram dương của các
fluoroquinolon thế hệ 3. Thuốc cũng có tác dụng chống Pseudomonas tương
đương ciprofloxacin. Nồng độ trovafloxacin trong huyết thanh tương đương
với nồng độ sau khi tiêm tĩnh mạch alatrofloxacin hoặc uống trovafloxacin
(www.duochanoi.com) [14]
2.2.5. Norfloxacin
2.2.5.1. Hoá tính
Là 1 kháng sinh tổng hợp mới thuộc thế hệ 2 của nhóm các Quinolon.
Norfloxacin có cấu trúc hoá học là 1- Etyl- 6- fluoro- 1,4- đyhdro- 4- oxo- 7
(1- piperazinyl) 3 quinolon cacboxylic axit. Có tên khác: Noracin, Norocin,
Nolicin, Floxacin, Uroxacin.
Có công thức C
16
H
18
FN
3
O
3.
2.2.5.2. Lý tính
Norfloxacin là một sản phẩm chuyển hoá của axit Nalidixic, được khám
phá từ năm 1963. Dạng bột kết tinh màu vàng trắng hoặc trắng sáng. Tan Ýt
trong ethanol, methanol và nước, hót Èm, là kháng sinh tổng hợp thuộc nhóm
Fluoroquinolon thế hệ thứ 3 của Quinolon, chuyển hoá thải trừ qua thận 50-
60%. Thấm tốt qua nước tiểu, ống mật, tử cung, cơ thận.
Theo Bùi Thị Tho, ( 2003) [7]. Norfloxacin là chất bột nhẹ, màu trắng
hay hơi vàng. Nhạy cảm với ánh sáng và đổ Èm. Thuốc kém tan trong nước,
21
cồn và axeton, chlorofrom, tan trong ete, tan nhiều trong axit axetic. Trong
- Viêm dạ dày - ruột cấp do vi khuẩn nhạy cảm.
- Viêm niệu đạo do lậu cầu, viêm hậu môn hoặc viêm cổ tử cung do
Neisseria gonorrhoeae tiết hay không tiết Penicillinase.
- Phó thương hàn: Người ta đã điều trị thành công bằng liều Norfloxacin
thông thường với các nhiễm khuẩn do các vi khuẩn đa kháng.
- Trong thó y, người ta dùng Norfloxacin trong các bệnh nhiễm khuẩn do
vi trùng gram (-),đặc biệt là do đalmonella, E.coli dung huyết, Mycoplasma,
Pasteurella ở gia sóc gia cầm.
Chống chỉ định
Chỉ được dùng thịt trứng sữa sau khi ngừng sử dụng thuốc cho con vật 4 ngày
Quá mẫn với các thành phần của sản phẩm hoặc kháng sinh có gốc hóa học từ
quinolon. Theo Phạm đức Chương, Cao Văn, Từ Quang Hiển, NGuyễn Thị
Kim Lan, ( 2003) [1 ] Norfloxacin có thể làm ảnh hưởng đến sự sinh sản tinh trùng
làm cho tinh dịch không bình thường.
Các tác dụng ngoại ý thường gặp nhất là rối loạn tiêu hoá, phản ứng tâm
thần kinh và da, buồn nôn, nhức đầu, chống mặt, co thắt bụng và tiêu chảy
Các tác dụng phụ hiếm gặp (<0,1 %) nữa là chán ăn, lo lắng bồn chồn,
ù tai và chảy nước mắt.
Các tác dụng ngoại ý bất thường trên xét nghiệm hiêm khi gặp trong
các thử nghiệm lâm sàng được ghi nhận với tỷ lệ (<0.3%): Giảm bạch cầu,
giảm tiểu cầu (www.thuocbietduoc.com.vn) [41]
2.2.5.6. Liều lượng và cách sử dụng
Thuốc được dùng ở các dạng:
- Dạng bột hoà tan vào nước hoặc trộn thức ăn cho gia sóc, gia cầm
- Dạng dung dịch dùng cho uống
- Dạng dung dịch dùng để tiêm bắp thịt hay dưới da.
Nên uống Norfloxacin Ýt nhất 1 giờ trước hoặc 2 giê sau bữa ăn.
Các đa sinh tè (vitamin tổng hợp) các sản phẩm khác có chứa Fe, Zn, các
thuốc kháng axit có chứa Mg, Al hay Videx các loại viên nhai dùng để pha
24
phải theo dõi sát thời gian promthrombin hoặc các xét nghiệm đông máu thích
hợp khác.
Các đa sinh tè, sản phẩm có chứa Fe, Zn, kháng axit hoặc videxCác
viêm nhai hay bét pha dịch uống không nên dùng với Norfloxacin, hoặc
trong vòng 2 giê sau khi dùng Norfloxacin vì chúng có thể cản trở hấp thu
và làm giảm nồng độ củaNorfloxacin trong máu và nước tiểu. Một sè
Quinolon, kể cả Norfloxacin cũng ảnh hưởng tới chuyển hóa Cafein. Điều
này có thể làm giảm độ thanh lọc của Cafein và kéo dài thời gian bán thải
của Cafein trong huyết tương.
2.3. Thuốc chống viêm
Viêm là phản ứng bảo vệ của cơ thể, nhằm chống lại các yếu tố gây tổn
thương tế bào, các trường hợp nhiễm trùng Tuy nhiên, trong các trường hợp
nhiễm trùng nặng, phản ứng viêm diễn ra quá mạnh gây nên sự dãn mạch,
tăng tính thấm thành mạch, dịch viêm tiết ra quá nhiều lại có hại cho tế bào tại
vùng viêm. Vì lý do này, thuốc chống viêm được sử dụng. Do đó nên lưu ý là
không dùng thuốc kháng viêm đối với các trường hợp viêm nhẹ, như các bệnh
nhiễm trùng cục bộ, bệnh mãn tính.
2.3.1. Thuốc chống viêm steroid
Vỏ tuyến thượng thận tổng hợp các steroid khác nhau và giải phóng vào
tuần hoàn máu. Các steroid điều hoà glucose, gọi là glucocorticoid được sản
xuất ở vùng dậu (fasciculata) của tuyến thượng thận.
Glucocorticoid chủ yếu ở phần lớn gia súc là cortisol và hầu hết các loài
có vú mineralcorticoid quan trọng nhất là aldosterone. ở một số loài như
chuột cống, corticosterone là glucocorticoid chủ yếu, gắn yếu hơn đối với
protein và vì vậy chuyển hoá nhanh hơn.
2.3.1.1. Glucocorticoid
Glucocorticoid (GC) tự nhiên là hormone do tuyến thượng thận sản xuất
gồm 2 chất là Hydrocortison và Cortison.