Bộ Công thơng
tập đoàn điện lực Việt Nam
Viện năng lợng Mã số: I-150 ti 7175
17/3/2009
Hà nội - 12/2008
Ch nhim ti: ThS. Nguyn c Song
Trng phũng: Trn Mnh Hựng
Hà nội, 12-2008
Bé C«ng th−¬ng
tËp ®oµn ®iÖn lùc ViÖt Nam
ViÖn n¨ng l−îng
Mã số: I-150
Đề tài
NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ
Hà nội - 12/2008
Ch nhim ti: ThS. Nguyn c Song
Trng phũng: Trn Mnh Hựng
Vin trng: Phm Khỏnh Ton
NGHIấN CU KHO ST, NH GI
HIN TRNG NNG LC KIM TRA
TH NGHIM THIT B IN GIA DNG
IN HèNH TI VIT NAM Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 1
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 2MỞ ĐẦU
SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Việc kiểm tra, thử nghiệm các thiết bị điện và điện tử gia dụng được thực
hiện ở tất cả các nước trên thế giới. Mặt khác việc thử nghiệm và kiểm tra các
thiết bị điện và điện tử gia dụng phải tuân thủ theo tiêu chuẩn của từng quốc gia
và phả
i tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế như tiêu chuẩn IEC. Trên cơ sở đó các
nước hình thành các trung tâm kiểm định và thử nghiệm cho các thiết bị điện và
điện tử gia dụng, các trung tâm kiểm định và thử nghiệm tại các vùng. tại các
tỉnh. Bên cạnh đó thì các nhà sản xuất các thiết bị trước khi đưa ra thị trường họ
cũng phải thử nghiệm và kiểm định thiết bị của mình. Trên cơ
sở đó các thiết bị
phải được chứng nhận của quốc gia đó hoặc là phải được chứng nhận của quốc
gia mà các thiết bị đó được nhập khẩu vào. Tất cả các thiết bị điện và điện tử gia
dụng đều phải tuân thủ một quy định hết sức chặt chẽ trước khi đưa ra thị
trường.
Hiệ
n nay tại nước ta việc kiểm tra thử nghiệm các thiết bị điện và điện tử gia
Định hướng phát triển các trung tâm kiểm tra và thử nghiệm các thiết bị điện và
điện tử gia dụng
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 4BỐ CỤC NỘI DUNG ĐỀ TÀI
CHƯƠNG I: Khảo sát và đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử
nghiệm thiết bị điện gia dụng tại Việt Nam
Chương II: Đánh giá hệ thống các văn bản QPPL và tiêu chuẩn kỹ thuật
liên quan
Chương III: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực kiểm tra thử
nghiệm thiết bị điện gia dụng
Chương IV: Xây dựng hệ thống quản lý tại các cơ sở chế tạo thiết bị điện
gia dụng trong nước
Kết luận
PHẠM VI GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Trong khuôn khổ nghiên cứu ban đầu của đề tài, do điều kiện hạn chế về thời
gian và kinh phí, về số liệu thực tế thu thập, đề tài giới hạn trong phạm vi nghiên
cứu chủ y
ếu sau:
Điều tra, nghiên cứu hiện trạng năng lực kiểm tra thiết bị gia dụng điển hình là
Tủ lạnh và điều hoà không khí
Để đạt được những kết quả nghiên cứu của đề tài, chủ nhiệm đề tài thay mặt
nhóm nghiên cứu xin cám ơn sự tham gia và đóng góp ý kiến tích cực cho đề tài,
đó là các đồng nghiệp và các cộng sự, các đơn vị và cá nhân cơ quan trong
của thị trường để phấn đấu và làm thoả mãn nhu cầu cũ
ng như các yêu cầu luật
định, đặc biệt là yêu cầu về an toàn và tiết kiệm năng lượng của sản phẩm, hàng
hoá;
3. Giúp cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ quản lý
nhà nước về chất lượng sản phẩm hàng hoá.
Nằm trong xu thế chung này, sản phẩm điện, điện tử là một trong các mặt hàng
được người tiêu dùng đặc biệt quan tâm về khía cạnh an toàn khi sử d
ụng. Cũng
chính vì lý do này mà sản phẩm, hàng hoá điện - điện tử cũng thường là mặt
hàng được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tại các quốc gia đưa
vào trong nhóm các mặt hàng chịu sự quản lý chặt chẽ về an toàn. Một trong
biện pháp quản lý phổ biến thường được lựa chọn là sử dụng các kết quả chứng
nhận sản phẩm, hàng hoá phù hợp với tiêu chuẩn, quy chu
ẩn kỹ thuật do tổ chức
chứng nhận độc lập tiến hành.
II. Chứng nhận sản phẩm, hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật
Về bản chất, chứng nhận sản phẩm là hoạt động thông qua đó một tổ chức, đóng
vai trò là một bên thứ ba độc lập, đưa ra sự đảm bảo bằng văn bản rằng một sản
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 6phẩm, hàng hoá phù hợp với các yêu cầu quy định trong một tiêu chuẩn hoặc
quy chuẩn kỹ thuật. Tiêu chuẩn là tự nguyện áp dụng còn quy chuẩn kỹ thuật là
trường hợp sản phẩm là dịch vụ.
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 7Với các hệ thống chứng nhận trong Nhóm 1, mức độ tin cậy của kết quả chứng
nhận chỉ đơn thuần dựa trên kết quả thử nghiệm mẫu sản phẩm (thử nghiệm điển
hình hoặc thử nghiệm đại diện theo Lô sản phẩm) và do vậy khó đánh giá được
tính đại diện của mẫu sản phẩm cũng như khó chứng minh được cho sự
ổn định
của các đặc tính của sản phẩm vì thiếu các biện pháp giám sát. Ngoài ra, các
phương pháp này cũng không có hiệu quả vì sẽ tốn kém quá nhiều chi phí thử
nghiệm cho từng lô hàng. Chính vì lý do này mà thông thường biện pháp thử
nghiệm theo lô thường chỉ được áp dụng trong điều kiện kiểm soát chất lượng
sản phẩm, hàng hoá nhập khẩu theo từng lô và có rủi ro thấp hoặc thử nghiệm
mẫu điển hình để
kiểm tra mẫu nhất định trong kiểm tra nhà nước về chất lượng.
Các hệ thống chứng nhận thuộc nhóm 2 có đặc điểm chung là mức độ tin cậy
của kết quả chứng nhận được đảm bảo hơn vì dựa trên đồng thời kết quả thử
nghiệm điển hình và đánh giá điều kiện sản xuất trước chứng nhận. Đặc đ
iểm
này cho phép tiên lượng được khả năng duy trì ổn định các đặc tính sản phẩm đã
được xác nhận trong báo cáo thử nghiệm. Điểm khác biệt giữa các mô hình này
nằm ở việc áp dụng các biện pháp khác nhau trong giám sát sản phẩm sau chứng
nhận.
Trong các hệ thống này, có thể nhận thấy rằng nếu được áp dụng ở mức độ đầy
các biện pháp kỹ thuật. Trong các vấn đề nêu trên, rào cản kỹ thuật là một trong
những vấn đề
được WTO, APEC và các nước trong khối ASEAN đặc biệt quan
tâm. Về bản chất, rảo cản kỹ thuật không cần thiết đối với thương mại sẽ nảy
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 9sinh khi không có sự minh bạch và rõ ràng trong chính sách và quy chế quản lý
của mỗi quốc gia, không hài hòa và thống nhất về các tiêu chuẩn – quy định đối
với sản phẩm/hàng hoá và có sự không đồng đều và tương xứng về hạ tầng cũng
như năng lực của các hoạt động đánh giá sự phù hợp.
Trong ASEAN, tại Hội nghị thượng định ASEAN lần thứ VI tổ chức tại Hà Nội
- Việt Nam vào ngày 16/12/1998, các nước thành viên ASEAN đ
ã ký kết Hiệp
định khung về Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau nhằm mục đích chấp nhận hay
thừa nhận các kết quả đánh giá sự phù hợp do các tổ chức đánh giá sự phù hợp
của các nước thành viên thực hiện. Mục đích chính của hiệp định là nhằm hướng
tới việc thực hiện khẩu hiệu hội nhập về chất lượ
ng “Một lần đánh giá, cấp một
chứng chỉ và có gia trị ở mọi nơi”.
Triển khai thực hiện theo định hướng này, với mục tiêu thuận lợi hoá thương
mại, giảm chi phí và thời gian kiểm tra hàng hoá điện - điện điện tử xuất - nhập
khẩu trong khu vực, mười nước thành viên ASEAN đã thống nhất thông qua
Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau về
thiết bị điện - điện tử của ASEAN (ASEAN
phẩm, hàng hoá bắt buộc phải được kiểm soát hoàn toàn phù hợp với một tiêu
chuẩn an toàn cụ thể. CPS Scheme, được điều hành bởi SPING Singapore thuộc
B
ộ Thương mại và Công nghiệp (MTI) với vai trò là cơ quan quản lý an toàn, áp
dụng đối với 45 nhóm sản phẩm điện điện tử. Mỗi sản phẩm điện, điện tử thuộc
nhóm này đều được quy định rõ phải phù hợp với một tiêu chuẩn quốc gia
và/hoặc tiêu chuẩn quốc tế tương đương cũng như phù hợp với một số yêu cầu
đặc thù c
ủa cơ quan quản lý nhà nước (Tham khảo Phụ lục 1 về Danh sách
nhóm sản phẩm, hàng hoá điện - điện tử bắt buộc phải được quản lý tại
Singapore).
Tất cả các nhà sản xuất, nhập khẩu, bán lẻ và thương mại có liên quan đến việc
quảng cáo hoặc cung cấp bất kỳ sản phẩm điện - điện tử nào thuộc danh mục
này trước tiên
đều phải đăng ký với cơ quan quản lý an toàn như một Nhà cung
cấp được đăng ký. Sau đó, nhà cung cấp được đăng ký tiến hành đăng ký cho
từng kiểu loại sản phẩm cụ thể với cơ quan quản lý an toàn. Hồ sơ đăng ký với
phải được kèm theo một Chứng nhận về Sự phù hợp (COC) do một tổ chức đánh
giá sự phù hợp được chỉ định ban hành.
Ch
ỉ các sản phẩm đã được đăng ký chính thức mới được phép gắn dấu an toàn
(Safety Mark) và được phép quảng cáo hoặc cung cấp trong phạm vi của lãnh
thổ Singapore. Về nguyên tắc, Singapore có thể chỉ định một tổ chức đánh giá
sự phù hợp bên ngoài lãnh thổ để ban hành COC sử dụng trong hoạt động đăng
ký này theo nguyên tắc của một thoả thuận thừa nhận tương ứng như thoả thuận
ASEAN EE MRA.
IV. Trung tâm Chứng nhận Phù hợp Tiêu chuẩn QUACERT với quá trình
chuẩn bị năng lực trong việc tham gia vào ASEAN EE MRA với tư cách là
tổ chức chứng nhận sản phẩm. hàng hoá được chỉ định.
Theo ASEAN EE MRA, việc chỉ định các tổ chức chứng nhận của các nước
Công nhận Thái Bình Dương (PAC) và là một bên tham gia ký Hi
ệp định
thừa nhận đa biên của PAC hoặc là tổ chức chứng nhận tham gia trong
Chương trình đăng ký đầy đủ các Tổ chức Chứng nhận của IEC (IEC EE
FCS);
- Luôn đảm bảo được nguyên tắc độc lập, khách quan trong hoạt động
chứng nhận.
Được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường nay là Bộ Khoa học và Công
nghệ thành lập với chức năng chính là cung cấp các dịch vụ chứng nhận các hệ
thống quản lý phù hợp tiêu chuẩn quốc tế, chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu
chuẩn, Trung tâm Chứng nhận Phù hợp Tiêu chuẩn QUACERT trong thời gian
qua đã không ngừng củng cố, xây dựng và phát triển năng lực chứng nhận theo
định hướng phù hợp với các tiêu chuẩn và chuẩn mực quốc tế nhằm đảm bảo kết
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 12quả chứng nhận được thừa nhận rộng rãi đáp ứng mục tiêu “một lần đánh giá,
cấp một chứng chỉ, được chấp nhận ở mọi nơi”.
Từ năm 2001 đến nay, các hệ thống chứng nhận của QUACERT đã được tổ
chức công nhận JAS-ANZ - một trong các tổ chức công nhận có uy tín hàng đầu
trên thế giới, thành viên tham gia ký kết các hiệt định thừa nhận chính th
ức của
PAC và IAF – công nhận hoàn toàn phù hợp với các tiêu chuẩn ISO/IEC Guide
62, ISO/IEC Guide 65 và ISO/IEC Guide 66. Với kết quả này, hoạt động chứng
13các rào cản kỹ thuật không cần thiết đối với thương mại. Việc tham gia và sử
dụng tích cực thoả thuận ASEAN EE MRA là biện pháp hữu hiệu vừa tạo điều
kiện cho các nhà sản xuất nội địa tiếp cận thuận lợi hơn với thị trường tiêu dùng
sản phẩm, hàng hoá điện - điện tử trong các nước thuộc khối ASEAN vừa đồng
thời là m
ột công cụ góp phần quản lý chặt chẽ hơn việc nhập khẩu, cung cấp và
sử dụng các sản phẩm điện - điện tử trong thị trường nội địa, đảm bảo an toàn và
sức khoẻ cho người tiêu dùng.
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 14Chương II
ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
VÀ TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT LIÊN QUAN
Việc đánh giá sản phẩm, hàng hoá phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật ở
tiêu chuẩn và quy chuẩn kĩ thuật, đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 15 - Nghị định số 179/2004/NĐ-CP ngày 21/10/2004 về Quy định quản lí Nhà
nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá. Nội dung chính:
+ Quy định về xây dựng, nguyên tắc áp dụng tiêu chuẩn hàng hoá,
+ Quy định danh mục sản phẩm hàng hoá phải áp dụng tiêu chuẩn: Bộ quản lí
chuyên ngành phối hợp với Bộ KHCN công bố danh mục này,
+ Quy định chứng nhận chất lượng sản phẩm hàng hoá theo 1 trong các cách:
Thử nghiệm mẫu đi
ển hình, Thử nghiệm mẫu điển hình và giám sát mẫu thử
nghiệm lấy trên thị trường và cơ sở sản xuất, thử nghiệm mẫu điển hình và đánh
giá điều kiện đảm bảo chất lượng, thử nghiệm hoặc kiểm định toàn bộ sản phẩm
hàng hoá. Bộ quản lí chuyên ngành lựa chọn phương thức.
+ Bộ KH&CN phối hợp với Bộ quả
n lí chuyên ngành quy định sản phẩm
hàng hoá phải được chứng nhận chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn ngành hoặc
tiêu chuẩn khác.
+ Công nhận Hệ thống quản lí chất lượng: Thử nghiệm chất lượng, sản phẩm;
giám định; chứng nhận sản phẩm; chứng nhận hệ thống quản lí chất lượng.
- Quyết định số 04/2006/QĐ-BKHCN ngày 10/01/2006: Ban hành quy định
về nội dung, thủ tụ
c công bố sản phẩm, hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn, pháp quy
- Bản Công bố
phù hợp của tổ chức công bố;
- Bản sao giấy chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá với tiêu chuẩn;
- Các tiêu chuẩn và các quy định khác có liên quan;
- Bản mô tả chung về sản phẩm (tính năng, công dụng…).
Trường hợp sản phẩm, hàng hoá không bắt buộc phải công bố phù hợp, doanh
nghiệp cũng nên tự đánh giá phù hợp theo các bước sau:
- Xây dựng và áp dụng các yêu cầu về kiểm soát chất lượng;
- Tự đánh giá bằng việc thử nghiệm các mẫu;
Và sau đó tự công bố phù hợp bao gồm các nội dung:
- Bản công bố phù hợp;
- Các tiêu chuẩn liên quan trực tiếp đến sản phẩm, hàng hoá;
- Bản mô tả chung về sản phẩm, hàng hoá;
- Kết quả thử nghiệm và tiêu chuẩn thử nghiệm;
- Các văn bản khác có liên quan, như: quy trình sản xuất và hệ thống quản lí
chất lượng.
Dấu công bố phù h
ợp tiêu chuẩn phải được gắn, in hoặc dán lên sản phẩm là
đối tượng phải được công bố phù hợp tiêu chuẩn. Đây là cơ sở pháp lí để sản
phẩm, hàng hoá lưu thông trên thị trường. Đối với các trường hợp tự nguyện thì
dấu công bố phù hợp tiêu chuẩn không bắt buộc phải gắn lên sản phẩm, hàng
hoá.
III.2. Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn.
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 17
Giám định là việc kiểm tra cho việc thiết kế sản phẩm, sản phẩm, dịch vụ
(năng lực của nhà sản xuất, hoạt động của hệ thống chất lượng), quá trình hay
nhà xưởng thiết bị và xác định sự phù hợp của chúng với các yêu cầu quy định
chung hay cụ thể nào đó,. Nhà sản xuất cũng có thể qua tổ chức giám định để
xác định sự phù hợp sản phẩm của chính mình để tự công bố sự phù hợp. Công
tác giám định hoặc kiểm tra có thể là một chức năng riêng biệt hoặc có thể là
một phần của hệ thống chứng nhận. Giám định bao gồm các nội dung: chất
lượng, số lượng, giá cả. Tổ chức giám định thường hoạt động theo chuẩn mực
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 18của ISO/IEC 17020. Đây là tiêu chuẩn được chuẩn bị bởi ban châu Âu về tiêu
chuẩn hoá (CEN) và uỷ ban châu Âu về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực
điện(CENLEC) theo tiêu chuẩn châu Âu EN 45004 Sổ tay chất lượng
Sổ tay thủ tục
Các sổ tay phương pháp
Các sổ tay hướng dẫn
Các chuẩn mực cho việc kiểm định và chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm,
hàng hoá ở Việt nam đã được xây dựng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và
hiệp định TBT. Đây là điều kiện để mở rộng xuất nhập khẩu sả
n phẩm, hàng
hoá. Mặt khác nó cũng là cơ sở để các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt nam sử
dụng sản phẩm, hàng hoá trong nước.
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm
thiết bị điện gia dụng điển hình tại Việt Nam - Mã số I150
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ 20Ch−¬ng III
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC KIỂM
TRA THỬ NGHIỆM THIÉT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG
Từ năm 2005, Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng đã thực hiện
Chương trình quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa điện, điện tử nhằm đảm
bảo an toàn và quyền lợi người tiêu dùng, phát triển vững chắc ho
ạt động sản
xuất hàng điện, điện tử trong nước và tạo thuận lợi cho việc lưu thông tự do
trong khu vực.
Sau khi có Quyết định 50/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì có 13
nhóm sản phẩm điện, điện tử phải kiểm tra chất lượng và an toàn. Quyết định đó
cũng đưa ra những chuẩn mực để kiểm soát, đó chính là các tiêu chuẩn quố
c gia
TCVN và các tiêu chuẩn này được chấp nhận hoàn toàn đối với các tiêu chuẩn
quốc tế IEC về an toàn là chính. Hiện nay chúng ta đang xúc tiến các quy trình
đánh giá sự phù hợp, chứng nhận hợp quy để những sản phẩm thuộc nhóm 13
có liên quan cho phù hợp với những phiên bản mới nhất của IEC. Thứ ba và
quan trọng nhất là tạo dựng một cơ sở hạ tầng kỹ thu
ật phục vụ cho hoạt động
đánh giá, chứng nhận, kiểm định vì chúng ta cần có đầy đủ hệ thống phòng thử
nghiệm.
Về cơ bản hiện nay chúng ta có 2 phòng thử nghiệm điện, điện tử của Trung
tâm Kỹ thuật 1 (viết tắt là Quatest1 - Hà Nội) và Phòng thử nghiệm điện, điện tử
kỹ thuật 3 (Khu Công nghiệp Biên Hòa, Tp.HCM) là những phòng thử nghiệm
đủ n
ăng lực thử theo các yêu cầu của tiêu chuẩn quốc tế. Khu vực miền Trung
hiện nay có Trung tâm Kỹ thuật 2 về năng lực thử nghiệm điện, điện tử còn đang
yếu, chưa đáp ứng yêu cầu và cũng đang hoàn thiện sao cho chúng ta có ít nhất
là 3 phòng thử nghiệm đủ năng lực cần thiết.
Không chắc rằng tất cả các doanh nghiệp sản xuất thiết bị
điện, điện tử có thể
đáp ứng đầy đủ các TCVN, tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, một số thiết bị lâu
nay chúng ta tiến hành thử đều đáp ứng được. Những vấn đề liên quan đến an
toàn bao giờ cũng được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu bởi nếu xảy ra sự
cố gây tổn hại đến tài sản, con người thì nguy cơ dẫn đến "phá sản" đối với các
doanh nghi
ệp là rất cao. Hiện nay chúng ta đang áp dụng quy chế kiểm tra đối
với 13 sản phẩm. Sau khi chúng ta làm tốt đối với những sản phẩm này rồi sẽ
mở rộng sang các sản phẩm khác nữa.
Vai trò và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp liên quan
trong việc áp dụng các quy chuẩn tại địa phương là rất lớn. Trách nhiệm của các
doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến khâu phân phối hàng hoá ra thị trường, phải
tuân thủ theo nhiều quy định hết sức khó khăn.
Các Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật là một trong những vấn đề quan trọng
trong xây dựng thương hiệu sản phẩm. Từ những tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ
thuật gắt gao là cơ sở để doanh nghiệp đưa ra những sản phẩm đồng nhất, chất