LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự hưng vong
của đất nước. Kinh tế của mỗi nước giao lưu và hoà nhập này đang phát triển
theo xu thế toàn cầu. Chắc ai trong chúng ta ai cũng đã rõ song song với việc
phát triển “ xa lộ tin học” đã làm cho thế giới ngày nay dường như nhỏ bé lại,
thậm chí trở thành như một “ ngôi nhà thế giới”... do dó, thị trường từng quốc
gia trở thành thị trường nằm trong thị trường thế giưoí thống nhất. Sức cạnh
tranh của các nước trở thành cạnh tranh toàn diện.Nếu trước đây mặt chủ yếu
trong kinh tế là kĩ thuật - kinh tế thì ngày nay là kinh tế - xã hội. đòi hỏi nâng
cao mặt xã hội trong kinh doanh đang được thể chế hoá ở nhiều nước. Ta biết,
xu hướng thống nhất lợi ích công ty với lợi ích quốc gia, liên quốc gia đã trở
thành một trong những tiêu chuẩn quan trọng để thẩm định dự án đầu tư.
Hiện nay trong lĩnh vực quản trị kinh doanh đang có sự thay đổi sâu sắc về
hai mặt: một là, quản lý dựa trên kinh nghiệm được thay thế bằng quản lý dựa
trên khoa học; hai là,đang diễn ra cuộc cách mạng trong các cơ quan quản lý (
cách mạng văn phòng ): về mặt thay đổi cơ sở vật chất kỹ thuật của quản lý và
tiêu chuẩn mới về nhân sự quản lý. Bởi vậy có thể nói thế kỷ XXI là thế kỷ
của con người, của nhân tài chiếm ưu thế sẽ thay thế cho kinh tế phát triển. Vì
rằng trong những thế kỷ tới, vấn đề nắm vững kỹ thuật và vấn đề nhân tài là
những nhân tố thực sự chiếm ưu thế. Ba yếu tố kỹ thuật, tri thức và trí tuệ sẽ
làm cho nhà quản lý giỏi, nhà quản lý tài ba trở thành nhân tố quan trọng nhất,
then chốt nhất của sự phát triển kinh tế của thế kỷ XXI.
Trong thực tế, các nhà quản lý kinh doanh của chúng ta chưa được chuẩn bị
đầy đủ cả về mặt chi thức, kĩ năng, cả về mặt tâm lý để bước vào cơ chế thị
trường. Hầu như các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
chưa có được một chiến lược kinh doanh dài hạn hướng vào những thị trường
mục tiêu đã được nghiên cứu kỹ với những nét độc đáo về công nghệ, sản
phẩm về phong cách quản lý cũng như kinh doanh.
Chính vì lý do thiết thực đó, nên em chọn đề tài : “ Những đòi hỏi đối
với nhà quản lý doanh nghiệp và phương sách thoả mãn những đòi hỏi ấy
trong điều kiện của nước ta ”. Để có thể giúp được một phần nhỏ bé của
Như vậy, hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể, khách thể, mục
tiêu, phương pháp và công cụ quản lý. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân,
Công
cụ
Chủ thể
quản lý
Khách thể
Quản
Phương
pháp
Mục tiêu
một nhóm hay một tổ chức. Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ
thể quản lý tới khách thể. Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh (ngôn ngữ hay
phi ngôn ngữ), quyết định (thông qua văn bản hoặc bằng văn bản), các văn
bản luật, chính sách chương trình, mục tiêu... phương pháp có thể hiểu là cách
thức tác động của chủ thể đến khách thể. Trong quản lý hiện đại,phương pháp
quản lý được đúc kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học xã hội và
khoa học hành vi.
Mặt khác, quản lý được quan niệm theo hai góc độ:
- Theo góc độ chính trị - xã hội rộng lớn, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa
tri thức với lao động. Vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù
hợp. Cơ chế đúng, hợp lý thì xã hội phát triển, ngược lại xã hội phát triển
chậm hoặc rối ren.
- Theo góc độ hành động, quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.
Theo C.Mác, quản lý (quản lý xã hội) là chức năng đặc biệt được sản sinh ra
từ tính chất xã hội hoá lao động. Nó có tầm quan trọng đặc biệt, vì mọi sự
phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua
quản lý con người điều khiển con người. Người viết: “ bất kỳ một lao động xã
hội hay một cộng đồng nào được tiến hành trên qui mô tương đối lớn cũng
đều có sự quản lý...”
họ có xu hướng khám phá mạo hiểm, nhất là khi xuất hiện cơ hội. Các nhà
lãnh đạo quan tâm đến ý tưởng và họ quan hệ với mọi người theo trực giác và
sự đồng cảm.
Như vậy, không phải là một nhà lãnh đạo nào cũng là nhà quản lý và ngược
lại, không phải nhà quản lý nào cũng có vai trò lãnh đạo. Trong tổ chức nào
cũng có thể có sự tồn tại vai trò lãnh đạo chính thức của các nhà quản lý hoặc
không chính thức (của các cá nhân không phải là những nhà quản lý như các
thủ lĩnh nhóm, những người có uy tín về phẩm chất và năng lực chuyên
môn...), trong khi không thể có sự quản lý không chính thức, vì tất cả các nhà
quản lý đều được trao quyền lực (quyền lực địa vị) để thi hành chức năng
quản lý, bất kể họ có thể hiện được vai trò lãnh đạo của mình không. ở nước
ta, trong một thời gian dài trước đây, có nơi, có lúc trong các hoàn cảnh nhất
định đã có sự nhầm lẫn chức năng và nhiệm vụ giữa quản lý và lanhx đạo, vai
trò lãnh đạo của cá nhân và của tổ chức cũng chưa được phân biệt rành mạch.
3. Công việc của nhà quản lý:
Với tư cách là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong việc duy trì và
phát triển của một tổ chức, người quản lý phải thực hiện bốn nhóm chức năng
sau:
- Lập kế hoạch: Là khởi điểm của một quá trình quản lý. Để thành công các tổ
chức cần phải lập kế hoạch. Các thành viên trong tổ chức cần có mục tiêu và
kế hoạch để đạt được mục tiêu đó. Lập kế hoạch là quá trình vạch ra các mục
tiêu và quyết định phương thức đạt được mục tiêu. khả năng thực hiện chức
năng lập kế hoạch dựa trên các kỹ năng nhận thức và ra quyết định của
nguươì quản lý.
- Tổ chức: Một nhà quản lý cũng phải biết thiết kế và phát triển một hệ thống
tổ chức để thực hiện các kế hoạch. Tổ chức là một quá trình phâncông và phối
hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã được vạch ra.
Nhà quản lý là người phân bổ và sắp xếp các nguồn lực. Một phần quan trọng
trong việc phối hợp các nguồn nhân lực là phân công các công việc và nhiệm
vụ khác nhau cho các thành viên trong tổ chức.
toàn và không ngần ngại bôcj bạch ý kiến của mình. Không có các kỹ năng về
con người và giao tiếp không thể trở thành một nhà quản lý giỏi được.
c. Các kỹ năng nhận thức và ra quyết định: Là khả năng hiểu được các ý tưởng
trừu tượng, là khả năng thấy được bức tranh khái quát và những nhân tố chính
cũng như các mối quan hệ giữa chúng trong mỗi hoàn cảnh và lựa chọn được
những biện pháp thay thế để giải quyết các vấn đề.