Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mức Độ Ô Nhiễm Nguồn Nước Và Sự Xâm Nhập
Các Chất Phóng Xạ Vào Cơ Thể Người Theo Bản
Chất Và ĐẶc Điểm Các Dị Thường Phóng Xạ.
Mức độ ô nhiễm và sự xâm nhập các chất phóng xạ, nhất là chất phóng xạ
urani, vào cơ thể người phụ thuộc vào bản chất và hoạt độ dị thưòng phóng
xạ.tại các vùng dị thường phóng xạ bản chất urani có thể có sự ôi nhiễm nguồn
nước và mức độ xâm nhập các chất phóng xạ vào cơ thể người cao hơn từ 5 đến
9 lần so với vùng không có dị thường, cao hơn từ 2 đến 3 lần so với vùng dị
thường bản chất Thori.
Tác dụng sinh học của bức xạ phóng xạ đối với cơ thể người được đánh giá
bởi đại lượng liều tương đương bức xạ H(1,3):
H=Hn+Ht (1)
Trong đó :Hn là liều chiếu ngoài tỉ lệ với cường độ bức xạ gamma và beta
chiếu vào cơ thể con người, Ht là liều chiếu trong, Ht=Hp+Hd,
với Hp là liều chiêú trong gây ra do các chất phóng xâm nhập qua đường hô hấp.
Hd là liều chiếu trong gây ra do các chất phóng xạ xâm nhập qua đường tiêu
hoá.
Như vậy liều chiếu trong phu thuộc vào mức độ con người hít thở phải các
chất khí phóng xạ thoát vào môi trường và vào mức độ conngười ăn uống phải
các loại nước và thực phẩm có các chất phóng xạ. Mức độ ô nhiễm nguồn nước
và xâm nhập của các chất phóng xạ váo cơ thể người lại phụ thuộc vào tính chất
địa hoá môi trường phóng xạ, tức là phụ thuộc vào bản chất và đặc điểm của các
dị thường phóng xạ. Đó là vấn đề cần đề cần đề cập.
I. Đặc trưng địa hoá của môi trường phóng xạ.
Khả năng hoà tan và xâm nhập của các chất phóng xạ trong các dãy phóng xạ
tự nhiên Urani và Thori vào môi trường phụ thuộc vào đặc trưng địa hoá của
chúng. Thật vậy, trong đới oxi hoá, thành tạo các hợp chất của Urani hoá trị 6
(UO
2+
2
hàm lượng của nó ơ các nơi khác.
Trong khi đó các hợp chất của Thori là các hợp chất khó hoà tan nhất, trên
thực tế chúng hầu như không có mặt trong nước dưới đất cũng như nước bề mặt.
Các sản phẩm dạng khí của các dãy phóng xạ Urani là Radon và dãy Thori là
Thoron có nồng đọ khá lớn trong nước ngầm ở các mỏ quạng phóng xạ và trong
các đá có hoạt độ phóng xạ cao. Tuy nhiên do khí phóng xạ Thoron có chu kỳ
bán rã quá ngắn(Ttn=54,5 giây) nên trên thực tế chỉ có khí phóng xạ Radon(Chu
kỳ bán rã tương đối lớn TRn=3,8 ngày) Thoát và lan truyền trong lơps khí quyển
tới độ cao hàng trăm mét. Bởi vậy người dân sinh sống hoặc làm việc trong các
vùng có hàm lượng cao của Urani sẽ luôn luôn hít thở phải không khí có chứa
Radon.
II. Nội dung nghiên cứu.
Để làm sáng tỏ các vấn đề nêu trên, cần tiến hành khảo sát chi tiết môi trường
phóng xạ trên một số khu mỏ và khu dân cư nằm trên các dị thưòng phóng xạ có
bản chất khác nhau.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đó là các mỏ sa khoáng Titan có hàm lượng quặng tỉ lệ với hàm lượng chất
phóng xạ Thori và xưởng tuyển quặng Titan ven biển; Mỏ Graphit, mỏ kim loại
có sự cộng sinh cua các chất phóng xạ Urani trên địa bàn X.
Tại các khu mỏ và khu dân cư kể trên tiến hành các phương pháp nghiên cứu
môi trường phóng xạ sau:
Đo suất liều bức xạ Gamma và đo suất liều tương đương bức xạ để xác định
liều chiếu ngoài(Hn).
Đo nồng độ Rn trong không khí bằng phương pháp tấm lọc dùng máy Radon
RDA-200 của Canada và phương pháp máy dò vết Alpha để xác định liều chứa
trong do các chất phóng xạ xâm nhập qua đường ho hấp(Hp).
Dùng phương pháp phổ Gamma xác định hàm lượng U, Th, K tại mạng lưới
điểm khảo sát (phương pháp phổ Gamma mặt đất) và trong cac mẫu đá, quặng,
vật liệu xây dựng, chất thải...(phương pháp phổ Gamma phòng thí nghiệm) nhằm
Mức độ xâm nhập của các chất phóng xạ vào cơ thể người phụ thuộc vào hoạt
độ và bản chất của dị thưòng phóng xạ.
Tại các vùng có dị thường phóng xạ nồng độ TH va U trong tóc ngưòi lớn và
trẻ em tăng cao gấp nhiều lần so với vùng không có dị thường.
Tại các vùng dị thưòng bản chất urani dễ bị hoà tan vận chuyển trong đới oxi
hoá mà mức độ gây ô nhiễm nguồn nước và xâm nhập các chất phóng xạ nhất là
các chất phóng xạ urani vào cơ thể ngươi lớn gấp từ 2 đến 3 lần so với vùng dị
thưòng bản chất thori. Đặc biệt phải lưu ý là mức độ xâm nhập các chất phóng xạ
vào cơ thể trẻ em không hề thua kém so vơi người lớn. Trẻ em dễ bị tổn thuơng
hơn nên cần phải lưu ý phòng tránh hơn.
III. Kết luận
1. Các hợp chất urani hoá trị 6 trong đới oxi hoá dễ bị hoà tan và vận chuyển
trong nước, còn các hợp chất của thori khó bị hoà tan.
Bởi vậy, các vùng có hàm lượng chất phóng xạ urani cao dễ có sự ô nhiễm
nguồn nước và xâm nhập của urani vào môi trưòng.
2. Mức độ ô nhiễm nguồn nước và xâm nhập các chất phóng xạ nhất là chất
phóng xạ urani vào cơ thể con người phụ thuộc vào bản chất và hoạt độ của dị
thưòng phóng xạ. Tại các vùng dị thưòng phóng xạ bản chất urani (các khu mỏ,
các vùng chế biến sử dụng quặng ,vật liệu có chứa chất phóng xạ urani)có thể có
sự ô nhiễm nguồn nước và mức độ xâm nhập các chất phóng xạ vào cơ thể người
cao hơn từ 5 đến 9 lần so với khu vực không có dị thưòng và cao hơn từ 2 đến 3
lần so với khu vực dị thưòng phóng xạ thori.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3. Mức độ xâm nhập các chất phóng xạ vào cơ thể trẻ em tương đưong vơi
người lớn.Bởi vậy cần hết sức phòng tránh độc hại phóng xạ,tránh các tổn
thương về thần kinh, về hệ thống miễn dịch, đảm bảo sự phát triển bình thưòng
cho trẻ.
MỤC LỤC
II.Nội dung nghiên cứu.....................................................................................2