CHUYÊN ĐỀ
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CÁC BÀI LUYỆN TẬP, THỰC HÀNH, ÔN TẬP
TRONG MÔN TOÁN LỚP BỐN
A. Lí do chọn chuyên đề:
Như chúng ta đã biết, mục tiêu chung của việc dạy học các bài luyện tập thực
hành, ôn tập là củng cố nhiều lượt kiến thức học sinh mới chiếm lĩnh được, hình thành
và phát triển các kĩ năng cơ bản của môn Toán ở lớp 4 và cấp Tiểu học, hệ thống hóa
các kiến thức đã học, góp phần phát triển khả năng diễn đạt và trình độ tư duy cao ở
học sinh, khuyến khích học sinh phát triển năng lực học tập toán. Các bài tập toán
trong các bài luyện tập thực hành, ôn tập thường sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp, từ thực hành và luyện tập trực tiếp đến vận dụng tổng hợp một
cách linh hoạt hơn Vậy làm thế nào để các em lĩnh hội hết được mạch kiến thức của
tiết học một cách chủ động, tạo cho các em hứng thú học tập toán, hình thành bước
đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học. Đó cũng là lí do tôi chọn
chuyên đề “ Phương pháp dạy các bài luyện tập, thực hành, ôn tập trong môn Toán
lớp 4” . Nhằm trao đổi cùng các anh chị đồng nghiệp để tìm ra phương pháp dạy học
thích hợp, góp phần nâng cao chất lượng học dạy và học.
B. Nội dung chuyên đề:
1. Thực trạng dạy và học:
a. Về phía người dạy:
Trong nhiều năm trở lại đây việc dạy các tiết ôn tập thường mang tính áp đặt,
giáo viên là người chủ động hướng dẫn học sinh làm bài trên cơ sở gợi ý của mình,
chưa tạo cho các em cơ hội tự nhận ra các kiến thức mà các em đã học, hay tự phát
hiện ra các cách giải mới. Điều đó chưa phát huy hết được khả năng tự sáng tạo của
các em gây cho các em sự máy móc, rập khuôn, nhàm chán, không có hứng thú trong
học tập.
b. Về phía người học:
Học sinh chưa có kĩ năng tự phát hiện, giải quyết vấn đề, có thói quen trông
chờ vào sự gợi ý của giáo viên. Kĩ năng trình bày bài làm còn hạn chế.
2. Các phương pháp dạy học các bài luyện tập, thực hành, ôn tập
Không nên bắt học sinh phải chờ đợi nhau trong quá trình làm bài. Học sinh đã làm
xong bài tập nào nên tự kiểm tra hoặc nhờ giáo viên kiểm tra rồi làm tiếp theo. Giáo
viên nên chấp nhận tình trạng: trong cùng một khoảng thời gian, có học sinh làm được
nhiều bài tập hơn học sinh khác. Giáo viên nên khuyến khích học sinh khá giỏi hoàn
thành các bài tập ngay trong tiết học và giúp các bạn làm bài chậm hơn. Nói chung, ở
trên lớp giáo viên có kế hoạch cho học sinh làm hết các bài tập do giáo viên lựa chọn;
khuyến khích các em trình bày bài rõ ràng và cách giải quyết hợp lí.
Ví dụ: Khi dạy bài Luyện tập/ 83 đối với bài tập số 2 có 4 câu, ngoài câu b tất cả học
sinh trong lớp phải làm, nếu học sinh nào làm xong câu b thì có thể cho các em làm
thêm câu a. Đối với học sinh khá giỏi có thể cho các em làm thêm bài tập 3 nếu có
thời gian.
c. Tạo ra sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh
- Nên cho học sinh trao đổi ý kiến (trong nhóm nhỏ, trong cả lớp) về cách giải hoặc
các cách giải ( nếu có) một bài tập. Nên khuyến khích học sinh nêu nhận xét về cách
giải của bạn, tự rút kinh nghiệm để hoàn chỉnh cách giải của mình.
- Sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các học sinh trong nhóm, trong lớp giúp học sinh tự tin vào
khả năng của bản thân; tự rút kinh nghiệm về cách học, cách làm bài và tự điều chỉnh
những thiếu sót.
2
- Cần giúp học sinh nhận ra rằng: hỗ trợ, giúp đỡ bạn cũng có ích cho bản thân. Thông
qua việc giúp đỡ bạn, học sinh càng có điều kiện nắm chắc, hiểu sâu kiến thức của bài
học, càng có diều kiện hoàn thiện năng lực của bản thân.
Ví dụ: Khi
d. Tập cho học sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập, thực
hành
- Giáo viên nên khuyến khích học sinh tự kiểm tra bài đã làm để phát hiện điều chỉnh
những sai sót.
- Khi có điều kiện giáo viên hướng dẫn học sinh tự đánh giá bài làm của mình, của
bạn bằng điểm rồi báo cáo giáo viên.
- Động viên học sinh tự nêu những hạn chế (nếu có) trong bài làm của mình, hoặc của
D. Kết luận
Trên đây là những phương pháp dạy học các bài luyện tập, thực hành, ôn tập trong
môn Toán lớp 4, chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót. Kính mong các anh chị đồng nghiệp
góp ý để cùng nhau rút kinh nghiệm để giảng dạy tốt hơn.
Đại Quang, ngày tháng 3 năm 2015
Người viết
Nguyễn Thị Hòa (b)
4