luận văn đại học sư phạm hà nội Nghiên cứu định hướng giá trị của học sinh lớp 5 người dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuốn bản thảo Triết học (1844) Mác viết: “Con người tạo ra
hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”,
qua đó ông khẳng định vai trò hoạt động cải biến xã hội vô cùng to lớn của
con người cũng như những ảnh hưởng ngược trở lại của xã hội đang không
ngừng biến động đối với bản thân con người. Tuy nhiên, xét về mặt vai trò thì
Mác đồng thời chỉ rõ rằng: con người, bằng hoạt động lao động của mình,
sáng tạo ra xã hội, tức là con người có sức tác động mạnh mẽ đối với sự phát
triển của xã hội. Mặt khác, con người sống trong xã hội luôn hoạt động nhằm
chiếm lĩnh những “cái” mà họ cho là có ý nghĩa đối với họ - những giá trị của
xã hội. Những giá trị xã hội ấy không bất biến, tùy thời điểm, tùy hình thái
kinh tế cũng như tùy thuộc vào thể chế xã hội mà con người sẽ lựa chọn
những giá trị khác nhau. Do đó, việc con người lựa chọn những giá trị nào sẽ
kéo theo phương hướng hoạt động sống của họ, đến lượt mình, những hoạt
động này lại tác động trực tiếp tới sự phát triển của xã hội.
Ngày càng nhận thức rõ tư tưởng trên của Mác nên Đảng và Nhà
nước ta những năm gần đây đã đặt con người vào vị trí trung tâm của các
chiến lược phát triển xã hội. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn
xã hội Việt Nam đang thực hiện những bước chuyển toàn diện từ nền kinh
tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
quản lý của Nhà nước, một giai đoạn diễn ra nhiều biến động lớn về hệ giá
trị của các tầng lớp, các lứa tuổi, các ngành nghề,… Tại đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ 7, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng cương lĩnh và chiến lược
ổn định kinh tế - xã hội (1991 – 2000) trong đó đề ra mục tiêu: “Lấy việc
phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự nghiệp phát triển
1
nhanh và bền vững. Đứng trước sự nghiệp cao cả đó, giáo dục nói chung và
nhà trường sư phạm nói riêng phải nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng
yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới, tạo ra những con người đủ sức và đủ
tài để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”, “tăng

những thành tựu nhất định cả ở lĩnh vực lý thuyết lẫn phương pháp đo đạc.
Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều nghiên cứu sự hình thành định hướng giá trị ở
lứa tuổi tiểu học.
Ở Việt Nam những năm gần đây đã xuất hiện nhiều công trình nghiên
cứu về định hướng giá trị. Đặc biệt hơn, sự vận động của cơ chế kinh tế nhiều
thành phần kéo theo sự biến đổi mạnh mẽ của hệ thống định hướng giá trị của
các tầng lớp nhân dân lứa tuổi thanh thiếu niên, trưởng thành – những lứa tuổi
đang tác động trực tiếp đến sự phát triển của bộ mặt xã hội – nên đang thu hút
sự chú ý của các nhà nghiên cứu.
Nước ta gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau sinh sống, có dân tộc
chiếm đa số nhưng phần nhiều các dân tộc là thiểu số. Mỗi dân tộc mang một
đặc trưng văn hóa – truyền thống riêng nhưng đều hòa chung vào công cuộc
chuyển mình vĩ đại của đất nước trên lĩnh vực kinh tế và cả trên lĩnh vực các
hệ thống giá trị. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, những yếu tố văn hóa –
truyền thống khác biệt này sẽ tạo nên đặc trưng hình thành, biến đổi hệ thống
giá trị riêng của mỗi dân tộc. Đặc biệt là đối với các dân tộc sinh sống tại Tây
Nguyên, một địa bàn hiện nay đang được coi là điểm nóng về vấn đề dân tộc
với các sự kiện diễn biến hòa bình do các thế lực thù địch gây ra.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Nghiên cứu định hướng
giá trị của học sinh lớp 5 người dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài
luận văn thạc sĩ tâm lý học.
3
2. Mục đích nghiên cứu
Phát hiện một số biểu hiện về định hướng giá trị của học sinh lớp 5
người dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất phương
hướng tác động giáo dục hình thành định hướng giá trị phù hợp.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Định hướng giá trị của học sinh lớp 5 người
dân tộc thiểu số.
- Khách thể nghiên cứu: 300 học sinh lớp 5 người dân tộc thiểu số (Ê

các em học sinh là người dân tộc đa số (dân tộc Kinh) cùng độ tuổi đang học
tại các trường tiểu học ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp thử nghiệm tác động
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ
CỦA HỌC SINH LỚP 5 NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI ĐẮK LẮK
1.1. Điểm một số công trình nghiên cứu về định hướng giá trị
Trào lưu nghiên cứu giá trị bắt đầu từ thời cổ đại với các triết gia Platon
(427 - 347 TCN), Aristote (328 - 322 TCN) và Protago.
Đến thời hiện đại, tiên phong là các nhà triết học Đức I. Kant (1729 -
1804), R.H. Lốtgiơ (1817 - 1881), sau đó nhà triết học – tâm lý học người Áo
Ph. Brêtanô (1876 - 1894) tiếp nối với lý luận lấy phức hợp cảm xúc làm cơ
sở của giá trị.
Đại diện cho nửa đầu thế kỷ XX có Hácman (1910 - 1973), mở đầu cho
giá trị học hiện đại. Cho đến lúc này, vấn đề giá trị và định hướng giá trị vẫn
còn trong phạm vi nghiên cứu lý luận, chưa được tiến hành nghiên cứu trên
phạm vi thực tiễn.
Từ những năm 50, những nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị
bằng thực nghiệm đã bắt đầu được tiến hành và phát triển sâu rộng. Những
nghiên cứu thực nghiệm về giá trị trong giai đoạn đầu triển khai trên cơ sở lý
thuyết của Parsons nhằm đi tìm các “giá trị cơ bản” là những giá trị được cho
rằng một khi đã hình thành thì khó thay đổi bất chấp những rối loạn tâm lý xã
hội, do đó có thể trở thành cơ sở đáng tin cậy của kế hoạch hóa. Ở thời điểm
lúc ấy, người ta phổ biến cách suy nghĩ cho rằng giá trị là một đại lượng xác

đổi, phát triển của xã hội. Các nhà nghiên cứu tiêu biểu của hướng này là: Pê-
ta-e-min Mi-tep, Szbó Ildibó, A.I. Dontsov, I.I. Prokopev, N.A. Sukimanova,
7
L.E. Vedmedjeva, B.A. Parakhonxki, M.Kh. Titma, Fu.M. Zukov, I.V.
Imedadze.
- Hướng thứ 2: Nghiên cứu sự phát triển ý thức của thanh niên; đo
lường những chỉ báo về đời sống cá nhân, lao động, thái độ đối với những vấn
đề chính trị - xã hội; thu thập những chỉ báo về đời sống và lợi ích cá nhân.
Theo hướng này có các nhà nghiên cứu như: Anotoli Opxiannicov, A.G.
Kuznesov, Wang Lu và Xie Weihe, R. Inglehart cũng là một nhà nghiên cứu
tiêu biểu của hướng trên. Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu lớn của
các viện: Viện Hàn lâm khoa học Nga, Viện nghiên cứu thế giới của Nhật
Bản, Viện khảo sát châu Âu…
- Hướng thứ 3: Các nhà nghiên cứu theo hướng này có: N.A. Volkova,
E.F. Rubako, N.D. Sako, N.V. Rogova, B.C. Kruglov, V.I. Ginijetsinxki…
Tập trung nghiên cứu đặc điểm và sự phát triển của hệ thống định hướng giá
trị cá nhân theo các lứa tuổi khác nhau: lứa tuổi phổ thông, sinh viên và các
nhóm lứa tuổi trung gian.
- Hướng thứ 4: Nghiên cứu về mối quan hệ qua lại của các định hướng
giá trị và các đặc điểm cá nhân như N.A. Volkova, E.F. Rưbako, T.G.
Sukhanova, K.D. Safranxkaija, O.V. Iakimovich… hoặc nghiên cứu về mối
quan hệ qua lại giữa các định hướng giá trị với định hướng nghề nghiệp như
V.N. Kunjisina, Z. Ransenbakh, N.B. Njesterova…
- Hướng thứ 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của định hướng giá trị đối với sự
điều chỉnh các quan hệ qua lại trong nhóm. Điển hình có các nhà nghiên cứu:
V.I. Ginijetsinxki, R.V. Alisanskenje, L.E. Komarova, N.A. Sukimanova…
- Hướng thứ 6: Nghiên cứu giao thoa văn hóa trong tâm lý học được
các nhà tâm lý học trên thế giới đặc biệt quan tâm những thập kỷ gần đây. Nổi
bật là những nghiên cứu về vấn đề giá trị, định hướng giá trị giao thoa văn
8

Nguyễn Sinh Huy: “Định hướng giá trị và nhân văn quốc tế cho học
sinh”, tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 1 năm 1993.
Trần Trọng Thủy: “Giá trị, định hướng giá trị và nhân cách”, tạp chí
Nghiên cứu giáo dục số 7 năm 1997.
Đỗ Long: “Định hướng giá trị và sự phát triển của thế hệ trẻ”, tạp chí
Nghiên cứu giáo dục số 3 tháng 6 năm 1999.
Nhìn chung, những nghiên cứu lý luận trên hầu hết mới chỉ tiến hành
trên phạm vi hẹp, xung quanh khái niệm giá trị và định hướng giá trị cũng
như vai trò, ý nghĩa của nó.
Về phương diện nghiên cứu thực tiễn, ngay từ những năm 1987 – 1988,
Viện nghiên cứu thanh niên trong đề tài nghiên cứu về “Thực trạng gia đình
trẻ” đã đề cập đến định hướng giá trị của những cặp vợ chồng trẻ hiện nay.
Đến năm 1989, Viện xã hội học trong đề tài “Chuyển đổi về cơ cấu xã
hội và định hướng giá trị ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ” cũng đã quan tâm
đến định hướng giá trị của các nhóm xã hội có độ tuổi khác nhau ở các tỉnh
đồng bằng Bắc Bộ.
Các đề tài trên và sau đó là các đề tài: “Tình hình sinh viên” năm 1990,
“Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách đối với thanh niên” năm 1992 –
1994 cùng của Viện nghiên cứu thanh niên, đều chỉ nghiên cứu vấn đề giá trị
và định hướng giá trị một cách chung chung vì các đề tài trên gồm nhiều nội
dung khác nhau trong đó giá trị và định hướng giá trị chỉ là một nội dung nhỏ.
Những đề tài đặt trọng tâm vào vấn đề giá trị, định hướng giá trị cũng
tương đối nhiều: Năm 1993 – 1995, Đỗ Ngọc Hà nghiên cứu mâu thuẫn thế
hệ trên cơ sở tiếp cận sự khác biệt về định hướng giá trị giữa các nhóm xã hội
10
theo lứa tuổi trong đề tài “Mâu thuẫn thế hệ trong xã hội ta hiện nay – thực
trạng và giải pháp”; Đặc biệt là vào năm 1991 – 1995, nhà nước ta triển khai
chương trình khoa học cấp Nhà nước KX – 07 “Con người Việt Nam – mục
tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” đã thực hiện đề tài KX về
giá trị, định hướng giá trị. Hoặc vào năm 1998 – 2000, trung tâm nghiên cứu

Vào năm 2006 Ngô Thanh Huyền cũng nghiên cứu về “Định hướng giá
trị nghề nghiệp và tính tích cực học nghề của sinh viên trường Đại học sư
phạm thể dục thể thao Hà Tây”.
Có thể nói, trên cả 2 phương diện nghiên cứu lý luận và thực tiễn về
vấn đề giá trị và định hướng giá trị ở Việt Nam đã đạt được những thành quả
nhất định, vừa có độ sâu sắc vừa có sự phong phú. Tuy nhiên ngoài luận văn
của Nông Đình Đức có đề cập đến định hướng giá trị ở đối tượng học sinh
dân tộc thiểu số thì hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về giá trị và
định hướng giá trị ở đối tượng là học sinh tiểu học và đặc biệt là học sinh tiểu
học người dân tộc thiểu số.
1.2. Lý luận về giá trị và định hướng giá trị
1.2.1. Lý luận về giá trị
Thuật ngữ giá trị đã xuất hiện rất sớm trong vốn từ vựng của nhân loại,
tuy nhiên phải trải qua một chặng đường lịch sử dài thuật ngữ này mới xác định
được vị trí của mình với tư cách là một khái niệm khoa học. Như các khái niệm
khoa học khác, trong thời Cổ đại và Trung đại, những hiểu biết về khái niệm
giá trị và giá trị học gắn liền với người mẹ lớn Triết học. Mãi đến cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX, giá trị học mới được tách ra và trở thành một ngành khoa
12
học độc lập. Lúc này, thuật ngữ giá trị đã trở thành một khái niệm khoa học,
khái niệm trung tâm của giá trị học. Sau đó, khái niệm giá trị ngày càng được
sử dụng phổ biến trong các ngành khoa học như Triết học, Kinh tế học, Xã hội
học, Giáo dục học, Đạo đức học… các ngành khoa học xã hội nói chung.
Có lẽ chính việc sử dụng khá rộng rãi khái niệm giá trị như thế đã khiến
cho người ta khó mà đi đến chỗ thống nhất với nhau về một khái niệm giá trị.
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm giá trị được đưa ra trên cơ sở các quan điểm
khác nhau và các cách tiếp cận khác nhau. Nhưng nhìn chung, vẫn có thể khái
quát các khái niệm giá trị được đưa ra đó theo 3 hướng chính:
• Hướng nghiên cứu thứ nhất: Tiếp cận khái niệm giá trị theo
hướng từ nguyên học

nghĩa của “giá trị”:
1) Là một phạm trù kinh tế của sản xuất hàng hóa, biểu hiện một số lao
động trừu tượng của xã hội đã hao phí vào việc sản xuất ra hàng hóa.
2) Phẩm chất tốt hay xấu, tác dụng lớn hay nhỏ của sự vật hoặc con người.
3) Phẩm chất tốt đẹp, tác dụng lớn lao.
Hay như trong Từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng chủ biên (1999) có
viết về khái niệm định hướng giá trị như sau:
1- Cơ sở tư tưởng, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, giúp chủ thể đánh giá
thực tại xung quanh và định hướng trong thực tại đó;
2- Phương pháp phân loại các khách thể của cá nhân theo giá trị của chúng.
Đây là hướng nghiên cứu chủ yếu nhằm đưa ra khái niệm giá trị một
cách chung chung nhất, phổ thông nhất, khái quát nhất mà một khái niệm có
14
thể có được. Tiếp cận theo hướng này chỉ phân tích được ý nghĩa của thuật
ngữ chứ chưa nêu lên được bản chất của “giá trị”.
• Hướng nghiên cứu thứ hai: Nghiên cứu nội hàm khái niệm giá trị
Nếu cấu trúc giá trị bao gồm các thành tố: Khách thể, chủ thể và mối
quan hệ giữa chúng được biểu hiện bằng sơ đồ dưới đây:
Mối quan hệ
Sơ đồ 1.1. Các thành tố của giá trị
Thì trong hướng nghiên cứu này lại chia ra làm 3 nhóm nghiên cứu nhỏ
hơn, tập trung lần lượt vào 3 thành tố trong cấu trúc của sơ đồ ấy:
- Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh tính khách thể của giá trị
Theo hướng nhấn mạnh tính khách thể hay khách quan của giá trị, các
nhà nghiên cứu chủ yếu định nghĩa giá trị dựa trên lợi ích của các sự vật –
hiện tượng, các quá trình, ý tưởng… mà chúng trực tiếp thỏa mãn nhu cầu và
mối quan tâm của con người. Cụ thể như sau:
Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: “Giá trị là những sản phẩm hoạt
động sáng tạo của con người qua các thời kỳ phát triển lịch sử xã hội, nó có
chức năng định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con người, đảm

biểu của hướng nghiên cứu này. Trần Trọng Thủy quan niệm: “Giá trị là một
hiện tượng xã hội điển hình biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và
quan hệ của hiện thực, các tư tưởng chuẩn mực, mục đích lý tưởng, các hiện
tượng của tự nhiên và xã hội được con người tạo ra hoặc không được con
người tạo ra, nhưng đều phục vụ cho sự tiến bộ xã hội và phát triển cá nhân
con người”[7, tr 26]. Còn Nguyễn Kế Hào lại hiểu: “giá trị được hiểu là cái
làm cho sự vật và hiện tượng với thuộc tính vốn có của nó trở nên có ích lợi,
có ý nghĩa, là đáng quý đối với cá nhân, nhóm người hoặc xã hội”[14, tr 4].
16
Một ví dụ nữa cho hướng nghiên cứu này là khái niệm giá trị do M.M.
Rozental (chủ biên) đưa ra trong cuốn Từ điển triết học của Liên Xô: “Giá trị
- những định nghĩa về mặt xã hội của khách thể trong thế giới xung quanh,
nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của các khách thể ấy đối với con
người và xã hội (cái lợi, thiện và ác, cái đẹp cái xấu nằm trong những hiện
tượng của đời sống xã hội hoặc tự nhiên)”[25, tr 52].
Nhóm định nghĩa theo hướng nghiên cứu này đã nhấn mạnh giá trị
khách quan của những sự vật – hiện tượng của thế giới xung quanh cũng như
ý nghĩa của nó đối với chủ thể.
- Nhóm nghiên cứu nhấn mạnh mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể
Các nhà nghiên cứu theo hướng này xem giá trị như là một dạng quan
hệ có ý thức đặc biệt giữa chủ thể và khách thể, mà mấu chốt là thỏa mãn
những nhu cầu và lợi ích của chủ thể.
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là I.T. Phrolov, ông nhấn mạnh:
“Giá trị là một dạng đặc trưng biểu hiện mối quan hệ giữa chủ thể và khách
thể, trong đó tính chất của khách thể được đánh giá tương ứng với việc thỏa
mãn những nhu cầu của chủ thể”[7, tr 27-28].
Tác giả Lê Đức Phúc đưa ra quan niệm: “Giá trị là cái có ý nghĩa đối
với xã hội, tập thể và cá nhân, phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể được
đánh giá xuất phát từ điều kiện lịch sử - xã hội thực tế và phụ thuộc vào trình
độ phát triển nhân cách. Khi đã được nhận thức, đánh giá, lựa chọn, giá trị trở

tưởng và mục đích dự kiến”[7, tr 26].
Hay như I.S. Nherxki cũng đưa ra quan niệm: “Trong sự phát triển cao
nhất của mình, giá trị chính là những lý tưởng của xã hội và trên cơ sở này cả
trong hoạt động cá nhân của con người”[7, tr 28-29].
18
V.B. Olsanxki định nghĩa: “Giá trị - đấy là những biểu hiện khái quát
và bền vững về những phúc lợi ưa chuộng và các cách thức chấp nhận chúng,
trong đó tập trung kinh nghiệm trước đây của chủ thể và trên cơ sở đó thông
qua những quyết định về hành động tiếp theo của nó”[7, tr 29].
Còn theo Kluckholn thì “Giá trị là quan niệm về điều mong muốn đặc
trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc chọn
các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động”[11, tr 114].
Phạm Minh Hạc cho rằng khái niệm giá trị trong giá trị học có quan hệ
chặt chẽ với khái niệm chủ thể, tính chủ thể. “Tính chủ thể biểu hiện rõ nhất ở
tính mục đích của hành động, mà mục đích của hoạt động bao giờ cũng là làm
sao đạt tới cái mà mình coi nó là giá trị đối với bản thân. Từ đó, có thể đi tới
định nghĩa: giá trị là cái quy định mục đích của hoạt động”[8, tr 150].
Còn I.M. Popova nhận định: “Giá trị nên hiểu rằng, là những biểu
hiện khái quát (biểu hiện giá trị), hiện lên như những lý tưởng xã hội,
những sắc thái đa dạng của nhận thức của xã hội và cá nhân, thực hiện
chức năng như những tiêu chuẩn lý tưởng để đánh giá, định hướng nhân
cách và xã hội”[7, tr 29].
Theo hướng định nghĩa này, khẳng định giá trị là những dạng thành tố
đặc biệt của nhận thức con người, được thể hiện trong cấu trúc nhận thức của
xã hội của con người bằng những lý tưởng; khái quát hóa bằng những biểu
tượng về các phúc lợi được ưa chuộng và các cách thức chấp nhận chúng;
những tiêu chuẩn lý tưởng để đánh giá định hướng cho nhân cách và xã hội.
Bản thân ý thức của con người không tạo ra giá trị, tính chủ thể ở đây phải
được hiểu rất rộng, từ nhu cầu, động cơ đến các hoạt động, như một số định
nghĩa coi giá trị như là những động cơ và nhu cầu cơ bản của con người.

nó có quan hệ với các khái niệm này. Tuy nhiên, việc nghiên cứu khái niệm
giá trị theo hướng phân biệt nó với các khái niệm liên quan khác chỉ đem lại
kết quả là định biên cho khái niệm giá trị chứ vẫn chưa nêu bật được sâu sắc
và đầy đủ bản chất của giá trị.
Như vậy, qua việc trình bày, phân tích và đánh giá các hướng nhỏ
nghiên cứu khái niệm giá trị trong hướng nghiên cứu giá trị tiếp cận nội hàm
khái niệm nói trên có thể rút ra một số kết luận sau:
- Giá trị luôn mang tính khách quan: một giá trị náo đó xuất hiện, tồn
tại hay mất đi không phụ thuộc vào ý thức của con người (chủ thể trong các
quan hệ với sự vật – hiện tượng) mà nó phụ thuộc vào chính sự xuất hiện, tồn
tại hay mất đi một nhu cầu nào đó của con người, những nhu cầu này nảy sinh
từ yêu cầu của hoạt động thực tiễn chứ không phải do ý thức của con người.
Nói cách khác, giá trị chỉ có thể tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu của con
người. Tính chủ thể của giá trị được thể hiện ở chỗ tùy theo việc con người có
hay không có nhu cầu nào đó mà một sự vật – hiện tượng đối với con người là
có giá trị hay không có giá trị. Tóm lại, giá trị mang đồng thời tính khách
quan, tính chủ thể và tính chất liên hệ qua lại giữa chủ thể và khách thể.
- Giá trị là sản phẩm của quá trình hoạt động sống của con người trong
cộng đồng xã hội nên nó có tính lịch sử - xã hội và thực tiễn chính là tiêu
chuẩn của mọi giá trị.
- Giá trị là phương tiện để con người thỏa mãn nhu cầu, lợi ích nhằm
mục đích tiến bộ xã hội và phát triển cá nhân, tức là giá trị mang lại cho con
người khả năng tự phát triển.
- Khi đã được xác định, các giá trị sẽ trở thành những tiêu chuẩn cho sự
đánh giá, sự lực chọn. Mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm
và hoạt động.
21
Có thể hiểu giá trị là những sự vật – hiện tượng của thế giới khách
quan và các thuộc tính của chúng; tồn tại trong mối quan hệ tích cực với nhu
cầu của cá nhân, nhóm, xã hội; thực hiện chức năng làm tiêu chuẩn lý tưởng

biểu hiện chính xác mối quan hệ của cá nhân trong từng trường hợp cụ thể.
Theo hướng này, I.T. Lêvưkin cho rằng: Định hướng giá trị, tức là việc
đánh giá khả năng và tình hình hiện có, để xác định các phương tiện và
phương pháp nhằm đạt những mục tiêu đã đề ra [25, tr 68].
A.V. Petrovxky và M.G. Jarosevxki cũng có cùng quan niệm: Định
hướng giá trị là phương thức chủ thể sử dụng để phân biệt các sự vật theo ý
nghĩa của chúng đối với chính mình, từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu
hướng, động cơ hoạt động. Như vậy, trong định hướng giá trị có quan hệ đến
các mặt nhận thức, ý chí và cảm xúc trong sự phát triển nhân cách [25, tr 67].
Trong quyển từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô có đưa ra định nghĩa:
“Định hướng giá trị là:
1) Cơ sở tư tưởng, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ giúp chủ thể đánh giá
thực tại xung quanh và định hướng trong thực tại đó.
2) Phương pháp phân loại các khách thể của cá nhân theo giá trị của
chúng. Định hướng giá trị hình thành thông qua sự chiếm lĩnh kinh nghiệm xã
hội và thể hiện trong các mục đích, tư tưởng, chính kiến, ham muốn… của
nhân cách. Trong cấu trúc của hoạt động con người, định hướng giá trị gắn
liền với các đặc điểm nhận thức và ý chí của nhân cách. Hệ thống định hướng
giá trị tạo thành nội dung xu hướng của nhân cách và là cơ sở bên trong của
các mối quan hệ giữa cá nhân với thực tại”[25, tr 66].
23
Hay như một số nhà tâm lí học xã hội cho rằng: Hệ thống định hướng
giá trị phản ánh hệ tưởng và văn hóa xã hội, cơ sở bên trong của những quan
hệ của con người đối với những giá trị khác nhau có tính vật chất, chính trị,
tinh thần và đạo đức. Định hướng giá trị của nhóm hình thành trong quá trình
hoạt động cùng nhau (phụ thuộc vào quan hệ của nhóm trong hệ thống các
quan hệ xã hội).
Theo hướng này, các nhà nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh định hướng
giá trị như là “mối liên hệ” phản ánh sự đánh giá của chủ thể đối với hệ thống
giá trị nằm trong kinh nghiệm xã hội hay trong nền văn hóa nhân loại. “Mối

của cá thể, ông viết: “Trong các đích có những đích mang tính đặc biệt được
hình thành trong quan hệ với các yếu tố của thực tế, có giá trị đặc biệt đối với
cá thể. Chúng tạo nên một hệ thống đích tương đối ổn định hoặc là định
hướng giá trị chi phối hành vi theo quan hệ đối với các sự vật và hiện tượng
của thế giới khách quan, đối với cuộc sống xã hội và đối với bản thân như
một thành viên xã hội”[7].
Hoặc như K.D. Davưdov với quan điểm: Định hướng giá trị là một hệ
thống các đích của cá nhân được khắc họa như quan hệ có tính lựa chọn của
cá thể đối với các giá trị. Nó tạo nên một cơ cấu nhất định có tính tổ chức
phân bậc và xác định phương hướng của cá thể.
Quan điểm của M.Kh.Titma về những định hướng giá trị cùng với các
mục đích có tính xác định hơn: “Các tiền đề của sự lựa chọn là những định
hướng giá trị, chứa đựng những mục đích mà lớp trẻ theo đuổi trực tiếp khi
lựa chọn nghề nghiệp… Chúng biểu hiện với tư cách vật mang các mục đích,
25

Trích đoạn Thực hiện nội quy trường lớp Dân tộc thiểu số 2.84 0.475 2.743 0.00* Dân tộc đa số2.930 Đặc trưng kinh tế văn hóa xã hội vùng miền Điều kiện môi trường giáo dục KHUYẾN NGHỊ TIẾNG VIỆT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status